Bài Viết Mới

Hiển thị các bài đăng có nhãn tuc ngu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tuc ngu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

Ca dao Nam bộ là một bộ phận có ý nghĩa quan trọng trong ca dao người Việt nói riêng và Văn học dân gian nói chung. Ca dao thấm nhuần trong tâm hồn con người bằng cái tình quê dung dị, hiền hòa. Với ngôn ngữ dân gian của xứ sở “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh tựa bánh canh”, người dân Nam bộ đã góp nhặt những tiếng nói ân tình cho tâm hồn người Việt bằng những hình ảnh quen thuộc mang tính biểu trưng của vùng sông nước Cửu Long.
Nổi bật ở vùng đồng bằng châu thổ Cửu Long là sự có mặt của hình ảnh cây bần, một loại cây rất gần gũi với bà con Nam bộ. Cây bần là loại cây đặc thù ở vùng đất bồi lắng phù sa này. Cây bần còn gọi là cây thủy liễu, thường mọc ven các kênh rạch hay xen lẫn trong những đám lá dừa nước. Là loại cây sống trong môi trường bùn nước, bần có rễ phụ mọc nhô lên khỏi mặt bùn. Cây bần có chức năng giữ đất rất tốt, gỗ chủ yếu dùng làm chất đốt. Hoa bần màu trắng pha chút hồng phấn, rất đẹp, cho trái. Trái bần có vị chua của phần thịt, chát của phần hạt rất thú vị. Đây cũng là món ăn “độc quyền” của bà con Nam bộ:
Muốn ăn mắm sặc bần chua
Chờ mùa nước nổi ăn cho đã thèm
Bà con Nam bộ đã dành cho cây bần một tâm tình ưu ái. Trong các câu ca dao, họ mượn hình ảnh cây bần để thổ lộ tấm lòng của mình với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, từ đó tạo nên nhận thức thẩm mỹ khá mới lạ về loài cây này.
Xuất phát từ cái tên nghe quá đói khổ- “bần” mà người Nam bộ đã đặt câu đố về nó:
Giống chi toàn là giống đực
Thiếu tứ bề cam cực chung thân ?
Từ kiếp bình sinh “thiếu tứ bề” ấy mà tác giả bình dân đã mượn trái bần để nói lên số phận hẩm hiu của người phụ nữ:
Thân em như trái bần trôi
Sóng dập gió dồi biết tắp vào đâu?
Hình ảnh “sóng dập gió dồi” thật hay vì cây bần cho trái chín vào mùa nước nổi. Vì vậy nước tràn ngập lung bàu làm cho trái bần trôi dạt theo dòng nước mà không biết sẽ về đâu.
Là thế đấy, cây bần mang số kiếp thật hẩm hiu, bị phũ phàng:
Cây bần kia hỡi cây bần
Lá xanh bông trắng lại gần không thơm
Nhiều lúc cây bần trở nên mạt hạn, tầm thường trong thể hiện của người bình dân:
Cảm thương ô dước, bời lời
Cha sao mẹ sến, dựa nơi gốc bần
Cây bần còn là cái để người ta so sánh sự sang hèn:
Không thương em hổng có cần
Trầm hương khó kiếm chớ đước bần thiếu chi
Tuy nhiên, người Nam bộ không chỉ nhìn cây bần dưới con mắt bi quan như thế. Bằng cái nhìn hào sảng và lối sống phóng khoáng, lạc quan, cây bần còn là điểm tựa cho tình yêu đôi lứa:
Làm thơ anh dán đọt bần
Dán cho hai họ Nguyễn Trần gặp nhau
Hy vọng để rồi khi tình duyên bị ngăn trở, bần lại là nơi cha mẹ phạt vạ con cái:
Phụ mẫu đánh anh quặt quà quặt quại,
Đem anh treo tại nhánh bần.
Rũi đứt dây mà rớt xuống,
Anh cũng lần mò kiếm em.
Cái tình của người dân Nam bộ là thế, yêu “xả láng”, đánh chết cũng thương. Cây bần còn là biểu vật của sự nhớ thương, là mật hiệu của tình yêu:
Chiều chiều xuống bến ba lần
Trông em không thấy thấy bần xơ rơ
Hay
Lẻ đôi em chịu lẻ đôi
Hoa tàn em cũng đợi, bần trôi em cũng chờ
Nhưng nhiều lúc những cô Hai, anh Sáu lại nghi ngại, đặt vấn đề về chuyện cưới xin:
Neo ghe vô dựa gốc bần
Em thương anh nói vậy chớ biết mình đặng gần hay không
Hay khi đã không thành duyên nợ thì:
Bần gie, bần liệt, diệc đau chờ mồi
Anh với em duyên nợ hết rồi
Đi tìm chỗ khác đừng ngồi kế em
Không chỉ vu vơ trách móc thế thôi, với cách nói như tát nước, người Nam bộ cũng mắng nhiếc:
Mồ cha thằng đốn cây bần
Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm
Nhưng đôi lúc cũng cảm thông:
Bần gie đóm đậu sáng ngời
Lỡ duyên tại bậu trách trời sao nên
Dựa vào trường liên tưởng sự vật, người dân Nam bộ đã thổi vào cây bần một luồng sinh khí có sức sống đến kỳ lạ, nó hiển hiện dạt dào trong lòng người đọc tạo nên giá trị biểu đạt phong phú. Từ đó nó tạo nên cảm hứng thẩm mỹ cho người thưởng thức.
Ngày nay, cây bần vẫn còn chiếm vị trí khá lớn bên dòng sông nước Nam bộ. Nó có một ý nghĩa lớn trong tâm hồn của người dân nơi đây. Trải bao thăng trầm của thiên nhiên, nhu cầu kinh tế, và cả tác động của con người, cây bần vẫn sừng sững trong tâm thức của người dân, gợi nhớ về một thời khai hoang vùng đất “vượn hú chim kêu” của ông cha – giúp chúng ta hiểu thêm về nền văn minh miệt vườn, nền văn hóa sông nước trù phú và ngọt ngào như lời ru từ lòng mẹ, để chúng ta sẽ thấy mình có trách nhiệm hơn với quê hương.
Bướm đeo dưới dạ cây bần
Làm sao kết nghĩa châu trần với nhau
Bướm đeo dưới dạ cây bần (2)
Muốn phân nhân ngãi, lại gần sẽ phân
Bướm bay dưới dạ cây bần,
Làm sao kết nghĩa Châu Trần với nhau.
Bởi anh đành đoạn, Đốn ngọn cây bần
Thương anh em phải sớm hôm
Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm,
Ba bốn nơi sang cả, phụ mẫu em đành gả
Em chắp tay: khoan đã chưa tới căn phần
Phụ mẫu em nói: em bất chấp tôn giáo hóa,
Đem treo cây bần cho kiến nó tha
Ba bốn nơi sang cả, phụ mẫu em muốn gả
Em chấp tay: khoan đã, chưa tới duyên phần
Phụ mẫu nói em bất tôn giáo hóa
Em trèo lên cây bần cho kiến nó bu
Cám thương ô đước bời lời,
Cha sao mẹ sến, dựa nơi gốc bần.
Cây bần kia hỡi cây bần,
Lá xanh bông thắm lại gần không thơm
Cây bần ơi hỡi cây bần
Lá xanh bông trắng lại gần không thơm.
Cây bần de đom đóm đậu sáng ngời
Lỡ duyên tại bậu, oán trời sao nên.
Cây bần soi bóng ghe nghèo
Qua sông gặp gió, em chèo giùm anh
Chặt cây dừa
Chừa cây mận
Cây bần thận
Cây bí đao
Cây nào cao
Cây nào thấp
Cây nào rập
Cây nào rà
Cây nào rách
Cây nào rời
Mồng tơi chín đỏ
Con thỏ nhảy qua
Bà già hứ hự
Bùm xùm xoạ
Rút ra tay này
Chiều chiều ngó ngọn cây bần
Thấy ba ông Địa ở trần nấu cơm
Ông kia xách dĩa lại đơm
Ông nọ ứ hự nồi cơm mới vần
Mới vần mặc kệ mới vần
Bây giờ đói bụng xúc lần ra ăn.
Mồ cha đứa đốn cây bần,
Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm.
Mồ cha ai (Trách ai nỡ) đốn cây bần
Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm
Trách ai nỡ đốn cây bần
Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm!
Trèo lên chót vót cây bần
Vái anh đi cưới vợ, cho sóng thần nhận ghe.
Trèo lên chót vót cây bần,
Vái anh đi cưới vợ cho sóng thần nhận ghe.
văn hóa

Hình Ảnh Cây Bần trong Ca Dao Nam Bộ

Tùng Phạm  |  at  22:17

Ca dao Nam bộ là một bộ phận có ý nghĩa quan trọng trong ca dao người Việt nói riêng và Văn học dân gian nói chung. Ca dao thấm nhuần trong tâm hồn con người bằng cái tình quê dung dị, hiền hòa. Với ngôn ngữ dân gian của xứ sở “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh tựa bánh canh”, người dân Nam bộ đã góp nhặt những tiếng nói ân tình cho tâm hồn người Việt bằng những hình ảnh quen thuộc mang tính biểu trưng của vùng sông nước Cửu Long.
Nổi bật ở vùng đồng bằng châu thổ Cửu Long là sự có mặt của hình ảnh cây bần, một loại cây rất gần gũi với bà con Nam bộ. Cây bần là loại cây đặc thù ở vùng đất bồi lắng phù sa này. Cây bần còn gọi là cây thủy liễu, thường mọc ven các kênh rạch hay xen lẫn trong những đám lá dừa nước. Là loại cây sống trong môi trường bùn nước, bần có rễ phụ mọc nhô lên khỏi mặt bùn. Cây bần có chức năng giữ đất rất tốt, gỗ chủ yếu dùng làm chất đốt. Hoa bần màu trắng pha chút hồng phấn, rất đẹp, cho trái. Trái bần có vị chua của phần thịt, chát của phần hạt rất thú vị. Đây cũng là món ăn “độc quyền” của bà con Nam bộ:
Muốn ăn mắm sặc bần chua
Chờ mùa nước nổi ăn cho đã thèm
Bà con Nam bộ đã dành cho cây bần một tâm tình ưu ái. Trong các câu ca dao, họ mượn hình ảnh cây bần để thổ lộ tấm lòng của mình với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, từ đó tạo nên nhận thức thẩm mỹ khá mới lạ về loài cây này.
Xuất phát từ cái tên nghe quá đói khổ- “bần” mà người Nam bộ đã đặt câu đố về nó:
Giống chi toàn là giống đực
Thiếu tứ bề cam cực chung thân ?
Từ kiếp bình sinh “thiếu tứ bề” ấy mà tác giả bình dân đã mượn trái bần để nói lên số phận hẩm hiu của người phụ nữ:
Thân em như trái bần trôi
Sóng dập gió dồi biết tắp vào đâu?
Hình ảnh “sóng dập gió dồi” thật hay vì cây bần cho trái chín vào mùa nước nổi. Vì vậy nước tràn ngập lung bàu làm cho trái bần trôi dạt theo dòng nước mà không biết sẽ về đâu.
Là thế đấy, cây bần mang số kiếp thật hẩm hiu, bị phũ phàng:
Cây bần kia hỡi cây bần
Lá xanh bông trắng lại gần không thơm
Nhiều lúc cây bần trở nên mạt hạn, tầm thường trong thể hiện của người bình dân:
Cảm thương ô dước, bời lời
Cha sao mẹ sến, dựa nơi gốc bần
Cây bần còn là cái để người ta so sánh sự sang hèn:
Không thương em hổng có cần
Trầm hương khó kiếm chớ đước bần thiếu chi
Tuy nhiên, người Nam bộ không chỉ nhìn cây bần dưới con mắt bi quan như thế. Bằng cái nhìn hào sảng và lối sống phóng khoáng, lạc quan, cây bần còn là điểm tựa cho tình yêu đôi lứa:
Làm thơ anh dán đọt bần
Dán cho hai họ Nguyễn Trần gặp nhau
Hy vọng để rồi khi tình duyên bị ngăn trở, bần lại là nơi cha mẹ phạt vạ con cái:
Phụ mẫu đánh anh quặt quà quặt quại,
Đem anh treo tại nhánh bần.
Rũi đứt dây mà rớt xuống,
Anh cũng lần mò kiếm em.
Cái tình của người dân Nam bộ là thế, yêu “xả láng”, đánh chết cũng thương. Cây bần còn là biểu vật của sự nhớ thương, là mật hiệu của tình yêu:
Chiều chiều xuống bến ba lần
Trông em không thấy thấy bần xơ rơ
Hay
Lẻ đôi em chịu lẻ đôi
Hoa tàn em cũng đợi, bần trôi em cũng chờ
Nhưng nhiều lúc những cô Hai, anh Sáu lại nghi ngại, đặt vấn đề về chuyện cưới xin:
Neo ghe vô dựa gốc bần
Em thương anh nói vậy chớ biết mình đặng gần hay không
Hay khi đã không thành duyên nợ thì:
Bần gie, bần liệt, diệc đau chờ mồi
Anh với em duyên nợ hết rồi
Đi tìm chỗ khác đừng ngồi kế em
Không chỉ vu vơ trách móc thế thôi, với cách nói như tát nước, người Nam bộ cũng mắng nhiếc:
Mồ cha thằng đốn cây bần
Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm
Nhưng đôi lúc cũng cảm thông:
Bần gie đóm đậu sáng ngời
Lỡ duyên tại bậu trách trời sao nên
Dựa vào trường liên tưởng sự vật, người dân Nam bộ đã thổi vào cây bần một luồng sinh khí có sức sống đến kỳ lạ, nó hiển hiện dạt dào trong lòng người đọc tạo nên giá trị biểu đạt phong phú. Từ đó nó tạo nên cảm hứng thẩm mỹ cho người thưởng thức.
Ngày nay, cây bần vẫn còn chiếm vị trí khá lớn bên dòng sông nước Nam bộ. Nó có một ý nghĩa lớn trong tâm hồn của người dân nơi đây. Trải bao thăng trầm của thiên nhiên, nhu cầu kinh tế, và cả tác động của con người, cây bần vẫn sừng sững trong tâm thức của người dân, gợi nhớ về một thời khai hoang vùng đất “vượn hú chim kêu” của ông cha – giúp chúng ta hiểu thêm về nền văn minh miệt vườn, nền văn hóa sông nước trù phú và ngọt ngào như lời ru từ lòng mẹ, để chúng ta sẽ thấy mình có trách nhiệm hơn với quê hương.
Bướm đeo dưới dạ cây bần
Làm sao kết nghĩa châu trần với nhau
Bướm đeo dưới dạ cây bần (2)
Muốn phân nhân ngãi, lại gần sẽ phân
Bướm bay dưới dạ cây bần,
Làm sao kết nghĩa Châu Trần với nhau.
Bởi anh đành đoạn, Đốn ngọn cây bần
Thương anh em phải sớm hôm
Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm,
Ba bốn nơi sang cả, phụ mẫu em đành gả
Em chắp tay: khoan đã chưa tới căn phần
Phụ mẫu em nói: em bất chấp tôn giáo hóa,
Đem treo cây bần cho kiến nó tha
Ba bốn nơi sang cả, phụ mẫu em muốn gả
Em chấp tay: khoan đã, chưa tới duyên phần
Phụ mẫu nói em bất tôn giáo hóa
Em trèo lên cây bần cho kiến nó bu
Cám thương ô đước bời lời,
Cha sao mẹ sến, dựa nơi gốc bần.
Cây bần kia hỡi cây bần,
Lá xanh bông thắm lại gần không thơm
Cây bần ơi hỡi cây bần
Lá xanh bông trắng lại gần không thơm.
Cây bần de đom đóm đậu sáng ngời
Lỡ duyên tại bậu, oán trời sao nên.
Cây bần soi bóng ghe nghèo
Qua sông gặp gió, em chèo giùm anh
Chặt cây dừa
Chừa cây mận
Cây bần thận
Cây bí đao
Cây nào cao
Cây nào thấp
Cây nào rập
Cây nào rà
Cây nào rách
Cây nào rời
Mồng tơi chín đỏ
Con thỏ nhảy qua
Bà già hứ hự
Bùm xùm xoạ
Rút ra tay này
Chiều chiều ngó ngọn cây bần
Thấy ba ông Địa ở trần nấu cơm
Ông kia xách dĩa lại đơm
Ông nọ ứ hự nồi cơm mới vần
Mới vần mặc kệ mới vần
Bây giờ đói bụng xúc lần ra ăn.
Mồ cha đứa đốn cây bần,
Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm.
Mồ cha ai (Trách ai nỡ) đốn cây bần
Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm
Trách ai nỡ đốn cây bần
Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm!
Trèo lên chót vót cây bần
Vái anh đi cưới vợ, cho sóng thần nhận ghe.
Trèo lên chót vót cây bần,
Vái anh đi cưới vợ cho sóng thần nhận ghe.

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Câu đố là một dạng thức sinh hoạt văn hóa dân gian của cư dân Đồng bằng sông Cửu Long. Nó phản ánh tâm tư tình cảm, thể hiện nhu cầu mong muốn thỏa mãn tri thức, nhu cầu được vui chơi, giải trí của tầng lớp nhân dân lao động. Câu đố là một dạng sáng tác phản ánh các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan giữa vật đố (lời giải) với vật được miêu tả (câu đố). Sự liên tưởng trong câu đố thường bất ngờ, dí dỏm và mang nhiều màu sắc khác nhau.
Cư dân ở Đồng bằng sông Cửu Long xưa trong quá trình lao động mệt nhọc, họ ngoài việc đờn ca, hò hát, sáng tác ca dao, còn đặt ra câu đố. Những câu đố này đã làm cho tri thức của con người không ngừng được nâng lên, đồng thời cũng giúp họ giải khuây trong quá trình lao động mệt nhọc. Đặc biệt, trong kho tàng câu đố ở Đồng bằng sông Cửu Long, câu đố được thoát thai từ ca dao khá nhiều. Người ta hay đặt câu đố trên cái nền của ca dao, hoặc là đặt câu đố theo hình thức của ca dao làm cho câu đố vần hơn, dễ thuộc hơn, hay hơn, giúp người ta dễ nhớ hơn. Điều này cũng chứng tỏ khả năng quan sát tinh tế, trí tưởng tượng độc đáo và cách vận dụng linh hoạt các thể thơ dân gian trong hệ thống câu đố của người dân lao động xưa:
Gươm vàng hai lưỡi gươm vàng
Thác thì chịu thác, chứ buông nàng không buông.
(Con Sam)
Năm thằng cầm hai cái sào
Đuổi đàn trâu trắng chui vào trong hang.
(Ăn cơm)
Cây gì có quả không hoa
Vì chưng không lá chê già, chê non.
(Cây cân)
Thân ta không mẹ không cha
Vốn không họ hàng, ở nhà người dưng.
(Cây chùm gửi)
Người dân lao động xưa ở Đồng bằng sông Cửu Long rất mê truyện Tàu. Vì vậy, từ tư tưởng, điều nhân nghĩa đến tên các nhân vật trong tiểu thuyết Tàu đều hết sức quen thuộc đối với người dân nơi đây. Chẳng những trong ca dao, hò, vè, mà ngay cả câu đố ta cũng thường bắt gặp các câu chữ Hán, những cái tên thường mang ý nghĩa có tính cách nhân vật tiểu thuyết, như Khổng Minh thì tượng trưng cho chính nghĩa, Tào Tháo là phi nghĩa…
Trên thì Gia Cát cầu phong
Dưới thời lập trận hỏa công đánh Tào
Hai bên tả hữu xông vào
Đánh cho tào chạy ngã nhào xuống sông.
(Lò rèn)
Vô thủ, vô vĩ, vô nhĩ, vô tâm
Chốn ở sơn lâm hay ăn thịt sống.
(Cái thớt)
Gió lao xao trông ngọn thảo lay
Ban ngày dạo chốn tiền đài
Tối lại nằm kề vách ngọc
Bởi thương chúa nên thân tôi cồi cộc
Gẫm mình tàn còn một nắm xương
(Cây chổi)
Phần lớn các câu đố ở Đồng bằng sông Cửu Long xưa thường xoay quanh các sự vật, hiện tượng có liên quan đến đời sống hằng ngày của con người. Đó là những công việc hàng ngày, những đồ dùng quen thuộc, những hàng cây xung quanh mình, những bờ rau, bụi cỏ…
Đầu rồng đuôi phụng loe hoe
Mùa xuân ấp trứng, mùa hè nở con.
(Buồng cau)
Thân em ở bụi ở bờ
Chồng con không có mà nhờ tiếng kêu.
(Rau má)
Ông già ngồi cạnh bờ sông
Có trăm con mắt mà không thấy đường.
(Trái khóm)
Một cột mà chín mười kèo
Vải xanh vải đỏ mà treo bốn bề.
(Cây dù)
Tròn tròn như lá tía tô
Rớt xuống ao hồ đầu ướt đuôi khô.
(Cái vá)
Chặt đầu nối nghiệp tổ tiên
Ép mỡ lấy dầu, xương thịt bỏ đi.
(Cây mía)
Hiên ngang mà đứng giữa đồng
Cầm cờ tập trận, rộn ràng tiến quân.
(Người chăn vịt)
Người nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long xưa sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, mà cuộc sống nông nghiệp thì phụ thuộc rất nhiều vào các hiện tượng tự nhiên. Vì vậy, các hiện tượng tự nhiên đã để lại một dấu ấn sâu sắc trong tâm thức của người dân nơi đây, phản ánh khá rõ trong các câu đố dân gian:
Cây cao ngàn trượng, lá rụng tứ tung
Nấu thời được, nướng thời không.
(Trời mưa)
Thoạt đẻ thì mọc hai sừng
Đến khi lưng chừng thì ễnh bụng ra.
(Trăng đầu và giữa tháng)
Xanh xanh, đỏ đỏ, vàng vàng
Bắc cầu hoa lý, nằm ngang giữa trời.
(Cầu vồng)
Đặc biệt, ở Đồng bằng sông Cửu Long, có những sự vật, sự việc, hiện tượng lại được nêu thành nhiều câu đố khác nhau. Chẳng hạn:
Cùng nói về mặt trăng thì có:
– Trên trời như lá tía tô
Đi biển, đi hồ nó cũng đi theo.
- Có ai mặt đẹp như hoa
Từ bên nước Sở sang qua nước Tần
Mười lăm, mười sáu thì về
Từ ba mươi tuổi chẳng hề vãng lai.
Cùng nói về cây xương rồng:
– Sanh ở đất, danh ở trời
Thịt da không có, sống đời cổ kim.
- Danh tôi vốn ở trên trời
Sanh ra cái cốt ở nơi dương trần.
Cùng nói về cây dừa:
– Cha mẹ có tóc, để con trọc đầu
Cha mẹ sống lâu, để con chết chém.
- Một cột nhà mà chín mười kèo
Chồng thì không có mà đeo cả đùm.
Đặc biệt, người dân ở Đồng bằng sông Cửu Long đã đặt ra những câu đố hết sức bóng bẩy, mang tính trí tuệ từ các vật bình thường. Dạng câu đố này đòi hỏi người giải phải thông minh, nhanh nghĩ và đặc biệt là phải có tri thức mới mong giải được:
Chuột kêu chút chít trong rương
Anh đi cho khéo, đụng giường mẹ hay
(Bánh bò)
Hỏi người ngồi dựa loan phòng
Tóc mây dợn sóng có chồng hay chưa?
(Bánh hỏi)
Dĩnh dịch tròn tròn, khô dòn ướt dẻo
Dù còn tí tẹo, cũng cho rằng nhiều
(Bánh đa)
Sông tròn vành vạnh, núi lạnh như tiền
Con gái nhà tiên, đâm đầu mà lặn
(Bánh trôi nước)
Người dân Đồng bằng sông Cửu Long có một kho truyện tiếu lâm rất phong phú. Dấu ấn tiếu lâm này còn thể hiện rõ qua những câu đố tục. Sự liên tưởng của con người xoay quanh các vấn đề sinh lý, khiến trong câu đố có yếu tố tục. Xu hướng này có một nguồn gốc xã hội như tiếu lâm, tuy nhiên không mang nội dung xã hội mà thường chỉ có tác dụng gây cười. Hình tượng câu đố trở nên tinh nghịch, hấp dẫn, đặc biệt bất ngờ khi các câu đố rất tục lại có lời giải hết sức thanh:
Con ai trắng tựa như ngà
Đem ra mà tắm giữa sông giang hà
Tắm rồi phải cởi áo ra
Mình trắng như ngà, đầu đội nón xanh.
(Cây giá)
Hai tay nắm lấy hai tay
Trèo lên cái bụng, hai chân chòi chòi.
(Đạp xe)
Phận em là gái cô bác ơi
Kẻ đi qua cọ ba bốn cái
Người đi lại cọ chín mười lần
Em không cho, mích lòng cô bác
Em cho cọ rồi ướt áo mình em.
(Cục đá mài)
Ngoài ra, người dân lao động ở Đồng bằng sông Cửu Long còn sử dụng hình thức chơi chữ trong câu đố của mình:
Ông lục ổng lội ngang sông
Cái đầu ổng ướt, cái mình ổng khô.
(Lục bình)
Hai tay mang gói thẳng xông
Má kêu mặc má, theo chồng cứ theo.
(Cá bạc má)
Câu đố là một dạng sinh hoạt văn hóa dân gian của người dân ở Đồng bằng sông Cửu Long xưa. Ngày xưa, trong quá trình lao động mệt nhọc, bà con ta có nhu cầu nghỉ ngơi, có nhu cầu ca hát, hò… để giải trí, và cũng là để bày tỏ lòng mình. Bên cạnh đó, họ còn đặt ra rất nhiều câu đố để thử tài nhau, để vui cười sau những giờ lao động rã rời. Và đó cũng là để thỏa mãn nhu cầu tri thức của mình. Vì vậy, nói gì thì nói, câu đố vẫn là một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian rất có giá trị trong kho tàng văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long xưa cũng như nay.
văn hóa

Câu đố ở Đồng bằng sông Cửu Long

Tùng Phạm  |  at  19:21

Câu đố là một dạng thức sinh hoạt văn hóa dân gian của cư dân Đồng bằng sông Cửu Long. Nó phản ánh tâm tư tình cảm, thể hiện nhu cầu mong muốn thỏa mãn tri thức, nhu cầu được vui chơi, giải trí của tầng lớp nhân dân lao động. Câu đố là một dạng sáng tác phản ánh các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan giữa vật đố (lời giải) với vật được miêu tả (câu đố). Sự liên tưởng trong câu đố thường bất ngờ, dí dỏm và mang nhiều màu sắc khác nhau.
Cư dân ở Đồng bằng sông Cửu Long xưa trong quá trình lao động mệt nhọc, họ ngoài việc đờn ca, hò hát, sáng tác ca dao, còn đặt ra câu đố. Những câu đố này đã làm cho tri thức của con người không ngừng được nâng lên, đồng thời cũng giúp họ giải khuây trong quá trình lao động mệt nhọc. Đặc biệt, trong kho tàng câu đố ở Đồng bằng sông Cửu Long, câu đố được thoát thai từ ca dao khá nhiều. Người ta hay đặt câu đố trên cái nền của ca dao, hoặc là đặt câu đố theo hình thức của ca dao làm cho câu đố vần hơn, dễ thuộc hơn, hay hơn, giúp người ta dễ nhớ hơn. Điều này cũng chứng tỏ khả năng quan sát tinh tế, trí tưởng tượng độc đáo và cách vận dụng linh hoạt các thể thơ dân gian trong hệ thống câu đố của người dân lao động xưa:
Gươm vàng hai lưỡi gươm vàng
Thác thì chịu thác, chứ buông nàng không buông.
(Con Sam)
Năm thằng cầm hai cái sào
Đuổi đàn trâu trắng chui vào trong hang.
(Ăn cơm)
Cây gì có quả không hoa
Vì chưng không lá chê già, chê non.
(Cây cân)
Thân ta không mẹ không cha
Vốn không họ hàng, ở nhà người dưng.
(Cây chùm gửi)
Người dân lao động xưa ở Đồng bằng sông Cửu Long rất mê truyện Tàu. Vì vậy, từ tư tưởng, điều nhân nghĩa đến tên các nhân vật trong tiểu thuyết Tàu đều hết sức quen thuộc đối với người dân nơi đây. Chẳng những trong ca dao, hò, vè, mà ngay cả câu đố ta cũng thường bắt gặp các câu chữ Hán, những cái tên thường mang ý nghĩa có tính cách nhân vật tiểu thuyết, như Khổng Minh thì tượng trưng cho chính nghĩa, Tào Tháo là phi nghĩa…
Trên thì Gia Cát cầu phong
Dưới thời lập trận hỏa công đánh Tào
Hai bên tả hữu xông vào
Đánh cho tào chạy ngã nhào xuống sông.
(Lò rèn)
Vô thủ, vô vĩ, vô nhĩ, vô tâm
Chốn ở sơn lâm hay ăn thịt sống.
(Cái thớt)
Gió lao xao trông ngọn thảo lay
Ban ngày dạo chốn tiền đài
Tối lại nằm kề vách ngọc
Bởi thương chúa nên thân tôi cồi cộc
Gẫm mình tàn còn một nắm xương
(Cây chổi)
Phần lớn các câu đố ở Đồng bằng sông Cửu Long xưa thường xoay quanh các sự vật, hiện tượng có liên quan đến đời sống hằng ngày của con người. Đó là những công việc hàng ngày, những đồ dùng quen thuộc, những hàng cây xung quanh mình, những bờ rau, bụi cỏ…
Đầu rồng đuôi phụng loe hoe
Mùa xuân ấp trứng, mùa hè nở con.
(Buồng cau)
Thân em ở bụi ở bờ
Chồng con không có mà nhờ tiếng kêu.
(Rau má)
Ông già ngồi cạnh bờ sông
Có trăm con mắt mà không thấy đường.
(Trái khóm)
Một cột mà chín mười kèo
Vải xanh vải đỏ mà treo bốn bề.
(Cây dù)
Tròn tròn như lá tía tô
Rớt xuống ao hồ đầu ướt đuôi khô.
(Cái vá)
Chặt đầu nối nghiệp tổ tiên
Ép mỡ lấy dầu, xương thịt bỏ đi.
(Cây mía)
Hiên ngang mà đứng giữa đồng
Cầm cờ tập trận, rộn ràng tiến quân.
(Người chăn vịt)
Người nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long xưa sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, mà cuộc sống nông nghiệp thì phụ thuộc rất nhiều vào các hiện tượng tự nhiên. Vì vậy, các hiện tượng tự nhiên đã để lại một dấu ấn sâu sắc trong tâm thức của người dân nơi đây, phản ánh khá rõ trong các câu đố dân gian:
Cây cao ngàn trượng, lá rụng tứ tung
Nấu thời được, nướng thời không.
(Trời mưa)
Thoạt đẻ thì mọc hai sừng
Đến khi lưng chừng thì ễnh bụng ra.
(Trăng đầu và giữa tháng)
Xanh xanh, đỏ đỏ, vàng vàng
Bắc cầu hoa lý, nằm ngang giữa trời.
(Cầu vồng)
Đặc biệt, ở Đồng bằng sông Cửu Long, có những sự vật, sự việc, hiện tượng lại được nêu thành nhiều câu đố khác nhau. Chẳng hạn:
Cùng nói về mặt trăng thì có:
– Trên trời như lá tía tô
Đi biển, đi hồ nó cũng đi theo.
- Có ai mặt đẹp như hoa
Từ bên nước Sở sang qua nước Tần
Mười lăm, mười sáu thì về
Từ ba mươi tuổi chẳng hề vãng lai.
Cùng nói về cây xương rồng:
– Sanh ở đất, danh ở trời
Thịt da không có, sống đời cổ kim.
- Danh tôi vốn ở trên trời
Sanh ra cái cốt ở nơi dương trần.
Cùng nói về cây dừa:
– Cha mẹ có tóc, để con trọc đầu
Cha mẹ sống lâu, để con chết chém.
- Một cột nhà mà chín mười kèo
Chồng thì không có mà đeo cả đùm.
Đặc biệt, người dân ở Đồng bằng sông Cửu Long đã đặt ra những câu đố hết sức bóng bẩy, mang tính trí tuệ từ các vật bình thường. Dạng câu đố này đòi hỏi người giải phải thông minh, nhanh nghĩ và đặc biệt là phải có tri thức mới mong giải được:
Chuột kêu chút chít trong rương
Anh đi cho khéo, đụng giường mẹ hay
(Bánh bò)
Hỏi người ngồi dựa loan phòng
Tóc mây dợn sóng có chồng hay chưa?
(Bánh hỏi)
Dĩnh dịch tròn tròn, khô dòn ướt dẻo
Dù còn tí tẹo, cũng cho rằng nhiều
(Bánh đa)
Sông tròn vành vạnh, núi lạnh như tiền
Con gái nhà tiên, đâm đầu mà lặn
(Bánh trôi nước)
Người dân Đồng bằng sông Cửu Long có một kho truyện tiếu lâm rất phong phú. Dấu ấn tiếu lâm này còn thể hiện rõ qua những câu đố tục. Sự liên tưởng của con người xoay quanh các vấn đề sinh lý, khiến trong câu đố có yếu tố tục. Xu hướng này có một nguồn gốc xã hội như tiếu lâm, tuy nhiên không mang nội dung xã hội mà thường chỉ có tác dụng gây cười. Hình tượng câu đố trở nên tinh nghịch, hấp dẫn, đặc biệt bất ngờ khi các câu đố rất tục lại có lời giải hết sức thanh:
Con ai trắng tựa như ngà
Đem ra mà tắm giữa sông giang hà
Tắm rồi phải cởi áo ra
Mình trắng như ngà, đầu đội nón xanh.
(Cây giá)
Hai tay nắm lấy hai tay
Trèo lên cái bụng, hai chân chòi chòi.
(Đạp xe)
Phận em là gái cô bác ơi
Kẻ đi qua cọ ba bốn cái
Người đi lại cọ chín mười lần
Em không cho, mích lòng cô bác
Em cho cọ rồi ướt áo mình em.
(Cục đá mài)
Ngoài ra, người dân lao động ở Đồng bằng sông Cửu Long còn sử dụng hình thức chơi chữ trong câu đố của mình:
Ông lục ổng lội ngang sông
Cái đầu ổng ướt, cái mình ổng khô.
(Lục bình)
Hai tay mang gói thẳng xông
Má kêu mặc má, theo chồng cứ theo.
(Cá bạc má)
Câu đố là một dạng sinh hoạt văn hóa dân gian của người dân ở Đồng bằng sông Cửu Long xưa. Ngày xưa, trong quá trình lao động mệt nhọc, bà con ta có nhu cầu nghỉ ngơi, có nhu cầu ca hát, hò… để giải trí, và cũng là để bày tỏ lòng mình. Bên cạnh đó, họ còn đặt ra rất nhiều câu đố để thử tài nhau, để vui cười sau những giờ lao động rã rời. Và đó cũng là để thỏa mãn nhu cầu tri thức của mình. Vì vậy, nói gì thì nói, câu đố vẫn là một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian rất có giá trị trong kho tàng văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu Long xưa cũng như nay.

Trong bài viết nầy, chúng tôi khảo sát hình ảnh “cá, câu-cá” chủ yếu trên phương diện phương tiện nghệ thuật của ca dao. Với tư cách phương tiện nghệ thuật, trong quá trình biểu trưng hóa (quá trình chuyển nghĩa để những hình ảnh trở thành những ẩn dụ, những biểu trưng nghệ thuật) hình ảnh cá, câu-cá với những nét nghĩa biểu trưng của nó, đã để lại dấu ấn văn hóa của cư dân nông nghiệp vùng sông nước.
Phần đông người Việt nói chung, cư dân Nam bộ nói riêng làm nông nghiệp. Chính vì vậy mà con cá có một vị trí khá đặc biệt trong đời sống người Nam bộ. Con cá trong đời sống vật chất thường nhật được nhìn nhận trong ca dao. Cá ở Nam bộ không chỉ được ăn tươi mà còn được làm mắm, làm khô để tích trữ ăn dần. Hiện thực nầy cũng để lại dấu ấu trong ca dao Nam bộ, cụ thể là trong lời ru của người mẹ:
Con ơi ở lại với bà,
Má đi làm mắm tháng ba má về,
Má về có mắm con ăn,
Có khô con nướng, có em con bồng. 

Xem hình ảnh cá như một phương tiện nghệ thuật, tác giả dân gian Nam bộ đã tiến tới miêu tả đặc điểm của cá nói chung, từng loại cá nói riêng để nói về con người:
Cá lưỡi trâu sầu ai méo miệng,
Cá trèn bầu nhiều chuyện trớt môi. 
Quá trình biểu trưng hóa để hình ảnh con cá biểu trưng cho nhân vật trữ tình trong ca dao là một quá trình liên tưởng, so sánh. Đặc điểm chung nhất của các loài cá là sống trong nước. Nước trong một không gian cụ thể là biển, sông, kinh, đìa, ao. Cá trong nước ( hoặc trong chậu, lờ, lưới ) dễ dàng được hình dung như con người trong cuộc đời với những hoàn cảnh cụ thể khác nhau:
Bể sâu con cá vẫy vùng,
Trời cao muôn trượng, cánh chim hồng cao bay.
Đôi ta như con cá ở đìa,
Ngày ăn tán lạc, tối về đủ đôi
. Với cặp biểu trưng câu – cá thì cá luôn luôn đại diện cho cô gái, còn câu đại diện chàng trai – hoặc là thái độ tình cảm của chàng trai. Câu cá là một hình thức lao động sản xuất của cư dân sông nước. Việc câu cá không dành riêng cho bất cứ ai, ai cũng có thể câu được bởi công việc nầy tương đối dễ dàng. Tuy vậy, trong ca dao Nam bộ chỉ có chàng trai mới câu và câu là chàng trai:
Anh ngồi bực lở anh câu,
Khen ai khéo mách, cá sầu không ăn.
Câu vàng lưỡi bạc nhợ tơ,
Câu thời câu vậy cá chờ có nơi.
Liều mình lội xuống ao sâu,
Đặng đo miệng cá uốn câu cho vừa.
Anh ơi, gá duyên đừng kén đừng lừa,
Cụm mây kia đen đặc, ngọn gió lùa còn tan. 
Việc câu trong ca dao Nam bộ là sự thuyết phục, là bày tỏ tình yêu của chàng trai. Trong thực tế đời sống của cư dân Nam bộ, công việc câu cá cũng là một hoạt động lao động kiếm sống. Người ta hay dùng hai từ “ câu cơm “ để chỉ một hoạt động nào đó nhằm mục đích kiếm tiền, cụ thể hơn là kiếm tiền cho cuộc sống thường nhật của gia đình và bản thân. Có lẽ ngay từ những ngày đầu khai phá vùng đất mới nầy, việc bắt cá, câu cá là việc phổ biến, thường xuyên đồng thời là việc buộc phải làm. Cá trong sông, rạch rất nhiều nhưng phải câu, bắt mới có. Do vậy “ cá ăn câu “ trong ca dao mang ý nghĩa là một kết quả tốt cho chàng trai. Hình ảnh câu- cá khá phổ biến trong ca dao các miền. Sau đây là một trường hợp được ca dao Bắc bộ sử dụng:
Anh ngồi vực lở anh câu,
Khen ai xui giục con cá sầu không ăn,
Con cá không ăn câu anh con cá dại,
Con cá ăn câu anh thì có ngãi có nhân.
 Hình ảnh câu- cá được tác giả sử dụng theo lối tư duy thuận chiều: cô gái yêu chàng trai thì mọi việc đều tốt đẹp, còn như không yêu là mất mát, dại khờ. Ca dao Nam bộ một mặt tiếp nối kiểu suy nghĩ ấy:
Cá không ăn câu thật là con cá dại,
Bởi câu anh cầm, câu ngãi câu nhân. 
Nhưng mặt khác, tác giả ca dao Nam bộ lại suy nghĩ theo kiểu “phản đề”: không phải lúc nào yêu anh cũng đều tốt đẹp cả:
Cá không ăn câu thật là con cá dại,
Vác cần câu về nghĩ lại con cá khôn.
Cá không ăn câu chê rằng con cá dại,
Cá mắc câu rồi nói tại cá tham ăn. 
Đó là kiểu tư duy phóng khoáng, luôn dành cho đối tượng nhiều khả năng lựa chọn, thậm chí là sự lựa chọn ngược lại với ý định ban đầu.Vấn đề chỉ có chàng trai câu mà cô gái không câu trong ca dao Nam bộ, có thể lý giải rằng đây là phản ánh một tập quán xã hội: chàng trai phải bày tỏ tình yêu trước, phải chủ động trong quan hệ lứa đôi. Cô gái trong ca dao Nam bộ – với hình ảnh con cá – có thể chủ động chờ đợi, một hình thức tạo điều kiện thuận tiện cho đối tượng:
Con cá vẩn vơ núp tại bóng cầu,
Chờ anh khác thể sao hầu chờ trăng. 

***
Hình ảnh “ cá hóa rồng “ ( cá hóa long ) gắn với một khía cạnh khác của văn hóa. Đó là sự sùng bái đối với loài cá chép ( cá lý ngư). Cá chép có thể hóa rồng bay lên mây, là loại cá thiêng cho các vị thần tiên cỡi về trời mang theo những thông điệp của trần gian. Đặc biệt, trong tín ngưỡng dân gian Nam bộ cá sấu cũng có thể trở thành rồng. Quá trình cá sấu đắc đạo là quá trình từ khi hình thành cho đến khi sụp lở của một cù lao. Hiện tượng cù lao sụp lở gọi là cù dậy.Khi cá sấu bắt đầu tu là khi nó nằm im dưới đáy sông. Phù sa của dòng sông theo thời gian ngưng tụ lại trên mình cá sấu, trở thành cù lao. Đến lúc cá sấu đắc đạo thành rồng, cựa mình, vụt bay lên không trung thì cù lao sụp lở. Có thể nói niềm tin cá hóa rồng là niềm tin về hiện tượng thăng hoa diễn ra trong vũ trụ và trong cả cuộc đời trần tục. Từ trong sâu thẳm, đó còn là ước vọng về sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác, về khả năng cải tạo cái ác, cái xấu. Trong ca dao Nam bộ, “cá hóa rồng” mở ra hướng phát triển tiến tới sự hoàn thiện hơn. Do vậy mà trong một số trường hợp, cá biểu trưng cho một nhân cách thanh cao dạng tiềm ẩn hoặc là hướng tới một kết qủa tốt đẹp:
Trên trời có cây hóa kiểng,
Dưới biển có cá hóa long,
Con cá lòng tong ẩn móng ăn rong
Anh đi lục tỉnh giáp vòng,
Đến đây trời khiến động lòng thương em (1).
Bậu chê anh quân tử lỡ thì,
Anh tỷ như con cá ở cạn chờ khi hóa rồng
Ngày nào nên ngãi vợ chồng,
Đôi lứa ta như thể cá hóa rồng lên mây (2).
Mù u nhỏ rễ ăn lan,
Sợ mình nói gạt qua đàng đấy thôi.
Phụng hoàng chấp cánh bay xuôi,
Liệu bề thương đặng, mình ơi, tôi chờ.
Nước lên khỏi bực tràn bờ,
Thương mình thương vậy, biết chờ đặng không?
Đặng không tôi cũng gắng công,
Đợi cho con cá hóa rồng sẽ hay.
Gặp mình may quá là may,
Trông cho trời tối bắt tay đặng về (3)
. Ở (1), hình ảnh “ cá hóa long “ chưa mang ý nghĩa biểu trưng rõ ràng, nó chỉ phản ánh cách suy nghĩ gắn với tín ngưỡng về một loài cá thiêng. Ở (2) nghĩa biểu trưng của “cá hóa rồng” được thiết lập bằng hình thức so sánh. Cơ sở hình thành nghĩa biểu trưng trong hai bài ca dao nầy chính là tín ngưỡng vừa nói. Ở (3), hình ảnh “cá hóa rồng” là một ẩn dụ tượng trưng. Nghĩa bóng của nó đã được tác giả dân gian sử dụng như là ý nghĩa duy nhất của hình ảnh nầy.
Như vậy, hình ảnh cá, câu-cá trong ca dao Nam bộ phản ánh một nét của nền văn hóa vật chất, đó là công việc đánh bắt thủy sản, trường hợp cụ thể ở đây là nghề câu cá. Mối tương quan giữa câu và cá ở một số trường hợp, trong một chừng mực nào đó thể hiện cách suy nghĩ phóng khoáng của người Việt Nam bộ. Quan niệm về một loài cá thiêng có thể hóa thành rồng, phản ánh tín ngưỡng sùng bái loài vật, một tín ngưỡng của người Việt thời cổ còn lưu giữ. Do tác động của thủy triều, trên các dòng sông Nam bộ thường xuyên có những cù lao, cồn cát hình thành và sụp lở. Hiện thực này được nhìn nhận theo chiều hướng tốt đẹp: đó là quá trình hoàn thiện của tạo vật. Đáng nói hơn, đó là tư tưởng hướng thiện của người Nam bộ. Chính tư tưởng này mà con người tìm thấy trong cái đổ vỡ (cù lao sụp) một điều gì đó tốt đẹp hơn (rồng bay lên). Không phải ngẫu nhiên mà hình ảnh thuyền (ghe, tàu, đò, xuồng) xuất hiện với tần số dày đặc trong ca dao Nam bộ. Sự xuất hiện của chúng bắt nguồn từ thực tế ứng xử của người Việt Nam bộ với môi trường sông nước. Nói khác đi, đó là chứng tích của một nền văn minh sông nước trong ca dao, bởi vì con thuyền, chiếc ghe, chiếc xuồng… từ bao đời nay đã gắn chặt với đời sống miền sông nước, chúng đi vào tiềm thức con người và xuất hiện trở lại trong ca dao. Tương tự như vậy, hình ảnh cá, câu-cá trong ca dao Nam bộ cũng là biểu hiện của nền văn minh kinh rạch. TS Trần Văn NamNguồn: ecadao
————-
Tư liệu tham khảo:
1. Jean Chevalier, Alain Gheebrant ( 1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Nhiều người dịch), Nxb Đà Nẵng, TP. HCM.
2. Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị(1984), Ca dao dân ca Nam Bộ,Nxb TP. HCM.
3. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật…(1995), Kho tàng ca dao người Việt (KTCDNV), Nxb Văn hóa, Hà Nội.
4. Trần Ngọc Thêm (1997), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Trường đại học KHXH và NV TP. HCM.
5.Lê Trí Viễn (chủ biên) (1986), Thơ văn Đồng Tháp tập I, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.

văn hóa

“Câu Cá” Trong Ca Dao Nam Bộ

Tùng Phạm  |  at  19:18

Trong bài viết nầy, chúng tôi khảo sát hình ảnh “cá, câu-cá” chủ yếu trên phương diện phương tiện nghệ thuật của ca dao. Với tư cách phương tiện nghệ thuật, trong quá trình biểu trưng hóa (quá trình chuyển nghĩa để những hình ảnh trở thành những ẩn dụ, những biểu trưng nghệ thuật) hình ảnh cá, câu-cá với những nét nghĩa biểu trưng của nó, đã để lại dấu ấn văn hóa của cư dân nông nghiệp vùng sông nước.
Phần đông người Việt nói chung, cư dân Nam bộ nói riêng làm nông nghiệp. Chính vì vậy mà con cá có một vị trí khá đặc biệt trong đời sống người Nam bộ. Con cá trong đời sống vật chất thường nhật được nhìn nhận trong ca dao. Cá ở Nam bộ không chỉ được ăn tươi mà còn được làm mắm, làm khô để tích trữ ăn dần. Hiện thực nầy cũng để lại dấu ấu trong ca dao Nam bộ, cụ thể là trong lời ru của người mẹ:
Con ơi ở lại với bà,
Má đi làm mắm tháng ba má về,
Má về có mắm con ăn,
Có khô con nướng, có em con bồng. 

Xem hình ảnh cá như một phương tiện nghệ thuật, tác giả dân gian Nam bộ đã tiến tới miêu tả đặc điểm của cá nói chung, từng loại cá nói riêng để nói về con người:
Cá lưỡi trâu sầu ai méo miệng,
Cá trèn bầu nhiều chuyện trớt môi. 
Quá trình biểu trưng hóa để hình ảnh con cá biểu trưng cho nhân vật trữ tình trong ca dao là một quá trình liên tưởng, so sánh. Đặc điểm chung nhất của các loài cá là sống trong nước. Nước trong một không gian cụ thể là biển, sông, kinh, đìa, ao. Cá trong nước ( hoặc trong chậu, lờ, lưới ) dễ dàng được hình dung như con người trong cuộc đời với những hoàn cảnh cụ thể khác nhau:
Bể sâu con cá vẫy vùng,
Trời cao muôn trượng, cánh chim hồng cao bay.
Đôi ta như con cá ở đìa,
Ngày ăn tán lạc, tối về đủ đôi
. Với cặp biểu trưng câu – cá thì cá luôn luôn đại diện cho cô gái, còn câu đại diện chàng trai – hoặc là thái độ tình cảm của chàng trai. Câu cá là một hình thức lao động sản xuất của cư dân sông nước. Việc câu cá không dành riêng cho bất cứ ai, ai cũng có thể câu được bởi công việc nầy tương đối dễ dàng. Tuy vậy, trong ca dao Nam bộ chỉ có chàng trai mới câu và câu là chàng trai:
Anh ngồi bực lở anh câu,
Khen ai khéo mách, cá sầu không ăn.
Câu vàng lưỡi bạc nhợ tơ,
Câu thời câu vậy cá chờ có nơi.
Liều mình lội xuống ao sâu,
Đặng đo miệng cá uốn câu cho vừa.
Anh ơi, gá duyên đừng kén đừng lừa,
Cụm mây kia đen đặc, ngọn gió lùa còn tan. 
Việc câu trong ca dao Nam bộ là sự thuyết phục, là bày tỏ tình yêu của chàng trai. Trong thực tế đời sống của cư dân Nam bộ, công việc câu cá cũng là một hoạt động lao động kiếm sống. Người ta hay dùng hai từ “ câu cơm “ để chỉ một hoạt động nào đó nhằm mục đích kiếm tiền, cụ thể hơn là kiếm tiền cho cuộc sống thường nhật của gia đình và bản thân. Có lẽ ngay từ những ngày đầu khai phá vùng đất mới nầy, việc bắt cá, câu cá là việc phổ biến, thường xuyên đồng thời là việc buộc phải làm. Cá trong sông, rạch rất nhiều nhưng phải câu, bắt mới có. Do vậy “ cá ăn câu “ trong ca dao mang ý nghĩa là một kết quả tốt cho chàng trai. Hình ảnh câu- cá khá phổ biến trong ca dao các miền. Sau đây là một trường hợp được ca dao Bắc bộ sử dụng:
Anh ngồi vực lở anh câu,
Khen ai xui giục con cá sầu không ăn,
Con cá không ăn câu anh con cá dại,
Con cá ăn câu anh thì có ngãi có nhân.
 Hình ảnh câu- cá được tác giả sử dụng theo lối tư duy thuận chiều: cô gái yêu chàng trai thì mọi việc đều tốt đẹp, còn như không yêu là mất mát, dại khờ. Ca dao Nam bộ một mặt tiếp nối kiểu suy nghĩ ấy:
Cá không ăn câu thật là con cá dại,
Bởi câu anh cầm, câu ngãi câu nhân. 
Nhưng mặt khác, tác giả ca dao Nam bộ lại suy nghĩ theo kiểu “phản đề”: không phải lúc nào yêu anh cũng đều tốt đẹp cả:
Cá không ăn câu thật là con cá dại,
Vác cần câu về nghĩ lại con cá khôn.
Cá không ăn câu chê rằng con cá dại,
Cá mắc câu rồi nói tại cá tham ăn. 
Đó là kiểu tư duy phóng khoáng, luôn dành cho đối tượng nhiều khả năng lựa chọn, thậm chí là sự lựa chọn ngược lại với ý định ban đầu.Vấn đề chỉ có chàng trai câu mà cô gái không câu trong ca dao Nam bộ, có thể lý giải rằng đây là phản ánh một tập quán xã hội: chàng trai phải bày tỏ tình yêu trước, phải chủ động trong quan hệ lứa đôi. Cô gái trong ca dao Nam bộ – với hình ảnh con cá – có thể chủ động chờ đợi, một hình thức tạo điều kiện thuận tiện cho đối tượng:
Con cá vẩn vơ núp tại bóng cầu,
Chờ anh khác thể sao hầu chờ trăng. 

***
Hình ảnh “ cá hóa rồng “ ( cá hóa long ) gắn với một khía cạnh khác của văn hóa. Đó là sự sùng bái đối với loài cá chép ( cá lý ngư). Cá chép có thể hóa rồng bay lên mây, là loại cá thiêng cho các vị thần tiên cỡi về trời mang theo những thông điệp của trần gian. Đặc biệt, trong tín ngưỡng dân gian Nam bộ cá sấu cũng có thể trở thành rồng. Quá trình cá sấu đắc đạo là quá trình từ khi hình thành cho đến khi sụp lở của một cù lao. Hiện tượng cù lao sụp lở gọi là cù dậy.Khi cá sấu bắt đầu tu là khi nó nằm im dưới đáy sông. Phù sa của dòng sông theo thời gian ngưng tụ lại trên mình cá sấu, trở thành cù lao. Đến lúc cá sấu đắc đạo thành rồng, cựa mình, vụt bay lên không trung thì cù lao sụp lở. Có thể nói niềm tin cá hóa rồng là niềm tin về hiện tượng thăng hoa diễn ra trong vũ trụ và trong cả cuộc đời trần tục. Từ trong sâu thẳm, đó còn là ước vọng về sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác, về khả năng cải tạo cái ác, cái xấu. Trong ca dao Nam bộ, “cá hóa rồng” mở ra hướng phát triển tiến tới sự hoàn thiện hơn. Do vậy mà trong một số trường hợp, cá biểu trưng cho một nhân cách thanh cao dạng tiềm ẩn hoặc là hướng tới một kết qủa tốt đẹp:
Trên trời có cây hóa kiểng,
Dưới biển có cá hóa long,
Con cá lòng tong ẩn móng ăn rong
Anh đi lục tỉnh giáp vòng,
Đến đây trời khiến động lòng thương em (1).
Bậu chê anh quân tử lỡ thì,
Anh tỷ như con cá ở cạn chờ khi hóa rồng
Ngày nào nên ngãi vợ chồng,
Đôi lứa ta như thể cá hóa rồng lên mây (2).
Mù u nhỏ rễ ăn lan,
Sợ mình nói gạt qua đàng đấy thôi.
Phụng hoàng chấp cánh bay xuôi,
Liệu bề thương đặng, mình ơi, tôi chờ.
Nước lên khỏi bực tràn bờ,
Thương mình thương vậy, biết chờ đặng không?
Đặng không tôi cũng gắng công,
Đợi cho con cá hóa rồng sẽ hay.
Gặp mình may quá là may,
Trông cho trời tối bắt tay đặng về (3)
. Ở (1), hình ảnh “ cá hóa long “ chưa mang ý nghĩa biểu trưng rõ ràng, nó chỉ phản ánh cách suy nghĩ gắn với tín ngưỡng về một loài cá thiêng. Ở (2) nghĩa biểu trưng của “cá hóa rồng” được thiết lập bằng hình thức so sánh. Cơ sở hình thành nghĩa biểu trưng trong hai bài ca dao nầy chính là tín ngưỡng vừa nói. Ở (3), hình ảnh “cá hóa rồng” là một ẩn dụ tượng trưng. Nghĩa bóng của nó đã được tác giả dân gian sử dụng như là ý nghĩa duy nhất của hình ảnh nầy.
Như vậy, hình ảnh cá, câu-cá trong ca dao Nam bộ phản ánh một nét của nền văn hóa vật chất, đó là công việc đánh bắt thủy sản, trường hợp cụ thể ở đây là nghề câu cá. Mối tương quan giữa câu và cá ở một số trường hợp, trong một chừng mực nào đó thể hiện cách suy nghĩ phóng khoáng của người Việt Nam bộ. Quan niệm về một loài cá thiêng có thể hóa thành rồng, phản ánh tín ngưỡng sùng bái loài vật, một tín ngưỡng của người Việt thời cổ còn lưu giữ. Do tác động của thủy triều, trên các dòng sông Nam bộ thường xuyên có những cù lao, cồn cát hình thành và sụp lở. Hiện thực này được nhìn nhận theo chiều hướng tốt đẹp: đó là quá trình hoàn thiện của tạo vật. Đáng nói hơn, đó là tư tưởng hướng thiện của người Nam bộ. Chính tư tưởng này mà con người tìm thấy trong cái đổ vỡ (cù lao sụp) một điều gì đó tốt đẹp hơn (rồng bay lên). Không phải ngẫu nhiên mà hình ảnh thuyền (ghe, tàu, đò, xuồng) xuất hiện với tần số dày đặc trong ca dao Nam bộ. Sự xuất hiện của chúng bắt nguồn từ thực tế ứng xử của người Việt Nam bộ với môi trường sông nước. Nói khác đi, đó là chứng tích của một nền văn minh sông nước trong ca dao, bởi vì con thuyền, chiếc ghe, chiếc xuồng… từ bao đời nay đã gắn chặt với đời sống miền sông nước, chúng đi vào tiềm thức con người và xuất hiện trở lại trong ca dao. Tương tự như vậy, hình ảnh cá, câu-cá trong ca dao Nam bộ cũng là biểu hiện của nền văn minh kinh rạch. TS Trần Văn NamNguồn: ecadao
————-
Tư liệu tham khảo:
1. Jean Chevalier, Alain Gheebrant ( 1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Nhiều người dịch), Nxb Đà Nẵng, TP. HCM.
2. Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị(1984), Ca dao dân ca Nam Bộ,Nxb TP. HCM.
3. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật…(1995), Kho tàng ca dao người Việt (KTCDNV), Nxb Văn hóa, Hà Nội.
4. Trần Ngọc Thêm (1997), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Trường đại học KHXH và NV TP. HCM.
5.Lê Trí Viễn (chủ biên) (1986), Thơ văn Đồng Tháp tập I, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.

1. Khái niệm cười trong văn học
Tự điển Tiếng Việt định nghĩa cười (động từ): Nhích môi, hé miệng, nhe răng phát ra tiếng hay không để tỏ sự vui mừng hay một ý tứ gì [246; 2].Từ điển thuật ngữ văn họcđưa ra phạm trù cái hài. Phạm trù mĩ học phản ánh một hiện tượng phổ biến của thực tế đời sống vốn có khả năng tạo ra tiếng cười ở những cung bậc và sắc thái khác nhau.
Cái hài gắn với cái buồn cười, nhưng không phải cái buồn cười nào cũng trở thành cái hài. Cái hài bao hàm ý nghĩa xã hội gắn liền với sự khẳng định lý tưởng thẩm mỹ cao cả. [42; 4]. Ca dao Tây Nam Bộ xuất hiện nhiều tiếng cười độc đáo. Nó chính là cái hài như quan điểm của lý luận văn học.
2. Ca dao Tây Nam Bộ với việc miêu tả các tiếng cười
Cũng như các vùng miền khác, theo bước chân người đi mở cõi thì lời ca, tiếng hát, điệu hò, điệu lý, … tất cả như hơi thở không thể thiếu được trong sinh hoạt của người bình dân. Và lẽ tất nhiên trong đó không thể thiếu tiếng cười
Chuồn đậu ngọn cau lơ
Anh cười bả lả, em ngờ duyên anh
Hãy khoan bàn đến nội dung và chức năng của tiếng cười, điều này chúng tôi sẽ bàn ở phần sau. Ở đây chúng tôi điểm qua các cách kết hợp của từ cười trong ca dao.
Như đã nói, cười là một động từ:
Nực cười con tạo trớ trênh
Chữ duyên chao chát, chữ tình lãng xao
Còn đây là sự kết hợp của động từ cười với một tính từ để khu biệt nghĩa:
Chiều chiều ra đứng vườn cà
Thấy em cười lạt anh biết đà hết duyên
+ Cóc nghiến răng còn động lòng trời
Cũng vì em có điệu cười mỉm chi
Cái cười lạt của câu trên đã phần nào giúp cho người trong cuộc và cả người nghe được câu ca ấy hiểu rõ được kết cục của một chuyện tình!
Cô gái có nụ cười mỉm chi ấy như đã tô đẹp vẻ sắc nước hương trời làm rúng động cả thiên nhiên, loài vật!
Cười được đặt sau danh từ:
Chẳng tham nhà ngói lung linh
Tham gì một nỗi anh xinh miệng cười
Bốn từ cuối là bốn từ loại khác nhau, tác giả dân gian khéo sắp đặt để có kết hợp hài hoà giữa đại từ nhân xưng (anh), tính từ (xinh) danh từ (miệng) và động (cười).
Cười kết hợp với các đại từ phiếm định:
Ngửa tay lấy tấm vàng mười
Quần bô áo vải ai cười mặc ai
Ai trong trường hợp này đều là những đối tượng không xác định!
Cười cũng có thể kết hợp với các hư từ:
Vô duyên chưa nói đã cười
Chưa đi đã chạy là người vô duyên
Xét về góc độ từ pháp chúng ta đã phần nào thấy được sự đa dạng của cái “cười”!
3. Giọng trào phúng trong ca dao Tây Nam Bộ
3.1 Những giới thuyết
Trào phúng là thuật ngữ văn học. Đây là một loại đặc biệt của sáng tác văn học và đồng thời cũng là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật trong đó các yếu tố của tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hài hước, … được sử dụng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng … những cái tiêu cực, xấu xa, lỗi thời, độc ác trong xã hội [363; 4]
Từ điển thuật ngữ văn học còn xác định một nét nghĩa nữa trào phúng theo nghĩa từ nguyên là dùng lời lẽ bóng bẩy, kín đáo để cười nhạo, mỉa mai kẻ khác [363; 4]. Theo nghĩa hẹp hơn, chúng tôi nhận thấy trong văn học, đặc biệt là trong thơ ca dân gian cũng xuất hiện giọng điệu trào phúng.
Giọng điệu nghệ thuật với tư cách là một phạm trù thẩm mỹ, một yếu tố có vai trò hết sức quan trọng trong việc cấu thành phong cách nhà văn là vấn đề đã được nhận ra từ lâu kể cả trong văn học Phương Tây và văn học phương Đông. Nhiều bậc thầy về nghệ thuật ngôn từ, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra và chứng minh vai trò quan trọng của giọng điệu (tone) hay “văn khí”, “hơi văn”, “giọng văn” (cách gọi quen thuộc ở Trung Quốc và Việt Nam) không chỉ trong sáng tác mà cả trong nghiên cứu, tiếp cận tác phẩm văn học và phong cách cá nhân nhà văn.
Nhắc đến phong cách có nghĩa là chúng ta thừa nhận mỗi nhà văn có một giọng điệu riêng, đồng thời cũng từ đó ta khẳng định một thể loại được nhiều nhà văn chọn thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm thì cũng sẽ có giọng điệu chung – giọng điệu thể loại.
Song, vấn đề đặt ra ở đây là thơ ca dân gian nói riêng và văn học dân học dân gian nói chung có giọng điệu không? Theo chúng tôi, ca dao, như mọi thể thơ khác, nó cũng có giọng điệu. Không có giọng điệu thì hoá ra mọi lời lời thơ – lời nói đều như nhau sao? Tất nhiên, người ta có thể hiểu khái niệm giọng điệu theo những nghĩa rộng hẹp khác nhau. Lịch sử thơ ca chứng minh có sự tồn tại nhiều loại hình giọng điệu: giọng điệu thơ dân gian, giọng điệu thơ cổ điển, giọng điệu thơ hiện đại… Như vậy, vấn đề đặt ra không phải là hỏi ca dao có giọng điệu hay không mà hỏi giọng điệu trong ca dao có đặc thù gì?
Ít nhất, có thể nghĩ giọng điệu trong ca dao không mang đậm dấu ấn  cá nhân – cá thể. Điều này có thể giải thích được căn cứ vào tính tập thể, tính truyền miệng của ca dao. Giọng điệu ở đây chủ yếu gắn liền với tính loại hình của những nội dung cảm xúc hay sự việc được bày tỏ, miêu tả. Cảm xúc, sự việc khác nhau thì giọng điệu khác nhau. Có lẽ, sự khác biệt của giọng điệu ở từng bài ca dao chỉ dừng ở đó.
Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi khẳng định trong lĩnh vực văn học, trào phúng gắn liền với phạm trù mỹ học và cái hài với các cung bậc hài hước umua, châm biếm [363; 4]. Căn cứ vào nhận định ấy, và qua khảo sát từ thực tế chúng tôi nhận giọng điệu trào phúng của ca dao Tây Nam Bộ trải qua các cung bậc:
3.2. Giọng điệu trào phúng qua ca dao Tây Nam Bộ
3.2.1 Giọng bông đùa, hài hước
Đây là cung bậc “nhẹ” của tiếng cười. Người bình dân mệt sông nước tự trào, bông đùa, … dù là những sáng tác dân gian, nhưng yếu tố tự tình vẫn “đậm” dấu ấn. Trước hết ta gặp giọng điệu này ở những câu ca dao đùa vui, trào lộng với nội dung diễn tả những sự việc “lạ” trong cuộc sống hay sự “hớ hênh” của con người.
Một cô nàng thật thà cả tin đã giật mình “hú vía” vì kịp thời nhận ra “chân tướng” đối tượng:
May không chút nữa em lầm
Khoai lang khô xắt lát em tưởng sâm cao ly bên Tàu
Đây là hình ảnh của “nạn nhân”:
Cô kia cười cợt ghẹo trai
Cái miệng méo xẹo như quai chèo đò
Cười cợt một con người không đứng đắn, “ham vui” bằng một giọng hóm hỉnh:
Giữa trưa đói bụng thèm cơm
Thấy đùi em vợ như tôm kho tàu, …
Nhưng nổi bật hơn hết giọng điệu bông đùa hài hước gặp rất nhiều trong những câu dao với đề tài tình yêu đôi lứa:
Từ một sự chọc ghẹo “quá đà”:
Vú em nhu nhú chúm cau
Cho anh bóp cái có đau anh đền
Hay
Nước láng linh chảy ra Vàm Cú
Thấy em chèo cặp vú muốn hun
Một lời tỏ tình cũng đầy tiếng cười hơn là chủ đích thực của nó:
Thương em nên mới đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau
May đất mềm nên mới hổng đau
Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này
Đến lúc anh chàng tương tư, giọng điệu cũng bông lơn hết chỗ nói:
Vắng cơm ba bữa còn no
Vắng em một bữa giở giò không lên
Khẳng định sự chung thuỷ dù muôn ngàn trở lực:
Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông
Ngay những mộng mơ tơ tưởng cũng không kém phần hài hước:
Phòng loan trải chiếu rộng thình
Anh lăn qua đụng cái gối, tưởng bạn mình, em ơi!
Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa
Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều
Họ xa nhau vì bởi ông tơ, bà nguyệt thì những “đối tượng” ấy thành nạn nhân để họ trút giận:
Quất ông tơ cái trót
Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần
Biểu ông xe mối chỉ năm bảy lần, ổng không xe
Trong khi tan vỡ duyên tình giọng điệu kia cũng đem đến những nét khác biệt:
Tưởng giếng sâu qua nối sợi dây cụt
Ai dè giếng cạn nó hụt cái sợi dây
Qua tới đây mà không cưới được cô Hai mầy
Qua chèo ghe ra biển… đợi nước đầy qua chèo vô
Nó không như giọng tâm tình thường thấy ở những câu ca biểu hiện cung bậc này trong tình yêu:
Tưởng giếng sâu anh nối sợi dây dài
Ai dè nước giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây
Trong cuộc sống vợ chồng, khi có sự bất hoà, giọng điệu hài hước cũng có mặt kịp thời:
Mù u ba lá mù u
Vợ chồng cãi lộn con cu giảng hoà
3.2.2. Giọng châm biếm, đả kích
Đả kích, châm biếm xét về mặt chức năng của ca dao hài hước nó sẽ ở một “cấp độ” cao hơn, nặng hơn. Nếu như giọng bông đùa, hài hước phần lớn thể hiện chức năng tự trào, để giải trí, thì châm biếm, đả kích hướng tới việc phên phán đối tượng với những thói hư tật xấu của con người trong cuộc sống.
Cũng là lời tỏ tình, nhưng chúng ta hãy nghe đây lời đối đáp:
+ Anh có thương em thì cho em một đồng,
Để em mua gan công, mật cóc thuốc chồng em theo anh.
+ Nghe hò tao phát nổi xung
Dớt cho một phảng chết chung cho rồi!
Một lời tỏ tình với một cô gái đã có chồng đã là trái đạo lý. Song, khi nghe cô gái kia đáp lại chuyện “thuốc chồng”, người ngỏ lời hay đằng sau họ là nhân dân đã không thể dung thứ, đó là lời cảnh báo: bắt cho gian phu dâm phụ “chết chung!” âu cũng là điều tất yếu.
Trong tình duyên, tiếng cười “lãnh nhách” làm cho hai kẻ hai đường:
Tưởng đâu bến đã gặp thuyền
Nào hay em cười lãng nhách anh liền lui ghe
Chàng trai ý thức rằng không phải lúc nào tiếng cười cũng vui cửa vui nhà, có khi đó là điều tai hoạ:
Thà rằng chịu cảnh gông xiềng
Còn hơn có vợ cười vô duyên trong nhà
Đối với những con người không đứng đắn:
Con quạ nó núp vườn chồi
Thấy em đứng cười lỏn lẻn với ai
Chắc chắn đây là “đối tượng” không thể tin được, bởi sự gian dối, lọc lừa:
Quét nhà long mốt long hai
Cha mẹ đi vắng dẫn trai vô nhà
Đối với những con người “vượt rào” như vậy, dân gian không tiếc lời:
Chuối non vú ép chát ngầm
Trai tơ đòi vợ khóc thầm thâu đêm
Khóc đêm mẹ lại mắng thêm
Vợ đâu tao cưới nửa đêm cho mày?
Có khi cả “người lớn” cũng là “nạn nhân” cửa sự châm biếm:
Mẹ ơi con muốn lấy chồng
Con ơi mẹ cũng một lòng như con
Họ tự khuyên mình:
Cười người ngó lại sau vai
Xem mình trong sạch hơn ai mà cười
Và đây là những chân tướng bị tác giả dân gian lên án, phên phán, đả kích:
Một văn nhân nào đấy tự khoe là học đạo lý thánh hiền, nhưng cũng không thoát được dục vọng thường tình của con người:
Văn chương chữ nghĩa bề bề
Thần l.. ám ảnh mà mê mẫn đời
Một tay anh hùng làm ra dáng vẻ đạo mạo, trở thành tiếng cười đầy ẩn ý mỉa mai:
Dậm chân xuống đất cái đùng
Vỗ l … cái phạch chào anh hùng đến đây!
Một thầy bói, chuyên sống bằng nghề ăn may nói mò:
Nực cười thầy bói trèo cau
Buồng thì không bẻ bẻ tàu quơ quơ
Hãy nghe giọng cười mà tác giả dân gian giễu cợt thầy:
Nhà bà có con chó đen
Người lạ nó sủa người quen nó mừng
Nhà bà có cái cối xay
Bốn chân dưới đất, ngõng quay lên trời
Và đây là những bài học, những lời cảnh báo ẩn chứa giọng điệu mà chúng tôi đề cập:
+ Rung rinh nước chảy qua đèo
Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng
+ Mèo hoang thì chó cũng hoang
Một chàng ăn trộm gặp nàng nhổ môn
+ Có chồng thì mặc có chồng
Tôi đi ngủ dạo kiếm ít đồng mua rau!
+ Cầm chài mà vải bụi tre
Con gái mười bảy đi ve ông già!
+ Củ lang nấu lộn củ mì
Cháu lấy chồng dì kêu dượng bằng anh
+ Con gái chơi với con trai
Coi chừng cặp vú như hai sọ dừa
4. Cách thức thể hiện của những giọng điệu trào phúng:
4.1. Dùng cách nói phóng đại
Phong cách ngôn ngữ học gọi đây là biện pháp tu từ khoa trương, hay thậm xưng, tức là phương thức cường điệu một mức độ, một tính chất, một đặc điểm nào đó của sự vật, sự việc, con người:
+ Phải chi cắt ruột đừng đau
Để em cắt ruột em trao anh mang về!
+ Con gái mười bảy mười ba
Đêm nằm với mẹ, khóc la đòi chồng
Mẹ giận mẹ phát ngang hông:
”Đồ con chết chủ đòi chồng thâu đêm”!
Chúng ta vốn đã rất quen lối nói này ở ca dao Việt Nam:
Lỗ mũi mười tám cánh lông
Chồng thương chồng bảo tơ hồng trời cho
4.2. Nghệ thuật chơi chữ.
Hoàng Phê giải thích: “Chơi chữ là lợi dụng hiện tượng đồng âm, đa nghĩa, v.v, … trong ngôn ngữ nhằm gây một tác dụng nhất định (như bóng gió, châm biếm, hài hước, …) trong lời nói. (Từ điển Tiếng Việt – Nhà xuất bản Giáo Dục. H. 1994).
Từ điển thuật ngữ văn học gọi chơi chữ là “lộng ngữ” và giải thích là một biện pháp tu từ có đặc điểm: người sáng tác sử dụng những chỗ giống nhau về ngữ âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn cảnh để tạo ra sự bất ngờ thú vị trong cách hiểu, trong dòng liên tưởng của người, người nghe”. Các hình thức của lộng ngữ rất phong phú, trong đó có: nói lái, dùng từ đồng âm hoặc gần âm, dùng từ gần nghĩa, tách một từ thành các từ khác nhau. (có thể xem đây là hình thức của nghệ thuật chơi chữ – người viết chú thêm). Các tác giả trong quyển từ điển này cho rằng: nhìn chung các lộng ngữ đều mang tính hài hước, thường được sử dụng trong văn thơ trào phúng (có thể xem đây là tác dụng của nghệ thuật chơi chữ – người viết chú thêm). [183; 4]
Như vậy, giọng điệu bông đùa, trào lộng không thể thiếu được biện pháp nghệ thuật này. Chơi chữ có rất nhiều dạng, ở đây chúng tôi chỉ điểm qua những hình thức cơ bản của chơi chữ mà thôi!
Dùng từ đồng âm:
+Cu tôi vừa mới đâm lông
Cho mượn cái lồng nhốt đỡ vài đêm?
+Cu tui ăn đậu ăn mè
Ăn chi của chị mà chị đè cu tui
Cu vừa chỉ con chim gáy, vừa dùng để ám chịu điều mà nhận vật trữ tình kia muốn nói. Lồng vừa là dụng cụ dùng để nhốt chim và lẽ tất nhiên câu ca nọ không dừng lại ở đó, nghĩa mà nó muốn hướng đến là nghĩa ẩn ở chiều sâu, buộc “đối phương” phải hiểu …
Dùng từ đa nghĩa:
Cồng cộc bắt cá bầu eo
Chi chê tôi bé, tôi trèo chị coi
Cách nói lấp lửng “chê tôi bé” hay “cái gì” của tôi bé! Tác giả câu ca còn bạo dạn “đòi” trèo (gợi hành động ân ái), … tất cả đã tạo nên sự hài hước mà không kém phần thú vị!
Lối lấp lửng này, ta còn gặp nhiều câu khác:
+ Ví ví von von
Anh cho một cái, cỏng con về nhà
+ Cô tú kẽo kẹt cậu cai
Vợ chồng thuyền chài kẽo kẹt dưới sông
Cách chơi chữ ở đây là dùng từ tượng thanh chỉ cả hành động thực lẫn động tác của nam nữ lúc yêu đương!
Lối nói lái:
Tặng anh cái áo tôn là
Ban ngày mặc mát tối ra câu đề
Hai chữ cuối của mỗi dòng đều sử dụng cách nói lái.
4.3. Dùng yếu tố tục
Chuyện nói tục thiên về cái tục là chuyện của mọi dân tộc, trong đó có người Việt Nam. Nói tục nhằm vào một sự hạ giá. Song không nên quá cực đoan về sự hạ giá này. Nói tục để gây cười nhằm thoả mãn sự nghịch ngợm. Nói lái trong nghệ thuật chơi chữ cũng là một phần của nói tục. Thực tế của việc nói tục là dùng nhiều từ ngữ chỉ hoặc gợi sinh thực khí (của đàn bà nhiều hơn, có lẽ do văn hoá và tính cách đàn ông, nam giới nói tục nhiều hơn chăng?) hay cả hành động ân ái vợ chồng. Tất cả những yếu tố tục ấy tạo giọng điệu bông đùa, gây tiếng cười thoải mái:
+ L… này l… chẳng sợ ai
Sợ thằng say rượu đ… dai đau l…
+ Gió nam non thổi lòn hang chuột
Đ… em rồi, đ… nữa được không em?
+Cô Ba, cô Bốn lấy chồng
Cô Năm ở lại giật mồng tăng tăng
+ Xót lòng mẹ góa con côi
Kiếm ăn lần hồi l… lớn bằng mo
Dĩa bàng thang con tôm càng dựng đứng
Bởi gia cảnh anh nghèo nên c…  nứng nửa con
5. Vài kết luận
Cái cười, tiếng cười là một yếu tố, một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống con người. Ca dao dân ca là tiếng lòng của người lao động, đương nhiên họ đem tiếng cười vào trong lời thơ điệu hò câu lý như một lẽ tất nhiên không phải bàn cãi.
Qua cái cười ấy, chúng ta hôm nay thấy được tâm hồn phúng khoáng, bông đùa, hay trào lộng vừa để tạo không khí thoải mái, vui vẻ, nhưng không dừng lại ở đó, nó còn ẩn chứa nhiều bài học răn đời, nhiều đối tượng bị đả kích giễu cợt, … cốt làm cho cuộc sống tốt hơn, đẹp hơn.
Trí tuệ thể hiện những vần ca điệu hát ấy như những hạt ngọc sáng ngời, nó là sản phẩm của những tâm hồn “gần bùn mà chẳng tanh hôi mùi bùn”. Tìm trong văn học dân gian những kho tàng tri thức quý giá đó là một việc cần thiết cho những yêu và quý cội nguồn văn hoá dân tộc./.
văn hóa

Tiếng Cười Trong Ca Dao Tây Nam Bộ

Tùng Phạm  |  at  19:11

1. Khái niệm cười trong văn học
Tự điển Tiếng Việt định nghĩa cười (động từ): Nhích môi, hé miệng, nhe răng phát ra tiếng hay không để tỏ sự vui mừng hay một ý tứ gì [246; 2].Từ điển thuật ngữ văn họcđưa ra phạm trù cái hài. Phạm trù mĩ học phản ánh một hiện tượng phổ biến của thực tế đời sống vốn có khả năng tạo ra tiếng cười ở những cung bậc và sắc thái khác nhau.
Cái hài gắn với cái buồn cười, nhưng không phải cái buồn cười nào cũng trở thành cái hài. Cái hài bao hàm ý nghĩa xã hội gắn liền với sự khẳng định lý tưởng thẩm mỹ cao cả. [42; 4]. Ca dao Tây Nam Bộ xuất hiện nhiều tiếng cười độc đáo. Nó chính là cái hài như quan điểm của lý luận văn học.
2. Ca dao Tây Nam Bộ với việc miêu tả các tiếng cười
Cũng như các vùng miền khác, theo bước chân người đi mở cõi thì lời ca, tiếng hát, điệu hò, điệu lý, … tất cả như hơi thở không thể thiếu được trong sinh hoạt của người bình dân. Và lẽ tất nhiên trong đó không thể thiếu tiếng cười
Chuồn đậu ngọn cau lơ
Anh cười bả lả, em ngờ duyên anh
Hãy khoan bàn đến nội dung và chức năng của tiếng cười, điều này chúng tôi sẽ bàn ở phần sau. Ở đây chúng tôi điểm qua các cách kết hợp của từ cười trong ca dao.
Như đã nói, cười là một động từ:
Nực cười con tạo trớ trênh
Chữ duyên chao chát, chữ tình lãng xao
Còn đây là sự kết hợp của động từ cười với một tính từ để khu biệt nghĩa:
Chiều chiều ra đứng vườn cà
Thấy em cười lạt anh biết đà hết duyên
+ Cóc nghiến răng còn động lòng trời
Cũng vì em có điệu cười mỉm chi
Cái cười lạt của câu trên đã phần nào giúp cho người trong cuộc và cả người nghe được câu ca ấy hiểu rõ được kết cục của một chuyện tình!
Cô gái có nụ cười mỉm chi ấy như đã tô đẹp vẻ sắc nước hương trời làm rúng động cả thiên nhiên, loài vật!
Cười được đặt sau danh từ:
Chẳng tham nhà ngói lung linh
Tham gì một nỗi anh xinh miệng cười
Bốn từ cuối là bốn từ loại khác nhau, tác giả dân gian khéo sắp đặt để có kết hợp hài hoà giữa đại từ nhân xưng (anh), tính từ (xinh) danh từ (miệng) và động (cười).
Cười kết hợp với các đại từ phiếm định:
Ngửa tay lấy tấm vàng mười
Quần bô áo vải ai cười mặc ai
Ai trong trường hợp này đều là những đối tượng không xác định!
Cười cũng có thể kết hợp với các hư từ:
Vô duyên chưa nói đã cười
Chưa đi đã chạy là người vô duyên
Xét về góc độ từ pháp chúng ta đã phần nào thấy được sự đa dạng của cái “cười”!
3. Giọng trào phúng trong ca dao Tây Nam Bộ
3.1 Những giới thuyết
Trào phúng là thuật ngữ văn học. Đây là một loại đặc biệt của sáng tác văn học và đồng thời cũng là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật trong đó các yếu tố của tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hài hước, … được sử dụng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng … những cái tiêu cực, xấu xa, lỗi thời, độc ác trong xã hội [363; 4]
Từ điển thuật ngữ văn học còn xác định một nét nghĩa nữa trào phúng theo nghĩa từ nguyên là dùng lời lẽ bóng bẩy, kín đáo để cười nhạo, mỉa mai kẻ khác [363; 4]. Theo nghĩa hẹp hơn, chúng tôi nhận thấy trong văn học, đặc biệt là trong thơ ca dân gian cũng xuất hiện giọng điệu trào phúng.
Giọng điệu nghệ thuật với tư cách là một phạm trù thẩm mỹ, một yếu tố có vai trò hết sức quan trọng trong việc cấu thành phong cách nhà văn là vấn đề đã được nhận ra từ lâu kể cả trong văn học Phương Tây và văn học phương Đông. Nhiều bậc thầy về nghệ thuật ngôn từ, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra và chứng minh vai trò quan trọng của giọng điệu (tone) hay “văn khí”, “hơi văn”, “giọng văn” (cách gọi quen thuộc ở Trung Quốc và Việt Nam) không chỉ trong sáng tác mà cả trong nghiên cứu, tiếp cận tác phẩm văn học và phong cách cá nhân nhà văn.
Nhắc đến phong cách có nghĩa là chúng ta thừa nhận mỗi nhà văn có một giọng điệu riêng, đồng thời cũng từ đó ta khẳng định một thể loại được nhiều nhà văn chọn thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm thì cũng sẽ có giọng điệu chung – giọng điệu thể loại.
Song, vấn đề đặt ra ở đây là thơ ca dân gian nói riêng và văn học dân học dân gian nói chung có giọng điệu không? Theo chúng tôi, ca dao, như mọi thể thơ khác, nó cũng có giọng điệu. Không có giọng điệu thì hoá ra mọi lời lời thơ – lời nói đều như nhau sao? Tất nhiên, người ta có thể hiểu khái niệm giọng điệu theo những nghĩa rộng hẹp khác nhau. Lịch sử thơ ca chứng minh có sự tồn tại nhiều loại hình giọng điệu: giọng điệu thơ dân gian, giọng điệu thơ cổ điển, giọng điệu thơ hiện đại… Như vậy, vấn đề đặt ra không phải là hỏi ca dao có giọng điệu hay không mà hỏi giọng điệu trong ca dao có đặc thù gì?
Ít nhất, có thể nghĩ giọng điệu trong ca dao không mang đậm dấu ấn  cá nhân – cá thể. Điều này có thể giải thích được căn cứ vào tính tập thể, tính truyền miệng của ca dao. Giọng điệu ở đây chủ yếu gắn liền với tính loại hình của những nội dung cảm xúc hay sự việc được bày tỏ, miêu tả. Cảm xúc, sự việc khác nhau thì giọng điệu khác nhau. Có lẽ, sự khác biệt của giọng điệu ở từng bài ca dao chỉ dừng ở đó.
Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi khẳng định trong lĩnh vực văn học, trào phúng gắn liền với phạm trù mỹ học và cái hài với các cung bậc hài hước umua, châm biếm [363; 4]. Căn cứ vào nhận định ấy, và qua khảo sát từ thực tế chúng tôi nhận giọng điệu trào phúng của ca dao Tây Nam Bộ trải qua các cung bậc:
3.2. Giọng điệu trào phúng qua ca dao Tây Nam Bộ
3.2.1 Giọng bông đùa, hài hước
Đây là cung bậc “nhẹ” của tiếng cười. Người bình dân mệt sông nước tự trào, bông đùa, … dù là những sáng tác dân gian, nhưng yếu tố tự tình vẫn “đậm” dấu ấn. Trước hết ta gặp giọng điệu này ở những câu ca dao đùa vui, trào lộng với nội dung diễn tả những sự việc “lạ” trong cuộc sống hay sự “hớ hênh” của con người.
Một cô nàng thật thà cả tin đã giật mình “hú vía” vì kịp thời nhận ra “chân tướng” đối tượng:
May không chút nữa em lầm
Khoai lang khô xắt lát em tưởng sâm cao ly bên Tàu
Đây là hình ảnh của “nạn nhân”:
Cô kia cười cợt ghẹo trai
Cái miệng méo xẹo như quai chèo đò
Cười cợt một con người không đứng đắn, “ham vui” bằng một giọng hóm hỉnh:
Giữa trưa đói bụng thèm cơm
Thấy đùi em vợ như tôm kho tàu, …
Nhưng nổi bật hơn hết giọng điệu bông đùa hài hước gặp rất nhiều trong những câu dao với đề tài tình yêu đôi lứa:
Từ một sự chọc ghẹo “quá đà”:
Vú em nhu nhú chúm cau
Cho anh bóp cái có đau anh đền
Hay
Nước láng linh chảy ra Vàm Cú
Thấy em chèo cặp vú muốn hun
Một lời tỏ tình cũng đầy tiếng cười hơn là chủ đích thực của nó:
Thương em nên mới đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau
May đất mềm nên mới hổng đau
Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này
Đến lúc anh chàng tương tư, giọng điệu cũng bông lơn hết chỗ nói:
Vắng cơm ba bữa còn no
Vắng em một bữa giở giò không lên
Khẳng định sự chung thuỷ dù muôn ngàn trở lực:
Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông
Ngay những mộng mơ tơ tưởng cũng không kém phần hài hước:
Phòng loan trải chiếu rộng thình
Anh lăn qua đụng cái gối, tưởng bạn mình, em ơi!
Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa
Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều
Họ xa nhau vì bởi ông tơ, bà nguyệt thì những “đối tượng” ấy thành nạn nhân để họ trút giận:
Quất ông tơ cái trót
Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần
Biểu ông xe mối chỉ năm bảy lần, ổng không xe
Trong khi tan vỡ duyên tình giọng điệu kia cũng đem đến những nét khác biệt:
Tưởng giếng sâu qua nối sợi dây cụt
Ai dè giếng cạn nó hụt cái sợi dây
Qua tới đây mà không cưới được cô Hai mầy
Qua chèo ghe ra biển… đợi nước đầy qua chèo vô
Nó không như giọng tâm tình thường thấy ở những câu ca biểu hiện cung bậc này trong tình yêu:
Tưởng giếng sâu anh nối sợi dây dài
Ai dè nước giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây
Trong cuộc sống vợ chồng, khi có sự bất hoà, giọng điệu hài hước cũng có mặt kịp thời:
Mù u ba lá mù u
Vợ chồng cãi lộn con cu giảng hoà
3.2.2. Giọng châm biếm, đả kích
Đả kích, châm biếm xét về mặt chức năng của ca dao hài hước nó sẽ ở một “cấp độ” cao hơn, nặng hơn. Nếu như giọng bông đùa, hài hước phần lớn thể hiện chức năng tự trào, để giải trí, thì châm biếm, đả kích hướng tới việc phên phán đối tượng với những thói hư tật xấu của con người trong cuộc sống.
Cũng là lời tỏ tình, nhưng chúng ta hãy nghe đây lời đối đáp:
+ Anh có thương em thì cho em một đồng,
Để em mua gan công, mật cóc thuốc chồng em theo anh.
+ Nghe hò tao phát nổi xung
Dớt cho một phảng chết chung cho rồi!
Một lời tỏ tình với một cô gái đã có chồng đã là trái đạo lý. Song, khi nghe cô gái kia đáp lại chuyện “thuốc chồng”, người ngỏ lời hay đằng sau họ là nhân dân đã không thể dung thứ, đó là lời cảnh báo: bắt cho gian phu dâm phụ “chết chung!” âu cũng là điều tất yếu.
Trong tình duyên, tiếng cười “lãnh nhách” làm cho hai kẻ hai đường:
Tưởng đâu bến đã gặp thuyền
Nào hay em cười lãng nhách anh liền lui ghe
Chàng trai ý thức rằng không phải lúc nào tiếng cười cũng vui cửa vui nhà, có khi đó là điều tai hoạ:
Thà rằng chịu cảnh gông xiềng
Còn hơn có vợ cười vô duyên trong nhà
Đối với những con người không đứng đắn:
Con quạ nó núp vườn chồi
Thấy em đứng cười lỏn lẻn với ai
Chắc chắn đây là “đối tượng” không thể tin được, bởi sự gian dối, lọc lừa:
Quét nhà long mốt long hai
Cha mẹ đi vắng dẫn trai vô nhà
Đối với những con người “vượt rào” như vậy, dân gian không tiếc lời:
Chuối non vú ép chát ngầm
Trai tơ đòi vợ khóc thầm thâu đêm
Khóc đêm mẹ lại mắng thêm
Vợ đâu tao cưới nửa đêm cho mày?
Có khi cả “người lớn” cũng là “nạn nhân” cửa sự châm biếm:
Mẹ ơi con muốn lấy chồng
Con ơi mẹ cũng một lòng như con
Họ tự khuyên mình:
Cười người ngó lại sau vai
Xem mình trong sạch hơn ai mà cười
Và đây là những chân tướng bị tác giả dân gian lên án, phên phán, đả kích:
Một văn nhân nào đấy tự khoe là học đạo lý thánh hiền, nhưng cũng không thoát được dục vọng thường tình của con người:
Văn chương chữ nghĩa bề bề
Thần l.. ám ảnh mà mê mẫn đời
Một tay anh hùng làm ra dáng vẻ đạo mạo, trở thành tiếng cười đầy ẩn ý mỉa mai:
Dậm chân xuống đất cái đùng
Vỗ l … cái phạch chào anh hùng đến đây!
Một thầy bói, chuyên sống bằng nghề ăn may nói mò:
Nực cười thầy bói trèo cau
Buồng thì không bẻ bẻ tàu quơ quơ
Hãy nghe giọng cười mà tác giả dân gian giễu cợt thầy:
Nhà bà có con chó đen
Người lạ nó sủa người quen nó mừng
Nhà bà có cái cối xay
Bốn chân dưới đất, ngõng quay lên trời
Và đây là những bài học, những lời cảnh báo ẩn chứa giọng điệu mà chúng tôi đề cập:
+ Rung rinh nước chảy qua đèo
Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng
+ Mèo hoang thì chó cũng hoang
Một chàng ăn trộm gặp nàng nhổ môn
+ Có chồng thì mặc có chồng
Tôi đi ngủ dạo kiếm ít đồng mua rau!
+ Cầm chài mà vải bụi tre
Con gái mười bảy đi ve ông già!
+ Củ lang nấu lộn củ mì
Cháu lấy chồng dì kêu dượng bằng anh
+ Con gái chơi với con trai
Coi chừng cặp vú như hai sọ dừa
4. Cách thức thể hiện của những giọng điệu trào phúng:
4.1. Dùng cách nói phóng đại
Phong cách ngôn ngữ học gọi đây là biện pháp tu từ khoa trương, hay thậm xưng, tức là phương thức cường điệu một mức độ, một tính chất, một đặc điểm nào đó của sự vật, sự việc, con người:
+ Phải chi cắt ruột đừng đau
Để em cắt ruột em trao anh mang về!
+ Con gái mười bảy mười ba
Đêm nằm với mẹ, khóc la đòi chồng
Mẹ giận mẹ phát ngang hông:
”Đồ con chết chủ đòi chồng thâu đêm”!
Chúng ta vốn đã rất quen lối nói này ở ca dao Việt Nam:
Lỗ mũi mười tám cánh lông
Chồng thương chồng bảo tơ hồng trời cho
4.2. Nghệ thuật chơi chữ.
Hoàng Phê giải thích: “Chơi chữ là lợi dụng hiện tượng đồng âm, đa nghĩa, v.v, … trong ngôn ngữ nhằm gây một tác dụng nhất định (như bóng gió, châm biếm, hài hước, …) trong lời nói. (Từ điển Tiếng Việt – Nhà xuất bản Giáo Dục. H. 1994).
Từ điển thuật ngữ văn học gọi chơi chữ là “lộng ngữ” và giải thích là một biện pháp tu từ có đặc điểm: người sáng tác sử dụng những chỗ giống nhau về ngữ âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn cảnh để tạo ra sự bất ngờ thú vị trong cách hiểu, trong dòng liên tưởng của người, người nghe”. Các hình thức của lộng ngữ rất phong phú, trong đó có: nói lái, dùng từ đồng âm hoặc gần âm, dùng từ gần nghĩa, tách một từ thành các từ khác nhau. (có thể xem đây là hình thức của nghệ thuật chơi chữ – người viết chú thêm). Các tác giả trong quyển từ điển này cho rằng: nhìn chung các lộng ngữ đều mang tính hài hước, thường được sử dụng trong văn thơ trào phúng (có thể xem đây là tác dụng của nghệ thuật chơi chữ – người viết chú thêm). [183; 4]
Như vậy, giọng điệu bông đùa, trào lộng không thể thiếu được biện pháp nghệ thuật này. Chơi chữ có rất nhiều dạng, ở đây chúng tôi chỉ điểm qua những hình thức cơ bản của chơi chữ mà thôi!
Dùng từ đồng âm:
+Cu tôi vừa mới đâm lông
Cho mượn cái lồng nhốt đỡ vài đêm?
+Cu tui ăn đậu ăn mè
Ăn chi của chị mà chị đè cu tui
Cu vừa chỉ con chim gáy, vừa dùng để ám chịu điều mà nhận vật trữ tình kia muốn nói. Lồng vừa là dụng cụ dùng để nhốt chim và lẽ tất nhiên câu ca nọ không dừng lại ở đó, nghĩa mà nó muốn hướng đến là nghĩa ẩn ở chiều sâu, buộc “đối phương” phải hiểu …
Dùng từ đa nghĩa:
Cồng cộc bắt cá bầu eo
Chi chê tôi bé, tôi trèo chị coi
Cách nói lấp lửng “chê tôi bé” hay “cái gì” của tôi bé! Tác giả câu ca còn bạo dạn “đòi” trèo (gợi hành động ân ái), … tất cả đã tạo nên sự hài hước mà không kém phần thú vị!
Lối lấp lửng này, ta còn gặp nhiều câu khác:
+ Ví ví von von
Anh cho một cái, cỏng con về nhà
+ Cô tú kẽo kẹt cậu cai
Vợ chồng thuyền chài kẽo kẹt dưới sông
Cách chơi chữ ở đây là dùng từ tượng thanh chỉ cả hành động thực lẫn động tác của nam nữ lúc yêu đương!
Lối nói lái:
Tặng anh cái áo tôn là
Ban ngày mặc mát tối ra câu đề
Hai chữ cuối của mỗi dòng đều sử dụng cách nói lái.
4.3. Dùng yếu tố tục
Chuyện nói tục thiên về cái tục là chuyện của mọi dân tộc, trong đó có người Việt Nam. Nói tục nhằm vào một sự hạ giá. Song không nên quá cực đoan về sự hạ giá này. Nói tục để gây cười nhằm thoả mãn sự nghịch ngợm. Nói lái trong nghệ thuật chơi chữ cũng là một phần của nói tục. Thực tế của việc nói tục là dùng nhiều từ ngữ chỉ hoặc gợi sinh thực khí (của đàn bà nhiều hơn, có lẽ do văn hoá và tính cách đàn ông, nam giới nói tục nhiều hơn chăng?) hay cả hành động ân ái vợ chồng. Tất cả những yếu tố tục ấy tạo giọng điệu bông đùa, gây tiếng cười thoải mái:
+ L… này l… chẳng sợ ai
Sợ thằng say rượu đ… dai đau l…
+ Gió nam non thổi lòn hang chuột
Đ… em rồi, đ… nữa được không em?
+Cô Ba, cô Bốn lấy chồng
Cô Năm ở lại giật mồng tăng tăng
+ Xót lòng mẹ góa con côi
Kiếm ăn lần hồi l… lớn bằng mo
Dĩa bàng thang con tôm càng dựng đứng
Bởi gia cảnh anh nghèo nên c…  nứng nửa con
5. Vài kết luận
Cái cười, tiếng cười là một yếu tố, một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống con người. Ca dao dân ca là tiếng lòng của người lao động, đương nhiên họ đem tiếng cười vào trong lời thơ điệu hò câu lý như một lẽ tất nhiên không phải bàn cãi.
Qua cái cười ấy, chúng ta hôm nay thấy được tâm hồn phúng khoáng, bông đùa, hay trào lộng vừa để tạo không khí thoải mái, vui vẻ, nhưng không dừng lại ở đó, nó còn ẩn chứa nhiều bài học răn đời, nhiều đối tượng bị đả kích giễu cợt, … cốt làm cho cuộc sống tốt hơn, đẹp hơn.
Trí tuệ thể hiện những vần ca điệu hát ấy như những hạt ngọc sáng ngời, nó là sản phẩm của những tâm hồn “gần bùn mà chẳng tanh hôi mùi bùn”. Tìm trong văn học dân gian những kho tàng tri thức quý giá đó là một việc cần thiết cho những yêu và quý cội nguồn văn hoá dân tộc./.

Khảo sát những câu ca dao Tây Nam bộ trong công trình Bộ hành với ca dao do Lê Giang sưu tầm, sưu tập và biên soạn, chúng tôi nhận thấy có gần 60 bài ca dao xuất hiện bằng motip “Đôi ta …”. Dù cùng một dạng motip so sánh, song, xem xét kỷ từng nội dung, chúng tôi nhận thấy ở đó có nhiều điều thú vị đặc biệt.
 Thứ nhất, xét về cập độ nội dung, “đôi ta” luôn chỉ đến hai người, là hai đối tượng trong tình yêu lứa đôi. Thoạt nghĩ, đôi ta đã là chuyện “sum hợp một nhà”! Nhưng thật độc đáo, ở ca dao cụm đại từ này không dừng lại ở đó. Nó biểu hiện đầy đủ tất cả các cung bậc của tình yêu lứa đôi:

Từ buổi ban đầu gặp gỡ, một người nào đó trong “đôi ta” thốt lên:
Đôi ta như đá với dao
Năng liếc năng sắc năng chiều năng quen
Hay bộc lộ một thái độ “mừng rỡ” không thể kèm nén:
Đôi ta bắt gặp nhau đây
Như con bò gầy gặp bãi cỏ non
Đã quen biết nhau, họ coi đây như “duyên tiền định”:
Đôi ta như đũa trong kho
Không tề không tiện không so cũng bằng
Tình đầu, duyên mới, sự trong trắng trinh nguyên được bộ lộ:
Đôi ta như áo mới may
Như chuông mới đúc, như cây mới bào
Và khéo léo ngõ lời:
Đôi ta mưa ướt áo rồi
Kiếm nơi đỏ lửa vô ngồi hơ chung
Họ dặn dò nhau:
- Đôi ta như lúa phơi màu
Đẹp duyên thì lấy ham giàu làm chi
– Đôi ta hát củi một rừng
Bứt dây một cội xin đừng nghe ai
Nguyện vượt mọi trắc trở, tìm đến nhau, hướng về nhau:
- Đôi ta như ruộng năm sào
Cách bờ ở giữa làm sao cho liền
– Đôi ta như thể đôi chim
Ngày ăn tứ tán tối tìm cội cây
Dù muôn vàn cách trở “đôi ta” cũng sẵn sàng nâng đỡ dìu dắt nhau đến cùng trời cuối đất:
Đôi ta như rắn liu điu
Nước chảy mặc nước ta dìu lấy nhau
Còn đây một lời thề nguyền quen thuộc trong tình yêu lứa đôi:
- Đôi ta chung thuỷ vẹn tuyền
Xem lên mái tóc hương nguyền còn đây
– Đôi ta thề thốt giữa đàng
Vạch cây khắc chữ hỏi chàng nhớ không?
Đã đến lúc duyên tình bén lửa, “đôi ta” không thể chia xa nhau nữa, cung bậc “tương tư” cũng hiện lên thật đẹp:
Đôi ta gá nghĩa giữa đồng
Về nhà luống chịu nước mắt hồng tuôn rơi
Tình yêu nào rồi cũng đến hồi kết thúc, kết quả thì không phải một mà là hai:
Hoặc “đôi ta” làm con một nhà:
Đôi ta là nghĩa tào khang
Trăm năm vẹn giữ lòng vàng thuỷ chung
Họ luôn trọn thuỷ tròn chung dù muôn vàn khốn khó:
Đôi ta bá nghệ tuỳ thân
Sớm hái rau chiều đốn củi đỡ đần nuôi nhau
Hoặc chịu cảnh:
Đôi ta chẳng đặng sum vầy
Khác nào kiếp nhạn lạc bầy kêu sương
Nguyên nhân thì có nhiều, một trong số đó là:
Đôi ta như lúa đòng đòng
Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha
Hay như nguyên nhân gây ra là bởi “ai” trong “đôi ta” ấy!
Đôi ta mới gặp đã lìa
Trách ai bẻ khoá quăng chìa xa nhau
Bởi tại “trời”:
Đôi ta trắc trở tại ai
Trăng lu vì bởi đám mây chàng ràng
Tóm lại, motif “đôi ta” đã diễn tả khá đầy đủ các cung bậc trong tình yêu lứa đôi, điều lý thú hấp trong loại hình nghệ thuật dân gian: ca dao!
Thứ hai, về nghệ thuật, “đôi ta như …” thể hiển nổi biện hình thức so sánh tu từ.
Đôi ta như quế với gừng
Dù xa cách mấy cũng đừng quên nhau
Nhưng không chỉ có thế, môtip này cũng sử dụng nhiều hình thức khác:
Đôi ta xôi đứng “xứng đôi”
Khi đi cũng đẹp, khi ngồi cũng cân
Câu ca sử dụng biện pháp chơi chữ theo cách nói lái giữa hai thành tố: xôi đứng (động từ) để tạo ra hình tượng “xứng đôi” (tính từ). Từ chuyện “đôi ta” cùng thực hiện hành động đứng “đồ xôi” để họ nói lên điều cần thiết hơn, ngõ lời: đôi ta – xứng đôi!
So sánh với điển tích:
Đôi ta như nghĩa Châu – Trần
Khi xa ngàn dặm khi gần tấc gang
Sách xưa Trung Quốc chép rằng: Châu Trần nhị tính thế thế hôn nhân, nghĩa là hai họ (có sách ghi là hai thôn) Châu và Trần đời đời kết hôn với nhau
Hay so sánh với mối tình Kim – Kiều, hai nhân vật quen thuộc của văn học viết (Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Đôi ta như Kim Trọng – Thuý Kiều
Đã lắm lúc đắng lại nhiều lúc cay
Mượn “mười lăm năm đoạn trường của hai nhân vật này để “đôi ta” nói lên cảnh tình “đắng cay” của chính họ!
Một môtip khác đi đôi chút với những điều mà chúng tôi đã đưa ra ở trên:
Đôi ta cùng một chữ nghèo
Tỷ như có bọt thì bèo lăn tăn
Không so sánh dạng “đôi ta như” quen thuộc mà đưa ra điểm chung của hai đối tượng được so sánh (đôi ta với bọt và bèo) trước đó là “chữ nghèo”, thay “như” bằng “tỷ”, không khác motip nhưng hình thức diễn đạt thì đa dạng hơn.
Thứ ba, chúng tôi xin điểm qua các đối tượng dùng để so sánh với “đôi ta”. Đã nói là so sánh tất chúng phải có điểm chung và từ điểm chung nó giúp cho người đọc liên tưởng để tìm ra nét tương đồng. Có khi điểm chung ấy hiển hiện ngay trên câu chữ mà tác giả dân gian sử dụng:
Đôi ta như thể con ong
Con quấn, con quít con trong con ngoài
Điểm giống nhau giữa đôi ta với “con ong” là sự “quấn quít” từ con trong đến con ngoài ấy!
Nhưng phần lớn, sự liên tưởng giữa đôi ta và đối tượng so sánh bị giấu, bị ẩn đi:
Đôi ta như quế với gừng
Dù xa xôi mấy cũng dừng quên nhau
Quế với gừng luôn ở cạnh nhau, vị cay của hai loại thực vật này tạo nên cảm giác nồng ấm, … tất cả những điều đó được dùng “huy động” để liên tưởng đến tình “đôi ta”, …
Qua khảo sát, chúng tôi thấy ở motip so sánh “đôi ta” có rất nhiều “đối tượng được đưa ra để người tiếp nhận liên tưởng. Từ những hình tượng dân dã, quen thuộc, đó là các con vật như rắn liu điu, như con bò gầy, như cá thờn bơn, như thể con ong, là đôi chim, … đó là các đồ vật: đá với dao, nút với khuy, như thể đồng tiền, như bộ chén chung, đũa trong kho … đó là các loài cây cỏ: như lựu với đào; như quế với gừng; như lúa đòng đòng; như lúa phai màu; như cỏ mọc hoang; … đó là như hình ảnh chung chung từ một cổ ngữ: như ngãi Châu – Trần (một điển tích); là ngãi tào khang (một từ cổ ẩn chứa một điển tích); như nghĩa ba sinh (từ Hán Việt, gợi chuyện trăm năm), ….
Vài dòng kết luận
Trí tuệ dân gian thật phong phú và sâu sắc, rất nhiều dạng thức cùng motip nhưng vẫn rất đa dạng, không hề trùng lặp, không tạo sự nhàm chán.
Những hình ảnh quen thuộc, gần gũi giản dị của cuộc sống thường nhật trở nên lung linh, đa sắc thái khi đi vào nghệ thuật so sánh. Bên cạnh đó, những từ Hán Việt, những điển tích trong sử sách càng làm cho những viên ngọc dân gian thêm chói sáng bởi sự tiếp thu sắc nét từ văn chương bác học./.
văn hóa

“Đôi Ta …” Trong Ca Dao Tây Nam Bộ

Tùng Phạm  |  at  09:45

Khảo sát những câu ca dao Tây Nam bộ trong công trình Bộ hành với ca dao do Lê Giang sưu tầm, sưu tập và biên soạn, chúng tôi nhận thấy có gần 60 bài ca dao xuất hiện bằng motip “Đôi ta …”. Dù cùng một dạng motip so sánh, song, xem xét kỷ từng nội dung, chúng tôi nhận thấy ở đó có nhiều điều thú vị đặc biệt.
 Thứ nhất, xét về cập độ nội dung, “đôi ta” luôn chỉ đến hai người, là hai đối tượng trong tình yêu lứa đôi. Thoạt nghĩ, đôi ta đã là chuyện “sum hợp một nhà”! Nhưng thật độc đáo, ở ca dao cụm đại từ này không dừng lại ở đó. Nó biểu hiện đầy đủ tất cả các cung bậc của tình yêu lứa đôi:

Từ buổi ban đầu gặp gỡ, một người nào đó trong “đôi ta” thốt lên:
Đôi ta như đá với dao
Năng liếc năng sắc năng chiều năng quen
Hay bộc lộ một thái độ “mừng rỡ” không thể kèm nén:
Đôi ta bắt gặp nhau đây
Như con bò gầy gặp bãi cỏ non
Đã quen biết nhau, họ coi đây như “duyên tiền định”:
Đôi ta như đũa trong kho
Không tề không tiện không so cũng bằng
Tình đầu, duyên mới, sự trong trắng trinh nguyên được bộ lộ:
Đôi ta như áo mới may
Như chuông mới đúc, như cây mới bào
Và khéo léo ngõ lời:
Đôi ta mưa ướt áo rồi
Kiếm nơi đỏ lửa vô ngồi hơ chung
Họ dặn dò nhau:
- Đôi ta như lúa phơi màu
Đẹp duyên thì lấy ham giàu làm chi
– Đôi ta hát củi một rừng
Bứt dây một cội xin đừng nghe ai
Nguyện vượt mọi trắc trở, tìm đến nhau, hướng về nhau:
- Đôi ta như ruộng năm sào
Cách bờ ở giữa làm sao cho liền
– Đôi ta như thể đôi chim
Ngày ăn tứ tán tối tìm cội cây
Dù muôn vàn cách trở “đôi ta” cũng sẵn sàng nâng đỡ dìu dắt nhau đến cùng trời cuối đất:
Đôi ta như rắn liu điu
Nước chảy mặc nước ta dìu lấy nhau
Còn đây một lời thề nguyền quen thuộc trong tình yêu lứa đôi:
- Đôi ta chung thuỷ vẹn tuyền
Xem lên mái tóc hương nguyền còn đây
– Đôi ta thề thốt giữa đàng
Vạch cây khắc chữ hỏi chàng nhớ không?
Đã đến lúc duyên tình bén lửa, “đôi ta” không thể chia xa nhau nữa, cung bậc “tương tư” cũng hiện lên thật đẹp:
Đôi ta gá nghĩa giữa đồng
Về nhà luống chịu nước mắt hồng tuôn rơi
Tình yêu nào rồi cũng đến hồi kết thúc, kết quả thì không phải một mà là hai:
Hoặc “đôi ta” làm con một nhà:
Đôi ta là nghĩa tào khang
Trăm năm vẹn giữ lòng vàng thuỷ chung
Họ luôn trọn thuỷ tròn chung dù muôn vàn khốn khó:
Đôi ta bá nghệ tuỳ thân
Sớm hái rau chiều đốn củi đỡ đần nuôi nhau
Hoặc chịu cảnh:
Đôi ta chẳng đặng sum vầy
Khác nào kiếp nhạn lạc bầy kêu sương
Nguyên nhân thì có nhiều, một trong số đó là:
Đôi ta như lúa đòng đòng
Đẹp duyên nhưng chẳng đẹp lòng mẹ cha
Hay như nguyên nhân gây ra là bởi “ai” trong “đôi ta” ấy!
Đôi ta mới gặp đã lìa
Trách ai bẻ khoá quăng chìa xa nhau
Bởi tại “trời”:
Đôi ta trắc trở tại ai
Trăng lu vì bởi đám mây chàng ràng
Tóm lại, motif “đôi ta” đã diễn tả khá đầy đủ các cung bậc trong tình yêu lứa đôi, điều lý thú hấp trong loại hình nghệ thuật dân gian: ca dao!
Thứ hai, về nghệ thuật, “đôi ta như …” thể hiển nổi biện hình thức so sánh tu từ.
Đôi ta như quế với gừng
Dù xa cách mấy cũng đừng quên nhau
Nhưng không chỉ có thế, môtip này cũng sử dụng nhiều hình thức khác:
Đôi ta xôi đứng “xứng đôi”
Khi đi cũng đẹp, khi ngồi cũng cân
Câu ca sử dụng biện pháp chơi chữ theo cách nói lái giữa hai thành tố: xôi đứng (động từ) để tạo ra hình tượng “xứng đôi” (tính từ). Từ chuyện “đôi ta” cùng thực hiện hành động đứng “đồ xôi” để họ nói lên điều cần thiết hơn, ngõ lời: đôi ta – xứng đôi!
So sánh với điển tích:
Đôi ta như nghĩa Châu – Trần
Khi xa ngàn dặm khi gần tấc gang
Sách xưa Trung Quốc chép rằng: Châu Trần nhị tính thế thế hôn nhân, nghĩa là hai họ (có sách ghi là hai thôn) Châu và Trần đời đời kết hôn với nhau
Hay so sánh với mối tình Kim – Kiều, hai nhân vật quen thuộc của văn học viết (Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Đôi ta như Kim Trọng – Thuý Kiều
Đã lắm lúc đắng lại nhiều lúc cay
Mượn “mười lăm năm đoạn trường của hai nhân vật này để “đôi ta” nói lên cảnh tình “đắng cay” của chính họ!
Một môtip khác đi đôi chút với những điều mà chúng tôi đã đưa ra ở trên:
Đôi ta cùng một chữ nghèo
Tỷ như có bọt thì bèo lăn tăn
Không so sánh dạng “đôi ta như” quen thuộc mà đưa ra điểm chung của hai đối tượng được so sánh (đôi ta với bọt và bèo) trước đó là “chữ nghèo”, thay “như” bằng “tỷ”, không khác motip nhưng hình thức diễn đạt thì đa dạng hơn.
Thứ ba, chúng tôi xin điểm qua các đối tượng dùng để so sánh với “đôi ta”. Đã nói là so sánh tất chúng phải có điểm chung và từ điểm chung nó giúp cho người đọc liên tưởng để tìm ra nét tương đồng. Có khi điểm chung ấy hiển hiện ngay trên câu chữ mà tác giả dân gian sử dụng:
Đôi ta như thể con ong
Con quấn, con quít con trong con ngoài
Điểm giống nhau giữa đôi ta với “con ong” là sự “quấn quít” từ con trong đến con ngoài ấy!
Nhưng phần lớn, sự liên tưởng giữa đôi ta và đối tượng so sánh bị giấu, bị ẩn đi:
Đôi ta như quế với gừng
Dù xa xôi mấy cũng dừng quên nhau
Quế với gừng luôn ở cạnh nhau, vị cay của hai loại thực vật này tạo nên cảm giác nồng ấm, … tất cả những điều đó được dùng “huy động” để liên tưởng đến tình “đôi ta”, …
Qua khảo sát, chúng tôi thấy ở motip so sánh “đôi ta” có rất nhiều “đối tượng được đưa ra để người tiếp nhận liên tưởng. Từ những hình tượng dân dã, quen thuộc, đó là các con vật như rắn liu điu, như con bò gầy, như cá thờn bơn, như thể con ong, là đôi chim, … đó là các đồ vật: đá với dao, nút với khuy, như thể đồng tiền, như bộ chén chung, đũa trong kho … đó là các loài cây cỏ: như lựu với đào; như quế với gừng; như lúa đòng đòng; như lúa phai màu; như cỏ mọc hoang; … đó là như hình ảnh chung chung từ một cổ ngữ: như ngãi Châu – Trần (một điển tích); là ngãi tào khang (một từ cổ ẩn chứa một điển tích); như nghĩa ba sinh (từ Hán Việt, gợi chuyện trăm năm), ….
Vài dòng kết luận
Trí tuệ dân gian thật phong phú và sâu sắc, rất nhiều dạng thức cùng motip nhưng vẫn rất đa dạng, không hề trùng lặp, không tạo sự nhàm chán.
Những hình ảnh quen thuộc, gần gũi giản dị của cuộc sống thường nhật trở nên lung linh, đa sắc thái khi đi vào nghệ thuật so sánh. Bên cạnh đó, những từ Hán Việt, những điển tích trong sử sách càng làm cho những viên ngọc dân gian thêm chói sáng bởi sự tiếp thu sắc nét từ văn chương bác học./.

Đồng hành với những nhát cuốc, luống cày, khai phá vùng hoang vu đồng bằng Nam bộ, lưu dân ở đây cũng đã gieo những khúc hát ca ngợi tình yêu quê hương, đôi lứa… Trước bát ngát ruộng đồng, cò bay mỏi cánh, nên dù là khúc ca được biến bẻ từ lời cũ, hay mới sáng tác, bằng vào làn hơi và giọng điệu chơn chất đặc trưng của mình.
Nhắc đến dân ca Nam bộ thì không thể bỏ qua hò – điệu hát bình dân đồng quê, được thể hiện bởi âm tiết đơn giản, làn điệu dìu dặt, nhẹ nhàng, truyền cảm. Hò diễn ra trong nhiều trường hợp. Nếu hò lẻ một mình gọi hò rơi. Đây không phải là cuộc hò (hò hội, hò kết) mà là ngẫu hứng tự nhiên. Người ta hò lên cốt để vui miệng, vui tai, gọi là hò buông rơi. Câu hò rất “vô tư”, không có ý bỏ, gài, nên không chờ ai bắt, gỡ. Tuy nhiên, có khi ai đó nghe được, cảm thấy “trúng hệ”, họ không thể không cất tiếng hò nối theo. Cứ thế mà luân phiên suốt, y như một sự hàn huyên của những người bạn thân tâm đầu ý hợp lâu ngày mới gặp lại. Nếu họ hò đối đáp xung quanh một chủ đề, cũng có thể kể là cuộc hò.

Ta thử dõi theo một cuộc hò khá gay cấn giữa chàng trai “Hai Huyện” của An Giang và cô gái Mỹ Hiệp (Chợ Mới-An Giang). Mở đầu là những câu hò rao, hay hò dạo, nội dung chào mời, thăm hỏi, mừng bạn. Họ rào đón từ tốn. Giọng điệu, lời lẽ khiêm nhường nhằm ngầm tìm hiểu, dò dẫm tình ý, tài nghệ. Để không phải đợi chờ lâu, mở đầu là vài câu “mồi” cũng là “đưa ra thể lệ”:
Hò ơ… Một đàn cò trắng bay chung.
Bên nam bên nữ ta đồng cất lên
Cất lên một tiếng linh đình
Cho loan sánh phụng, ờ…
Hò ơ… Cho loan sánh phụng, cho mình sánh ta, ơ…
Hò ơ… Cất lên một tiếng la đà.
Đàn ông hát trước đàn bà hát sau, ơ…
Thấy đã “có không khí”, từ đám đông một anh chàng khá dễ thương cất cao giọng:
Hò ơ… Tôi xin mở lời chào,
Chào hết nội gia
Bên hữu đàn bà bên tả đàn ông
Đông tây tôi chào hết một vòng
Tôi mời cô nào son rỗi, ờ…
Hò ơ… Cô nào son rỗi thì xông vô hò, ơ…
Ngay lúc đó, một cô thôn nữ được các bạn gái đẩy đẩy vào, dạn dĩ:
Hò ơ… Tới đây không hát không hò thì cô bác cho là quê
Mà hò mà hát thì sợ cô bác cho là tôi mê người tình, ờ…
Một bà cụ bỏm bẻm “khích tướng”:
Hò ơ… Tới đây không hát thời hò,
Không phải con cò ngóng cổ mà nghe ơ…
Hò ơ… Con cò nó ở ngọn tre.
Mà nó còn xuống đất đặng chờ nghe cô hò đó cô ơi…”
Nàng đưa vội ánh mắt về phía chàng rồi:
Hò ơ… Áo đen tra nút cũng đen,
Tôi hò với người lạ chớ người quen tôi hổng hò, ờ…
Phớt nhìn nhan sắc mặn mòi và qua giọng hò, chàng lại nghĩ ngay là gái Mỹ Hiệp! Chàng không bỏ lỡ cơ hội bằng vàng, xắn ngay liền:
Hò ơ… xứ không quen, người thời cũng lạ,
Muốn cất tiếng hò trong dạ hoài nghi,
Cô em có chồng chưa nói thiệt ra đi!
Bữa sau anh cậy mai đến nói, ờ…
Hò ơ… Anh cậy mai đến nói, sẵn biết đường đi khỏi tìm, ờ…
Đâu đó có vài tiếng cười khúc khích… Nàng không vội gì “nói thiệt”, cất tiếng “tìm hiểu” một cách khá… “ngây thơ”:
Hò ơ… Áo trắng không vắn không dài
Sao anh không bận ờ…
Hò ơ… Sao anh không bận, bận hoài áo đen ơ…
Chàng hò đáp rất dễ thương:
Hò ơ… Tui ở cho cô bác người ta khen
Áo trắng xếp cất ờ…
Hò ơ… Áo trắng xếp cất, áo đen đi mần ơ…
Nàng tiếp tục “tấn công”, nhưng cũng trong tinh thần “tìm hiểu”:
Hò ơ… Gặp anh đây giữa đường giữa sá,
Em hỏi anh ở nhà ngói hay nhà lá,
Cửa khóa hay cửa gài,
Trâu anh được mấy đôi,
Ruộng anh thời mấy mẫu, ờ…
Hò ơ… Ruộng anh thời mấy mẫu, mà bạc anh dư xài hay tạm đỡ của ai ơ…
Chàng vẫn rất tự tin “chỉnh nhẹ”:
Hò ơ…Cô em ơi, cô em đừng có thấy người ta giàu mà bưng mà bợ
Cô em đừng có tưởng anh đây nghèo mà sợ mà khinh
Nhà người ta cột căm xe nền đúc ờ…
Ờ… ơ… Nhà cột căm xe nền đúc (mà) còn đứt chưn… nhãn… ớ… tiền ờ… ơ…
Rồi được trớn, hò luôn:
Hò ơ… Phụ mẫu anh nghèo, dòng họ anh đông,
Mỗi người một đồng cũng cưới được em! ơ…
Nói nghèo mà khoe dòng họ đông, theo quan niệm xưa, rõ ràng chàng gián tiếp để lộ phần nào đặc điểm con nhà gia thế. Nàng hò đáp:
Hò ơ… Anh về tìm vảy con cá trê,
Tìm gan con tôm sú, tìm mề con lươn, ơ…
Ơ ơ… Anh tìm con bướm có xương ơ… ơ…
Ờ ơ… Dây tơ hồng có rễ (mà) đạo cang thường, ờ…
Hò ơ… Đạo cang thường chịu anh ơ…
Đến lúc này anh chàng mới té ngửa ra rằng hoa kia đã có chủ! Hèn nào nãy giờ vẫn cứ văng vẳng giọng cười tinh nghịch! Cụt hứng, chàng vừa đi riết xuống bến vừa nhổ sào vừa lịch sự hò kiếu một câu làm nức lòng người dự khán:
Hò ơ… Anh đi anh nhớ Tháp Mười,
Nhớ câu hò Mỹ Hiệp, ờ…
Hò ơ… Nhớ câu hò Mỹ Hiệp, nhớ giọng cười Mỹ Long, ơ…
Tương truyền chàng trai về lại quê nhà, miệt Cù lao Ông Chưởng. Một thời gian sau, có chút danh phận chi đó, để kỷ niệm cuộc hò ấn tượng năm xưa, “chàng trai Hai Huyện” đã đề nghị với các hương chức (và được chấp thuận) đặt tên hai làng quê đẹp ở xứ mình là Mỹ Hiệp và Mỹ Long (sau gọi trại là Mỹ Luông).
Tóm lại, dù là như hò lẻ hay hò kết, hò môi (hò mép hay hò bắt quàng), hò văn (hay hò sách), hò thơ, hò truyện (truyện Tàu), hò tuồng, hò tiểu thuyết, hò thầy chùa, hò quốc sự…thì cấu trúc của một giọng (điệu) hò đều chia làm 3 giai đoạn. Trước hết là cất cao giọng lấy hơi (Hò ơ…- dài hay ngắn, liên tục hay đứt khúc là do trình độ biểu diễn của nghệ nhân). Kế đó là là lời kể (trình bày nội dung, nêu lên một hay nhiều vấn đề, tùy ý. Nếu dài thì tự phân ngắt để nghỉ hơi ơ, ờ…; thường thì lúc hò tiếp, người ta lặp lại câu khi nghỉ lúc nãy để người nghe dễ dàng cảm nhận được tính liên tục). Sau hết là giọng ngân (ngân dài ra theo âm của tiếng cuối câu chót, như lúc nghỉ hơi, nhưng ngân dài hơn), nếu hụt hơi thì coi như thua, “đứt” về mặt nghệ thuật.
Tuy nhiên điệu hò ở Đồng Tháp có khác đôi chút. Những tiếng “hò ơ” hay “hò hơ” được thay bằng “hòa ơ” hoặc “hòa hơ”… Làn hơi phải mượt mà và tròn tiếng, đặc biệt nhất là sự luyến láy sao cho thật ngọt tai. Có thể nói, tất cả những câu (bài) ca dao thuộc loại trữ tình đều biểu diễn được dưới dạng “hò”. Nghệ nhân chỉ cần bắt đầu bằng những tiếng Hò hơ (hay Hòa ơ…), và thêm tiếng đưa hơi “ờ” ở giữa câu cuối (để lấy hơi), xong, lại bắt đầu bằng tiếng “Hò ơ” khi ngâm câu cuối, và tất nhiên tiếng cuối của câu cuối ấy cũng có tiếng “ơ”. Vậy là nghệ nhân đã hoàn tất một câu hò, để nhường lời cho đối tượng đang hò đối đáp với mình. Ông Nguyễn Hiến Lê có ghi nhận một cuộc hò Ghen vì hò trong sách Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười. Xin trích vài câu nam và nữ đối đáp. Bên nam cất tiếng:
Hò o o ớ ớ… Mù u bông trắng lá thắm nhụy vàng ơ ơ ơ…
Anh đi khắp xứ, tới đây mới được gặp nàng ơ ơ ơ… thật là dễ thương ơ ơ…
Hò o o ớ ớ… Nghe giọng nàng, anh vẫn vơ vẩn vấn vương,
Sống cùng nhau chẳng được, cho anh phải mơ màng chiêm bao…
Bên nữ đáp lại:
Hò o o ớ ớ… Lửng da trời bay lượn con chim hồng,
Gặp nhau sao quá trễ cho tấm lòng này xót xa,
Đêm nằm em luống những thở ra,
Đôi ta chẳng…
Tới tiếng “đôi ta” , mắt cô gái sáng lên, đắm đuối trong ánh trăng và giọng hơi lơi lả, khiến người chồng đi ngang nổi cơn ghen…
Rõ ràng “hò Nam Bộ” mỗi vùng miền mỗi khác, chứ phải đâu “hò nào cũng là hò”!
Tài liệu tham khảo:
- Nguyễn Hiến Lê, Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười. Nxb. Nguyễn Hiến Lê, S., 1954.
– Thơ văn Đồng Tháp trước 1945, Gs. Lê Trí Viễn (chủ nhiệm). Nxb. Tổng hợp Đồng Tháp, 1986.
văn hóa nam bộ

Nhớ Câu Hò Miền Tây

Tùng Phạm  |  at  09:41

Đồng hành với những nhát cuốc, luống cày, khai phá vùng hoang vu đồng bằng Nam bộ, lưu dân ở đây cũng đã gieo những khúc hát ca ngợi tình yêu quê hương, đôi lứa… Trước bát ngát ruộng đồng, cò bay mỏi cánh, nên dù là khúc ca được biến bẻ từ lời cũ, hay mới sáng tác, bằng vào làn hơi và giọng điệu chơn chất đặc trưng của mình.
Nhắc đến dân ca Nam bộ thì không thể bỏ qua hò – điệu hát bình dân đồng quê, được thể hiện bởi âm tiết đơn giản, làn điệu dìu dặt, nhẹ nhàng, truyền cảm. Hò diễn ra trong nhiều trường hợp. Nếu hò lẻ một mình gọi hò rơi. Đây không phải là cuộc hò (hò hội, hò kết) mà là ngẫu hứng tự nhiên. Người ta hò lên cốt để vui miệng, vui tai, gọi là hò buông rơi. Câu hò rất “vô tư”, không có ý bỏ, gài, nên không chờ ai bắt, gỡ. Tuy nhiên, có khi ai đó nghe được, cảm thấy “trúng hệ”, họ không thể không cất tiếng hò nối theo. Cứ thế mà luân phiên suốt, y như một sự hàn huyên của những người bạn thân tâm đầu ý hợp lâu ngày mới gặp lại. Nếu họ hò đối đáp xung quanh một chủ đề, cũng có thể kể là cuộc hò.

Ta thử dõi theo một cuộc hò khá gay cấn giữa chàng trai “Hai Huyện” của An Giang và cô gái Mỹ Hiệp (Chợ Mới-An Giang). Mở đầu là những câu hò rao, hay hò dạo, nội dung chào mời, thăm hỏi, mừng bạn. Họ rào đón từ tốn. Giọng điệu, lời lẽ khiêm nhường nhằm ngầm tìm hiểu, dò dẫm tình ý, tài nghệ. Để không phải đợi chờ lâu, mở đầu là vài câu “mồi” cũng là “đưa ra thể lệ”:
Hò ơ… Một đàn cò trắng bay chung.
Bên nam bên nữ ta đồng cất lên
Cất lên một tiếng linh đình
Cho loan sánh phụng, ờ…
Hò ơ… Cho loan sánh phụng, cho mình sánh ta, ơ…
Hò ơ… Cất lên một tiếng la đà.
Đàn ông hát trước đàn bà hát sau, ơ…
Thấy đã “có không khí”, từ đám đông một anh chàng khá dễ thương cất cao giọng:
Hò ơ… Tôi xin mở lời chào,
Chào hết nội gia
Bên hữu đàn bà bên tả đàn ông
Đông tây tôi chào hết một vòng
Tôi mời cô nào son rỗi, ờ…
Hò ơ… Cô nào son rỗi thì xông vô hò, ơ…
Ngay lúc đó, một cô thôn nữ được các bạn gái đẩy đẩy vào, dạn dĩ:
Hò ơ… Tới đây không hát không hò thì cô bác cho là quê
Mà hò mà hát thì sợ cô bác cho là tôi mê người tình, ờ…
Một bà cụ bỏm bẻm “khích tướng”:
Hò ơ… Tới đây không hát thời hò,
Không phải con cò ngóng cổ mà nghe ơ…
Hò ơ… Con cò nó ở ngọn tre.
Mà nó còn xuống đất đặng chờ nghe cô hò đó cô ơi…”
Nàng đưa vội ánh mắt về phía chàng rồi:
Hò ơ… Áo đen tra nút cũng đen,
Tôi hò với người lạ chớ người quen tôi hổng hò, ờ…
Phớt nhìn nhan sắc mặn mòi và qua giọng hò, chàng lại nghĩ ngay là gái Mỹ Hiệp! Chàng không bỏ lỡ cơ hội bằng vàng, xắn ngay liền:
Hò ơ… xứ không quen, người thời cũng lạ,
Muốn cất tiếng hò trong dạ hoài nghi,
Cô em có chồng chưa nói thiệt ra đi!
Bữa sau anh cậy mai đến nói, ờ…
Hò ơ… Anh cậy mai đến nói, sẵn biết đường đi khỏi tìm, ờ…
Đâu đó có vài tiếng cười khúc khích… Nàng không vội gì “nói thiệt”, cất tiếng “tìm hiểu” một cách khá… “ngây thơ”:
Hò ơ… Áo trắng không vắn không dài
Sao anh không bận ờ…
Hò ơ… Sao anh không bận, bận hoài áo đen ơ…
Chàng hò đáp rất dễ thương:
Hò ơ… Tui ở cho cô bác người ta khen
Áo trắng xếp cất ờ…
Hò ơ… Áo trắng xếp cất, áo đen đi mần ơ…
Nàng tiếp tục “tấn công”, nhưng cũng trong tinh thần “tìm hiểu”:
Hò ơ… Gặp anh đây giữa đường giữa sá,
Em hỏi anh ở nhà ngói hay nhà lá,
Cửa khóa hay cửa gài,
Trâu anh được mấy đôi,
Ruộng anh thời mấy mẫu, ờ…
Hò ơ… Ruộng anh thời mấy mẫu, mà bạc anh dư xài hay tạm đỡ của ai ơ…
Chàng vẫn rất tự tin “chỉnh nhẹ”:
Hò ơ…Cô em ơi, cô em đừng có thấy người ta giàu mà bưng mà bợ
Cô em đừng có tưởng anh đây nghèo mà sợ mà khinh
Nhà người ta cột căm xe nền đúc ờ…
Ờ… ơ… Nhà cột căm xe nền đúc (mà) còn đứt chưn… nhãn… ớ… tiền ờ… ơ…
Rồi được trớn, hò luôn:
Hò ơ… Phụ mẫu anh nghèo, dòng họ anh đông,
Mỗi người một đồng cũng cưới được em! ơ…
Nói nghèo mà khoe dòng họ đông, theo quan niệm xưa, rõ ràng chàng gián tiếp để lộ phần nào đặc điểm con nhà gia thế. Nàng hò đáp:
Hò ơ… Anh về tìm vảy con cá trê,
Tìm gan con tôm sú, tìm mề con lươn, ơ…
Ơ ơ… Anh tìm con bướm có xương ơ… ơ…
Ờ ơ… Dây tơ hồng có rễ (mà) đạo cang thường, ờ…
Hò ơ… Đạo cang thường chịu anh ơ…
Đến lúc này anh chàng mới té ngửa ra rằng hoa kia đã có chủ! Hèn nào nãy giờ vẫn cứ văng vẳng giọng cười tinh nghịch! Cụt hứng, chàng vừa đi riết xuống bến vừa nhổ sào vừa lịch sự hò kiếu một câu làm nức lòng người dự khán:
Hò ơ… Anh đi anh nhớ Tháp Mười,
Nhớ câu hò Mỹ Hiệp, ờ…
Hò ơ… Nhớ câu hò Mỹ Hiệp, nhớ giọng cười Mỹ Long, ơ…
Tương truyền chàng trai về lại quê nhà, miệt Cù lao Ông Chưởng. Một thời gian sau, có chút danh phận chi đó, để kỷ niệm cuộc hò ấn tượng năm xưa, “chàng trai Hai Huyện” đã đề nghị với các hương chức (và được chấp thuận) đặt tên hai làng quê đẹp ở xứ mình là Mỹ Hiệp và Mỹ Long (sau gọi trại là Mỹ Luông).
Tóm lại, dù là như hò lẻ hay hò kết, hò môi (hò mép hay hò bắt quàng), hò văn (hay hò sách), hò thơ, hò truyện (truyện Tàu), hò tuồng, hò tiểu thuyết, hò thầy chùa, hò quốc sự…thì cấu trúc của một giọng (điệu) hò đều chia làm 3 giai đoạn. Trước hết là cất cao giọng lấy hơi (Hò ơ…- dài hay ngắn, liên tục hay đứt khúc là do trình độ biểu diễn của nghệ nhân). Kế đó là là lời kể (trình bày nội dung, nêu lên một hay nhiều vấn đề, tùy ý. Nếu dài thì tự phân ngắt để nghỉ hơi ơ, ờ…; thường thì lúc hò tiếp, người ta lặp lại câu khi nghỉ lúc nãy để người nghe dễ dàng cảm nhận được tính liên tục). Sau hết là giọng ngân (ngân dài ra theo âm của tiếng cuối câu chót, như lúc nghỉ hơi, nhưng ngân dài hơn), nếu hụt hơi thì coi như thua, “đứt” về mặt nghệ thuật.
Tuy nhiên điệu hò ở Đồng Tháp có khác đôi chút. Những tiếng “hò ơ” hay “hò hơ” được thay bằng “hòa ơ” hoặc “hòa hơ”… Làn hơi phải mượt mà và tròn tiếng, đặc biệt nhất là sự luyến láy sao cho thật ngọt tai. Có thể nói, tất cả những câu (bài) ca dao thuộc loại trữ tình đều biểu diễn được dưới dạng “hò”. Nghệ nhân chỉ cần bắt đầu bằng những tiếng Hò hơ (hay Hòa ơ…), và thêm tiếng đưa hơi “ờ” ở giữa câu cuối (để lấy hơi), xong, lại bắt đầu bằng tiếng “Hò ơ” khi ngâm câu cuối, và tất nhiên tiếng cuối của câu cuối ấy cũng có tiếng “ơ”. Vậy là nghệ nhân đã hoàn tất một câu hò, để nhường lời cho đối tượng đang hò đối đáp với mình. Ông Nguyễn Hiến Lê có ghi nhận một cuộc hò Ghen vì hò trong sách Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười. Xin trích vài câu nam và nữ đối đáp. Bên nam cất tiếng:
Hò o o ớ ớ… Mù u bông trắng lá thắm nhụy vàng ơ ơ ơ…
Anh đi khắp xứ, tới đây mới được gặp nàng ơ ơ ơ… thật là dễ thương ơ ơ…
Hò o o ớ ớ… Nghe giọng nàng, anh vẫn vơ vẩn vấn vương,
Sống cùng nhau chẳng được, cho anh phải mơ màng chiêm bao…
Bên nữ đáp lại:
Hò o o ớ ớ… Lửng da trời bay lượn con chim hồng,
Gặp nhau sao quá trễ cho tấm lòng này xót xa,
Đêm nằm em luống những thở ra,
Đôi ta chẳng…
Tới tiếng “đôi ta” , mắt cô gái sáng lên, đắm đuối trong ánh trăng và giọng hơi lơi lả, khiến người chồng đi ngang nổi cơn ghen…
Rõ ràng “hò Nam Bộ” mỗi vùng miền mỗi khác, chứ phải đâu “hò nào cũng là hò”!
Tài liệu tham khảo:
- Nguyễn Hiến Lê, Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười. Nxb. Nguyễn Hiến Lê, S., 1954.
– Thơ văn Đồng Tháp trước 1945, Gs. Lê Trí Viễn (chủ nhiệm). Nxb. Tổng hợp Đồng Tháp, 1986.

Bài Viết Cùng Chủ Đề

© 2015 Hai Lúa Miền Tây | Design by Tùng Phạm
| Design by Tùng Phạm.