Bài Viết Mới

Hiển thị các bài đăng có nhãn miền tây. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn miền tây. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

Miền Tây Nam Bộ có diện tích mặt nước trên đồng ruộng, diện tích mặt nước trên sông,rạch, ao, hồ, vuông, xẻo… khá cao. Kinh rạch chằng chịt không chỉ là hệ thống giao thông huyết mạch đường thủy nối liền tỉnh đến huyện, huyện về xã mà còn tỏa đi các ấp, địa bàn dân cư và trong lòng nó chính là nơi cung cấp nguồn lợi thủy sản như: cá,tôm, cua, … vùng nước ngọt, nước lợ và nhiễm mặn.
Đây là nguồn thực phẩm tự nhiên, sạch an toàn và ngon. Thủy sản ở miền Tây sinh sống ở ba vùng nước: nước ngọt, nước lợ và nước mặn cho nên có hàng trăm loại cá và hàng chục loại tôm, cua, ếch, nhái…

Mùa nào, cá, tôm, cua, mùa nấy. Mùa mưa thì ếch nhái, cá lóc, cá rô mề, cá trê vàng, …mùa khô thì cá sặc, tôm, cua, tép, …riêng cá bống tượng, bống trứng… và vộp, ốc, lươn, rùa, trăn, rắn … thì mùa nào cũng có. Nước lên mang theo tôm, cá,… vào đồng, nước tràn đầy cá cua thi nhau vào đẻ con sinh cháu. Sau đó nước đồng lại cạn tôm, cá trở ra sông …và cứ theo chu kỳ xoay vòng như thế. Người dân chỉ việc mang lộp, nò, lờ, nôm, … bắt về con to để ăn, con nhỏ mang thả vào vuông, đìa quanh nhà để nuôi làm nguồn dự trữ. Thế là, nhà nào nhà đó đỏ lửa kho, nấu, chiên, luộc hương thơm ngào ngạt cả vùng.
Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chỉ sưu tầm và giới thiệu các vật dụng dùng để các loại thủy hải sản miệt đồng, nó gắn liền với những người dân quê sống ven kênh rạch mà thôi. Phần dụng cụ đánh bắt thủy hải sản biển sẽ được đề cập đến ở một dịp khác.
1. Bắt bằng tay không
1.1. Bắt ếch, bắt nhái
Cứ tháng cuối tháng ba đầu tháng tư âm lịch khi những trận mưa đầu mùa đổ xuống ếch nhái kêu ran ngoài đồng trống, thế là chạng vạng tối tay cầm lồng đèn chong cóc đốt bằng dầu lửa, tay cầm cái bao, cái rộng (làm bằng tre) ra đồng soi nhái. Ếch nhái gặp mưa, chúng kêu vang để “hò hẹn” bạn tình. Gặp phải ánh đèn nó đành nằm yên chịu trận! Người đi bắt cứ thế lượm bỏ vào bao! Gặp phải ếch nhái “bắt cặp” chộp một tay được liền những hai con! Cứ thế bỏ vào bao mang về! Có khi đi bắt nhái cũng gặp rắn nước, rắn hổ (loài rắn cực độc) sẵn cây, chĩa trong tay họ sẵn sàng hạ “con vật nguy hiểm” kia luôn, một công đôi ba nguồn lợi là vậy!
1.2. Lượm ốc, bắt cua đồng, mò cá
Ốc gạo trên đồng không ngập nước, ven bờ mương vườn nhiều vô kể, thế là họ cứ thản nhiên cầm thao, cầm rổ đi lượm về cải thiện bữa ăn. Ốc có thể luộc với lá ổi, chấm với cơm mẻ, trẻ con thì bỏ vô lò than hồng nướng vì ốc nướng ăn ngọt và thơm hơn.
Cua đồng rất có hại cho lúa, nên khi gặp người ta có thể bắt bỏ! Không bỏ thì mang về rang, nướng ăn chơi cho vui miệng.
Lượm ốc, lượm cua chỉ bằng tay không là đủ không cần thêm một vật dụng nào khác, trừ cái vật để đựng chúng!
Mò cá: khi nước dưới sông, dưới rạch ròng cạn lòi bãi, người ta lội xuống dùng tay mò cặp mé lá dừa nước, trong các bụp bè (thân cây lá dừa nước – loại lá mọc rất nhiều ở miệt này, dùng để lợp nhà!) thường nhất là cá thác lác, cá trê, tôm càng xanh, … ẩn thân chờ nước lớn, người ta cứ thế tóm lấy cho vào “rộng”.
1.3. Bắt cá lên, cá cạn
Cá lên đồng sau khi những trận mưa lớn đầu mùa đổ xuống. Theo quán tính tự nhiên, cá rô, cá lóc … lên ruộng để sinh con, đẻ cháu. Con người biết được phản xạ này của cá. Thế là ngay khi cơn mưa đang ập xuống, người ta ra động, lựa chỗ bờ đập, rãnh mương, đường nước dẫn lên đồng, cá mẹ, cá cha lũ lượt vượt bờ đất rộng để tìm nơi có nước! Thế là chúng trở thành mồi ngon cho con người miệt đất này.
Khi đồng ruộng bắt đầu cạn nước, gió chướng thổi mạnh những mưa cuối cùng đã dứt, lúc này khoảng tháng mười, tháng mười một, (ngày trước canh tác mỗi năm chỉ một vụ, chủ yếu là dùng nước mưa trời, chứ không dùng máy bơm, lưu nước quanh năm trên đồng như hiện nay) cá bắt đầu tìm đường xuống. Người ta có thể đào các rãnh dẫnn chúng vào các đìa nước nằm giáp giữa vườn và ruộng, có thể làm hầm để cho cá nhảy vào. Và cuối cùng là những con cá non, cá nhỏ bị kẹt lại, cứ thế, người ta dùng tay mò dưới các đường nước sâu (bây giờ đã sền sệt bùn) mà tóm lấy chúng. Mùi bùn thấm đượm hương vị quê nhà là ở đấy!
1.4. Đào hầm
Hầm là một khoảng đất được khoét rộng, giữa các bờ mẫu (bờ ranh giữa các thửa ruộng). Cá sẽ tìm đường “xuống” chúng nhảy từ ruộng nước cạn, sang ruộng nước sâu hơn, thế là rơi vào hầm. Cá lóc, cá rô, lúc nhúc trong ấy, chờ đến sáng, “chủ hầm” đến bắt về!
2. Bắt bằng cách dụng cụ tự chế
2.1. Rổ, sà nel: xúc tép, chạy cù
Tép ở đây là loại tép trấu (có nơi gọi là tép mồng, tép càng, tép đất), thường trú ngụ ở dưới rễ ô rô, nơi lá mái dầm mọc nhiều ven sông, rạch. Khi trái gió trở mùa, không tìm được thức ăn, người ta xuống sông, mang theo rổ lớn (gọi là rổ xúc) hoặc sà nel (loại nông cụ của đồng bào Khmer đươn bằng trúc) để xúc tép. Tép xúc được mang về lặt sạch râu, sạch càng rồi rang muối, kho mặn hoặc sang hơn thì lăn bột chiên ăn với rau rừng và nước mắm đồng dầm bần, hay chùm giuộc cho xong bữa!
Chạy cù xúc cá bãi trầu, lòng tong: Tương tự như xúc tép, nhưng cá bãi trầu, cá lòng tong, thường sống trên ao, đìa, cạn nước, hoặc các chùm năng, lát mọc dày nơi ruộng lung (ruộng sâu, nước ngập ngang bụng người). Người có kinh nghiệm chạy xoay vòng cho cá gom vào bụi cỏ, gốc năng, lát. Lúc ấy, họ nhanh tay xúc lấy. Cá bãi chầu (con to nhất cỡ ngón tay cái) cá sặc, cá lòng tong, hủn hỉn, … được mang về kho với nước cốt dừa, chấm rau choại, rau ráng luộc ăn với cơm.
2.2. Tát đìa
Như trên đã nói, khi trời bắt đầu trở chướng, cá trên đồng dợm rút xuống sông, thường được các bác nông dân “dẫn” vào đìa, vào mương vườn. Nơi ấy, nước sâu lại được chất chà kín đáo là nơi cư ngụ lý tưởng cho cá, tôm. Gần tết, người ta tổ chức tát đìa bắt cá. Đìa lớn thì ba bốn người dùng gàu đươn bằng lá dừa nước, hoặc bằng tre tát cạn. (Gàu có loại cho một người tát, có loại buộc dây dùng cho hai người tát, gọi là gàu vai). Đìa cạn nước, cá nằm phơi mình trên mặt đất bùn, người ta chỉ việc bắt cá bỏ vào thùng, vào rộng, … mang về. Sau đó, chủ chia cá cho những anh em để trả công người đến tát giúp mình.
2.3. Chất chà
Nơi lòng sông, con rạch, người có kinh nghiệm sẽ phán đoán được thuận dòng nước ở đâu cá sẽ trú ngụ nhiều. Thế là chà (cây có nhiều nhánh được đốn rồi phơi cho rụng hết lá) trâm bầu, hay gốc trúc, tre, … được đem chất thành đống dưới sông (nơi đã được chọn). Ở trên, người ta còn phủ thêm lá dừa nước, hoặc bỏ vào “đống chà” ít lục bình (bèo tây) để dụ cá “đến” ở. Thường chà được chất trước tết 5 – 7 tháng. Gần tết nguyên đán, người ta sẽ dở chà ăn tết! Ngày dở chà, trên dưới chục người dùng đăng (bện bằng sống cây dừa nước, phơi khô chẻ dẹp và vót sạch, dây bện cũng chính bằng dây
bụp dừa – phần dưới của thân cây dừa nước, phần này thường ngập dưới nước, được xắn về chẻ nhỏ, phơi khôi làm dây buộc rất chắc!) bao quanh. Bao xong, người ta vào giữa đống chà vứt chà ra ngoài. Chà vứt hết, người ta dời đăng từ từ vào và dùng tay, vợt để thu sản phẩm. Những đống chà lớn, trúng vụ có khi lên cả mấy trăm ký cá, vài chục ký tôm là chuyện thường!
2.4. Đăng mương
Nhưng con lạch, con mương dẫn nước sông vào ruộng, vào vườn, thường có vàm tiếp giáp với sông, trên ngọn cạn và cùng (tức không còn đường nước đi nữa!). Sáng nước lớn, nước ngập mênh mông, người ta dùng cám rang rải khắp mặt nước để nhử cá vào. Sau đó dùng đăng (loại đăng dùng để dở chà như đã nói) đăng chặn ngang vàm mương. Nước ròng rút dần đến trưa, dòng mương, rạch ấy đã cạn. Người ta đắp đập ngang, tác khô nước mà bắt cá, tép.
2.5. Chĩa đâm rắn, lươn, cá
Để có “vũ khí” phòng thân khi ra đồng, ra vườn, người ta thường mang theo mình cây … chĩa. Chĩa có nhiều loại, có chĩa một mũi, chĩa hai, ba, bốn, năm mũi, … Mũi chĩa là bằng thanh sắt nhỏ mài nhọn, trên uốn lại để tra vào cán trúc, cán tre. Đó là loại chĩa đâm cá, phóng ếch, hay hạ sát rắn, … Còn chĩa đâm lươn thì chỉ có hai nhạnh ngắn và bén. Người đi đâm lươn thường dùng chĩa xom xuống những nơi đất mềm, có rơm rạ thúi mục, môi trường mà lươn ưa thích sống. Đâm phải lươn, thì giữ chặt tay chĩa, dùng xà ben, dá, đào đất lên để bắt lấy.
2.6. Nôm
Nôm là vật dụng làm bằng các thanh tre vót nhẵn, đầu nhọn hướng xuống phần miệng. Trên túm lại cỡ bằng cái tô, dưới miệng lớn bằng miệng thúng nhỏ. Tính từ miệng lên khoảng độ tấc tay người ta dùng một niềng tre hoặc niềng sắt để cố định các thanh. Khi nôm, miệng nôm úp xuống nước. Những vũng nước nhỏ nghi có cá, người ta dùng nôm úp chúng để bắt …
2.7. Ống trúm
Là một ống tre già được thông mắt, mắt cuối cùng được chừa lại. Miệng trúm có hom, hom đươn bằng các thanh tre vót nhỏ, bện bằng dây lạt cà bắp (cây lá dừa nước non, chưa thành tàu lá), mồi nhử thường là cá, cua chết để hôi, đặt trúm nơi bưng biền lắm lát, nhiều sậy. Lươn thích ăn thịt cá chết, tìm đến chun vào trúm và kẹt luôn trong đó.
2.8. Câu
Thường làm bằng trúc, tre. Câu có nhiều loại, tùy theo từng loại cá, mồi và cách cắm cũng khác nhau. Xin giới thiệu một số loại câu thường gặp trong dân gian:
- Câu nhấp: Cần câu là một câu lục bình (họ cùng với tre, trúc) lớn, già và dài. Nhợ câu có đến 5 – 7 thước. Lưỡi câu dùng loại lưỡi lớn bằng inox. Mồi là nhái hoặc thằn lằn. Người câu quăng nhợ ra xa, rồi dùng sức kéo lưỡi lướt trên mặt đìa, ao. Cá lóc lớn, (có khi là ếch) thấy mồi “phóng lên” đớp. Thế là … mắc câu.
- Câu thọt: Nhỏ hơn câu nhấp một ít. Cần câu chỉ độ 2 – 3 thước. Nhợ câu cũng ngắn và lưỡi câu cũng nhỏ hơn. Cậu thọt thường được câu ở các hóc lá dừa nước, ven vàm kênh, rạch, chỗ nước lặng … Cách câu cũng tương tự như câu nhấp. Cá mà câu thọt hướng tới là cá lóc nhỏ, cá rô, …
- Câu cá rô tôm tít: Cần câu là cây trúc nhỏ. Nhợ và lưỡi cũng rất nhỏ. Mồi câu là trứng kiến vàng(loại kiến có rất nhiều ở vùng lá dừa nước, lau sậy mọc chằng chịt này!). Người đi câu phải chịu khó đi thọt kiến vàng. Ổ kiến được chọt tung ra, bên dưới có rổ nhỏ để hứng trứng kiến. Khi lúa ngoài đồng mơn mởn xanh, cũng là lúc cá rô con (gọi là cá rô tom tít) đã biết ăn mồi. Mồi trứng kiến bỏ xuống, chúng thi nhau đớp. Hết bầy này, người đi cây tìm chỗ lúa trống câu tiếp bầy khác …
- Câu cắm: Bờ mẫu ruộng còn được dùng để cắm câu. Câu cắm vót bằng tre, mỗi cần câu dài non thước tây. Lưỡi nhỏ tóm bằng nhợ dây chỉ, dây gân. Nếu cắm mồi trùn cơm (loại giun đất) trộn cám thường được cá rô, cá lóc. Cắm mồi nhái bén thì cá lóc hay ăn. Nếu cắm cá trê thì dùng mồi ong non hay trứng kiến. Cũng loại câu cắm nhưng không cắm trên đồng, trên bờ mương, ao vườn như cách cắm cá lóc, cá rô đã kể. Câu cắm dưới sông để tìm cá chốt, cá bống. Cần cầu dài độ 2 mét bằng trúc hoặc sậy. Nhợ và lưỡi câu buộc cách mặt đất chừng 3 – 4 tấc. Mồi câu là tép mồng, tép trấu. Câu cắm nơi nước chảy mạnh. Khi cá ăn, câu động, người ta cứ thế mà tóm kẻ tham mồi!
- Câu kiều: Đây là loại câu thả. Cần câu là một đoạn tre, trúc, sậy ngắn chừng 5 – 7 tấc. Ở giữa có nhợ và lưỡi câu. Mồi thường là trùn, ốc. Thả câu kiều để bắt các loài ăn “mồi chìm” như cá trê, cá chốt hay lươn…
- Câu giăng: Khác với câu cắm, câu kiều dùng cần bằng cây tre, trúc, sậy. Câu giăng dùng một sợi dây chính để tóm nhiều nhợ và lưỡi vào đó. Câu giăng ven kênh, rạch, mồi thường là trùn, tép. Cá ăn câu giăng thường là các chốt, cá trê, cá bóng, … Có đều đặc biệt là cá sặc không bao giờ ăn câu, bởi miệng nó cấu tạo nhỏ không có lưỡi câu nào vừa để câu được chúng.
- Câu tôm: Tôm càng ăn mồi chìm, mồi là những miếng khoai mì xắt thành khúc. Miệng tôm không vừa lưỡi câu, nên khi tôm ăn, thấy nhợ động, người câu tôm nhẹ nhàng cho xuồng đến gần rồi bất ngờ dùng nôm ụp xuống, sau đó mò bắt chúng.
- Câu cua: Câu cua là một chiếc rổ đương bằng dây hoặc lưới. Mồi được để vào trong rồi thả cho chìm xuống đáy xuống (xung quanh rổ lưới, người ta buộc những cục gạch nhỏ tạo sức nặng). Trên mặt nước có miếng mốp để báo hiệu. Khi cua bén mồi lao vào, người ta thấy động, đến vớt câu lên. Cua mắc lưới không ra được và bị tóm gọn.
2.9. Savi
Đây là nông cụ rất đơn giản, được bện bằng dây cà bắp để bắt cá lóc. Vật bắt cá này chỉ to hơn cườm tay người lớn, nó chỉ được thắt như các mắc lưới. Điều độc đáo là người đặt sa vi phải có kinh nghiệm biết nơi nào có thể có cá lóc đi qua. Họ đặt, cá vào rồi thì không cách nào “quay đầu” lại mà ra được. Cứ thế, chủ tóm đem về!
2.10. Lộp
Lộp làm bằng tre. Lộp đặt ở mương vườn hay hóc lá. Lộp có hai cái hôm: trước và sau. Cá, rùa, cua, tôm vào nhưng không tìm được đường ra, vì bị hôm sau chặn đường, cứ thế chủ đến “đổ lộp” mang về! Nhưng nơi nước sâu, muốn bắt cá lớn, người ta dùng đăng ven để nhử cá vào. Lộp lớn làm có ống hơi để cá vào cá lên thể không bị chết ngạt. Lộp nặng không dỡ bằng tay nổi thì dùng cây và dây dừa quay lên, cách quay lộp như quay dây tời kéo pháo vậy!
2.11. Nò
Thân hình ống, dựng đứng. Hom làm bằng tre chuốt dẹp. Ven đăng, đặt nò nơi có nước chảy, ben đêm đốt đèn để dụ cá, tép. Tép bạc, cá bóng là sản vật thu được từ nò.
2.12. Lờ
Lờ làm bằng ruột tre, cọng chuốt nhỏ. Lờ mảnh khảnh hơn lộp và nò nhiều lần vì lờ chỉ để đặt các loại cá nhỏ như cá sặc, cá chốt mà thôi. Có loại lời bốn hom (đặt các bốn phía) có loại lờ hai hom. Gặp phải lươn rằn chun vào thì sức lờ chịu không nổi!
2.13. Chài; Vó; Dớn; Đuôi chuột; Lưới, Sệp
Đây là những vật dụng đánh bắt bằng lưới. Cách cấu tạo mỗi loại có khác nhau, nhưng chủ yếu là để bắt cá dưới sông và khi khoa học đã phát triển. Chài được người vãi ra chụp lấy cá, tôm. Lưới thì giăng những nơi cá, rắn thường qua lại, vó có loại đặt cố định, có loại cất lên, đặt xuống; Đuôi chuột bện bằng lưới, ven đăng rồi đặt suốt ngày đêm; Sệp là lưới mắc vào hai thanh tre gác tréo rồi dùng sức người đẩy. Vó, lưới, đuôi chuột, sệp, đều sử dụng lưới ít nhiều đã không còn mang dấu ấn nguyên thủy dân gian như ngày xa xưa.
3. Nhận xét
Nhìn chung các vật dụng đánh bắt dân gian mà chúng tôi sưu tầm và giới thiệu ở trên mang đậm nét của nền kinh tế tự túc tự cấp trong đời sống của người bình dân. Nó đã không ít lần đi vào thơ ca:
Cá trong lờ lờ đờ ngoắc ngoải
Cá ngoài lờ bươn chải chun vô.
hay:
Chồng mò, vợ lưới con câu
Chàng rễ đỗ lộp, con dâu ngồi nò.
Qua các dụng cụ đánh bắt dân gian dễ kiếm, dễ làm thậm chí là chỉ với hai bàn tay không, thức ăn vẫn đảm bảo, điều đó chứng minh cho sự giàu có, phong phú về cá tôm, …ở mảnh đất “lạ lùng, … con cá vùng cũng kinh” này. Ngày nay, khi kinh tế đã phát triển, sự hội nhập giao lưu đang diễn ra mạnh mẽ thì các vật dụng đánh bắt dân gian cũng đã ít nhiều thay đổi, biến tướng theo hướng hủy hoại, hủy diệt môi trường sống hàng trăm năm của đất nay. Đó đây, chính quyền các cấp đã tịch thu, thiêu hủy các loại xuyệt điện để bắt cá, bắt tôm. hay xử phạt những người nhẫn tâm dùng vịt con câu nhử bắt cá lóc mẹ đang nuôi con.

Dụng Cụ Đánh Bắt Cá Tôm Trong Dân Gian Tây Nam Bộ

Tùng Phạm  |  at  01:02

Miền Tây Nam Bộ có diện tích mặt nước trên đồng ruộng, diện tích mặt nước trên sông,rạch, ao, hồ, vuông, xẻo… khá cao. Kinh rạch chằng chịt không chỉ là hệ thống giao thông huyết mạch đường thủy nối liền tỉnh đến huyện, huyện về xã mà còn tỏa đi các ấp, địa bàn dân cư và trong lòng nó chính là nơi cung cấp nguồn lợi thủy sản như: cá,tôm, cua, … vùng nước ngọt, nước lợ và nhiễm mặn.
Đây là nguồn thực phẩm tự nhiên, sạch an toàn và ngon. Thủy sản ở miền Tây sinh sống ở ba vùng nước: nước ngọt, nước lợ và nước mặn cho nên có hàng trăm loại cá và hàng chục loại tôm, cua, ếch, nhái…

Mùa nào, cá, tôm, cua, mùa nấy. Mùa mưa thì ếch nhái, cá lóc, cá rô mề, cá trê vàng, …mùa khô thì cá sặc, tôm, cua, tép, …riêng cá bống tượng, bống trứng… và vộp, ốc, lươn, rùa, trăn, rắn … thì mùa nào cũng có. Nước lên mang theo tôm, cá,… vào đồng, nước tràn đầy cá cua thi nhau vào đẻ con sinh cháu. Sau đó nước đồng lại cạn tôm, cá trở ra sông …và cứ theo chu kỳ xoay vòng như thế. Người dân chỉ việc mang lộp, nò, lờ, nôm, … bắt về con to để ăn, con nhỏ mang thả vào vuông, đìa quanh nhà để nuôi làm nguồn dự trữ. Thế là, nhà nào nhà đó đỏ lửa kho, nấu, chiên, luộc hương thơm ngào ngạt cả vùng.
Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chỉ sưu tầm và giới thiệu các vật dụng dùng để các loại thủy hải sản miệt đồng, nó gắn liền với những người dân quê sống ven kênh rạch mà thôi. Phần dụng cụ đánh bắt thủy hải sản biển sẽ được đề cập đến ở một dịp khác.
1. Bắt bằng tay không
1.1. Bắt ếch, bắt nhái
Cứ tháng cuối tháng ba đầu tháng tư âm lịch khi những trận mưa đầu mùa đổ xuống ếch nhái kêu ran ngoài đồng trống, thế là chạng vạng tối tay cầm lồng đèn chong cóc đốt bằng dầu lửa, tay cầm cái bao, cái rộng (làm bằng tre) ra đồng soi nhái. Ếch nhái gặp mưa, chúng kêu vang để “hò hẹn” bạn tình. Gặp phải ánh đèn nó đành nằm yên chịu trận! Người đi bắt cứ thế lượm bỏ vào bao! Gặp phải ếch nhái “bắt cặp” chộp một tay được liền những hai con! Cứ thế bỏ vào bao mang về! Có khi đi bắt nhái cũng gặp rắn nước, rắn hổ (loài rắn cực độc) sẵn cây, chĩa trong tay họ sẵn sàng hạ “con vật nguy hiểm” kia luôn, một công đôi ba nguồn lợi là vậy!
1.2. Lượm ốc, bắt cua đồng, mò cá
Ốc gạo trên đồng không ngập nước, ven bờ mương vườn nhiều vô kể, thế là họ cứ thản nhiên cầm thao, cầm rổ đi lượm về cải thiện bữa ăn. Ốc có thể luộc với lá ổi, chấm với cơm mẻ, trẻ con thì bỏ vô lò than hồng nướng vì ốc nướng ăn ngọt và thơm hơn.
Cua đồng rất có hại cho lúa, nên khi gặp người ta có thể bắt bỏ! Không bỏ thì mang về rang, nướng ăn chơi cho vui miệng.
Lượm ốc, lượm cua chỉ bằng tay không là đủ không cần thêm một vật dụng nào khác, trừ cái vật để đựng chúng!
Mò cá: khi nước dưới sông, dưới rạch ròng cạn lòi bãi, người ta lội xuống dùng tay mò cặp mé lá dừa nước, trong các bụp bè (thân cây lá dừa nước – loại lá mọc rất nhiều ở miệt này, dùng để lợp nhà!) thường nhất là cá thác lác, cá trê, tôm càng xanh, … ẩn thân chờ nước lớn, người ta cứ thế tóm lấy cho vào “rộng”.
1.3. Bắt cá lên, cá cạn
Cá lên đồng sau khi những trận mưa lớn đầu mùa đổ xuống. Theo quán tính tự nhiên, cá rô, cá lóc … lên ruộng để sinh con, đẻ cháu. Con người biết được phản xạ này của cá. Thế là ngay khi cơn mưa đang ập xuống, người ta ra động, lựa chỗ bờ đập, rãnh mương, đường nước dẫn lên đồng, cá mẹ, cá cha lũ lượt vượt bờ đất rộng để tìm nơi có nước! Thế là chúng trở thành mồi ngon cho con người miệt đất này.
Khi đồng ruộng bắt đầu cạn nước, gió chướng thổi mạnh những mưa cuối cùng đã dứt, lúc này khoảng tháng mười, tháng mười một, (ngày trước canh tác mỗi năm chỉ một vụ, chủ yếu là dùng nước mưa trời, chứ không dùng máy bơm, lưu nước quanh năm trên đồng như hiện nay) cá bắt đầu tìm đường xuống. Người ta có thể đào các rãnh dẫnn chúng vào các đìa nước nằm giáp giữa vườn và ruộng, có thể làm hầm để cho cá nhảy vào. Và cuối cùng là những con cá non, cá nhỏ bị kẹt lại, cứ thế, người ta dùng tay mò dưới các đường nước sâu (bây giờ đã sền sệt bùn) mà tóm lấy chúng. Mùi bùn thấm đượm hương vị quê nhà là ở đấy!
1.4. Đào hầm
Hầm là một khoảng đất được khoét rộng, giữa các bờ mẫu (bờ ranh giữa các thửa ruộng). Cá sẽ tìm đường “xuống” chúng nhảy từ ruộng nước cạn, sang ruộng nước sâu hơn, thế là rơi vào hầm. Cá lóc, cá rô, lúc nhúc trong ấy, chờ đến sáng, “chủ hầm” đến bắt về!
2. Bắt bằng cách dụng cụ tự chế
2.1. Rổ, sà nel: xúc tép, chạy cù
Tép ở đây là loại tép trấu (có nơi gọi là tép mồng, tép càng, tép đất), thường trú ngụ ở dưới rễ ô rô, nơi lá mái dầm mọc nhiều ven sông, rạch. Khi trái gió trở mùa, không tìm được thức ăn, người ta xuống sông, mang theo rổ lớn (gọi là rổ xúc) hoặc sà nel (loại nông cụ của đồng bào Khmer đươn bằng trúc) để xúc tép. Tép xúc được mang về lặt sạch râu, sạch càng rồi rang muối, kho mặn hoặc sang hơn thì lăn bột chiên ăn với rau rừng và nước mắm đồng dầm bần, hay chùm giuộc cho xong bữa!
Chạy cù xúc cá bãi trầu, lòng tong: Tương tự như xúc tép, nhưng cá bãi trầu, cá lòng tong, thường sống trên ao, đìa, cạn nước, hoặc các chùm năng, lát mọc dày nơi ruộng lung (ruộng sâu, nước ngập ngang bụng người). Người có kinh nghiệm chạy xoay vòng cho cá gom vào bụi cỏ, gốc năng, lát. Lúc ấy, họ nhanh tay xúc lấy. Cá bãi chầu (con to nhất cỡ ngón tay cái) cá sặc, cá lòng tong, hủn hỉn, … được mang về kho với nước cốt dừa, chấm rau choại, rau ráng luộc ăn với cơm.
2.2. Tát đìa
Như trên đã nói, khi trời bắt đầu trở chướng, cá trên đồng dợm rút xuống sông, thường được các bác nông dân “dẫn” vào đìa, vào mương vườn. Nơi ấy, nước sâu lại được chất chà kín đáo là nơi cư ngụ lý tưởng cho cá, tôm. Gần tết, người ta tổ chức tát đìa bắt cá. Đìa lớn thì ba bốn người dùng gàu đươn bằng lá dừa nước, hoặc bằng tre tát cạn. (Gàu có loại cho một người tát, có loại buộc dây dùng cho hai người tát, gọi là gàu vai). Đìa cạn nước, cá nằm phơi mình trên mặt đất bùn, người ta chỉ việc bắt cá bỏ vào thùng, vào rộng, … mang về. Sau đó, chủ chia cá cho những anh em để trả công người đến tát giúp mình.
2.3. Chất chà
Nơi lòng sông, con rạch, người có kinh nghiệm sẽ phán đoán được thuận dòng nước ở đâu cá sẽ trú ngụ nhiều. Thế là chà (cây có nhiều nhánh được đốn rồi phơi cho rụng hết lá) trâm bầu, hay gốc trúc, tre, … được đem chất thành đống dưới sông (nơi đã được chọn). Ở trên, người ta còn phủ thêm lá dừa nước, hoặc bỏ vào “đống chà” ít lục bình (bèo tây) để dụ cá “đến” ở. Thường chà được chất trước tết 5 – 7 tháng. Gần tết nguyên đán, người ta sẽ dở chà ăn tết! Ngày dở chà, trên dưới chục người dùng đăng (bện bằng sống cây dừa nước, phơi khô chẻ dẹp và vót sạch, dây bện cũng chính bằng dây
bụp dừa – phần dưới của thân cây dừa nước, phần này thường ngập dưới nước, được xắn về chẻ nhỏ, phơi khôi làm dây buộc rất chắc!) bao quanh. Bao xong, người ta vào giữa đống chà vứt chà ra ngoài. Chà vứt hết, người ta dời đăng từ từ vào và dùng tay, vợt để thu sản phẩm. Những đống chà lớn, trúng vụ có khi lên cả mấy trăm ký cá, vài chục ký tôm là chuyện thường!
2.4. Đăng mương
Nhưng con lạch, con mương dẫn nước sông vào ruộng, vào vườn, thường có vàm tiếp giáp với sông, trên ngọn cạn và cùng (tức không còn đường nước đi nữa!). Sáng nước lớn, nước ngập mênh mông, người ta dùng cám rang rải khắp mặt nước để nhử cá vào. Sau đó dùng đăng (loại đăng dùng để dở chà như đã nói) đăng chặn ngang vàm mương. Nước ròng rút dần đến trưa, dòng mương, rạch ấy đã cạn. Người ta đắp đập ngang, tác khô nước mà bắt cá, tép.
2.5. Chĩa đâm rắn, lươn, cá
Để có “vũ khí” phòng thân khi ra đồng, ra vườn, người ta thường mang theo mình cây … chĩa. Chĩa có nhiều loại, có chĩa một mũi, chĩa hai, ba, bốn, năm mũi, … Mũi chĩa là bằng thanh sắt nhỏ mài nhọn, trên uốn lại để tra vào cán trúc, cán tre. Đó là loại chĩa đâm cá, phóng ếch, hay hạ sát rắn, … Còn chĩa đâm lươn thì chỉ có hai nhạnh ngắn và bén. Người đi đâm lươn thường dùng chĩa xom xuống những nơi đất mềm, có rơm rạ thúi mục, môi trường mà lươn ưa thích sống. Đâm phải lươn, thì giữ chặt tay chĩa, dùng xà ben, dá, đào đất lên để bắt lấy.
2.6. Nôm
Nôm là vật dụng làm bằng các thanh tre vót nhẵn, đầu nhọn hướng xuống phần miệng. Trên túm lại cỡ bằng cái tô, dưới miệng lớn bằng miệng thúng nhỏ. Tính từ miệng lên khoảng độ tấc tay người ta dùng một niềng tre hoặc niềng sắt để cố định các thanh. Khi nôm, miệng nôm úp xuống nước. Những vũng nước nhỏ nghi có cá, người ta dùng nôm úp chúng để bắt …
2.7. Ống trúm
Là một ống tre già được thông mắt, mắt cuối cùng được chừa lại. Miệng trúm có hom, hom đươn bằng các thanh tre vót nhỏ, bện bằng dây lạt cà bắp (cây lá dừa nước non, chưa thành tàu lá), mồi nhử thường là cá, cua chết để hôi, đặt trúm nơi bưng biền lắm lát, nhiều sậy. Lươn thích ăn thịt cá chết, tìm đến chun vào trúm và kẹt luôn trong đó.
2.8. Câu
Thường làm bằng trúc, tre. Câu có nhiều loại, tùy theo từng loại cá, mồi và cách cắm cũng khác nhau. Xin giới thiệu một số loại câu thường gặp trong dân gian:
- Câu nhấp: Cần câu là một câu lục bình (họ cùng với tre, trúc) lớn, già và dài. Nhợ câu có đến 5 – 7 thước. Lưỡi câu dùng loại lưỡi lớn bằng inox. Mồi là nhái hoặc thằn lằn. Người câu quăng nhợ ra xa, rồi dùng sức kéo lưỡi lướt trên mặt đìa, ao. Cá lóc lớn, (có khi là ếch) thấy mồi “phóng lên” đớp. Thế là … mắc câu.
- Câu thọt: Nhỏ hơn câu nhấp một ít. Cần câu chỉ độ 2 – 3 thước. Nhợ câu cũng ngắn và lưỡi câu cũng nhỏ hơn. Cậu thọt thường được câu ở các hóc lá dừa nước, ven vàm kênh, rạch, chỗ nước lặng … Cách câu cũng tương tự như câu nhấp. Cá mà câu thọt hướng tới là cá lóc nhỏ, cá rô, …
- Câu cá rô tôm tít: Cần câu là cây trúc nhỏ. Nhợ và lưỡi cũng rất nhỏ. Mồi câu là trứng kiến vàng(loại kiến có rất nhiều ở vùng lá dừa nước, lau sậy mọc chằng chịt này!). Người đi câu phải chịu khó đi thọt kiến vàng. Ổ kiến được chọt tung ra, bên dưới có rổ nhỏ để hứng trứng kiến. Khi lúa ngoài đồng mơn mởn xanh, cũng là lúc cá rô con (gọi là cá rô tom tít) đã biết ăn mồi. Mồi trứng kiến bỏ xuống, chúng thi nhau đớp. Hết bầy này, người đi cây tìm chỗ lúa trống câu tiếp bầy khác …
- Câu cắm: Bờ mẫu ruộng còn được dùng để cắm câu. Câu cắm vót bằng tre, mỗi cần câu dài non thước tây. Lưỡi nhỏ tóm bằng nhợ dây chỉ, dây gân. Nếu cắm mồi trùn cơm (loại giun đất) trộn cám thường được cá rô, cá lóc. Cắm mồi nhái bén thì cá lóc hay ăn. Nếu cắm cá trê thì dùng mồi ong non hay trứng kiến. Cũng loại câu cắm nhưng không cắm trên đồng, trên bờ mương, ao vườn như cách cắm cá lóc, cá rô đã kể. Câu cắm dưới sông để tìm cá chốt, cá bống. Cần cầu dài độ 2 mét bằng trúc hoặc sậy. Nhợ và lưỡi câu buộc cách mặt đất chừng 3 – 4 tấc. Mồi câu là tép mồng, tép trấu. Câu cắm nơi nước chảy mạnh. Khi cá ăn, câu động, người ta cứ thế mà tóm kẻ tham mồi!
- Câu kiều: Đây là loại câu thả. Cần câu là một đoạn tre, trúc, sậy ngắn chừng 5 – 7 tấc. Ở giữa có nhợ và lưỡi câu. Mồi thường là trùn, ốc. Thả câu kiều để bắt các loài ăn “mồi chìm” như cá trê, cá chốt hay lươn…
- Câu giăng: Khác với câu cắm, câu kiều dùng cần bằng cây tre, trúc, sậy. Câu giăng dùng một sợi dây chính để tóm nhiều nhợ và lưỡi vào đó. Câu giăng ven kênh, rạch, mồi thường là trùn, tép. Cá ăn câu giăng thường là các chốt, cá trê, cá bóng, … Có đều đặc biệt là cá sặc không bao giờ ăn câu, bởi miệng nó cấu tạo nhỏ không có lưỡi câu nào vừa để câu được chúng.
- Câu tôm: Tôm càng ăn mồi chìm, mồi là những miếng khoai mì xắt thành khúc. Miệng tôm không vừa lưỡi câu, nên khi tôm ăn, thấy nhợ động, người câu tôm nhẹ nhàng cho xuồng đến gần rồi bất ngờ dùng nôm ụp xuống, sau đó mò bắt chúng.
- Câu cua: Câu cua là một chiếc rổ đương bằng dây hoặc lưới. Mồi được để vào trong rồi thả cho chìm xuống đáy xuống (xung quanh rổ lưới, người ta buộc những cục gạch nhỏ tạo sức nặng). Trên mặt nước có miếng mốp để báo hiệu. Khi cua bén mồi lao vào, người ta thấy động, đến vớt câu lên. Cua mắc lưới không ra được và bị tóm gọn.
2.9. Savi
Đây là nông cụ rất đơn giản, được bện bằng dây cà bắp để bắt cá lóc. Vật bắt cá này chỉ to hơn cườm tay người lớn, nó chỉ được thắt như các mắc lưới. Điều độc đáo là người đặt sa vi phải có kinh nghiệm biết nơi nào có thể có cá lóc đi qua. Họ đặt, cá vào rồi thì không cách nào “quay đầu” lại mà ra được. Cứ thế, chủ tóm đem về!
2.10. Lộp
Lộp làm bằng tre. Lộp đặt ở mương vườn hay hóc lá. Lộp có hai cái hôm: trước và sau. Cá, rùa, cua, tôm vào nhưng không tìm được đường ra, vì bị hôm sau chặn đường, cứ thế chủ đến “đổ lộp” mang về! Nhưng nơi nước sâu, muốn bắt cá lớn, người ta dùng đăng ven để nhử cá vào. Lộp lớn làm có ống hơi để cá vào cá lên thể không bị chết ngạt. Lộp nặng không dỡ bằng tay nổi thì dùng cây và dây dừa quay lên, cách quay lộp như quay dây tời kéo pháo vậy!
2.11. Nò
Thân hình ống, dựng đứng. Hom làm bằng tre chuốt dẹp. Ven đăng, đặt nò nơi có nước chảy, ben đêm đốt đèn để dụ cá, tép. Tép bạc, cá bóng là sản vật thu được từ nò.
2.12. Lờ
Lờ làm bằng ruột tre, cọng chuốt nhỏ. Lờ mảnh khảnh hơn lộp và nò nhiều lần vì lờ chỉ để đặt các loại cá nhỏ như cá sặc, cá chốt mà thôi. Có loại lời bốn hom (đặt các bốn phía) có loại lờ hai hom. Gặp phải lươn rằn chun vào thì sức lờ chịu không nổi!
2.13. Chài; Vó; Dớn; Đuôi chuột; Lưới, Sệp
Đây là những vật dụng đánh bắt bằng lưới. Cách cấu tạo mỗi loại có khác nhau, nhưng chủ yếu là để bắt cá dưới sông và khi khoa học đã phát triển. Chài được người vãi ra chụp lấy cá, tôm. Lưới thì giăng những nơi cá, rắn thường qua lại, vó có loại đặt cố định, có loại cất lên, đặt xuống; Đuôi chuột bện bằng lưới, ven đăng rồi đặt suốt ngày đêm; Sệp là lưới mắc vào hai thanh tre gác tréo rồi dùng sức người đẩy. Vó, lưới, đuôi chuột, sệp, đều sử dụng lưới ít nhiều đã không còn mang dấu ấn nguyên thủy dân gian như ngày xa xưa.
3. Nhận xét
Nhìn chung các vật dụng đánh bắt dân gian mà chúng tôi sưu tầm và giới thiệu ở trên mang đậm nét của nền kinh tế tự túc tự cấp trong đời sống của người bình dân. Nó đã không ít lần đi vào thơ ca:
Cá trong lờ lờ đờ ngoắc ngoải
Cá ngoài lờ bươn chải chun vô.
hay:
Chồng mò, vợ lưới con câu
Chàng rễ đỗ lộp, con dâu ngồi nò.
Qua các dụng cụ đánh bắt dân gian dễ kiếm, dễ làm thậm chí là chỉ với hai bàn tay không, thức ăn vẫn đảm bảo, điều đó chứng minh cho sự giàu có, phong phú về cá tôm, …ở mảnh đất “lạ lùng, … con cá vùng cũng kinh” này. Ngày nay, khi kinh tế đã phát triển, sự hội nhập giao lưu đang diễn ra mạnh mẽ thì các vật dụng đánh bắt dân gian cũng đã ít nhiều thay đổi, biến tướng theo hướng hủy hoại, hủy diệt môi trường sống hàng trăm năm của đất nay. Đó đây, chính quyền các cấp đã tịch thu, thiêu hủy các loại xuyệt điện để bắt cá, bắt tôm. hay xử phạt những người nhẫn tâm dùng vịt con câu nhử bắt cá lóc mẹ đang nuôi con.

Vùng đất Thất Sơn (An Giang) luôn ẩn chứa những huyền thoại, đặc biệt là dấu ấn của những vị đạo sĩ, bậc chơn tu. Câu chuyện lưu truyền về vị đạo sĩ nuôi sấu thần Năm Chân (Năm Chèo) luôn cuốn hút khách thập phương. Chúng tôi làm một chuyến hành trình về Bảy Núi tìm sự thật, nơi bắt nguồn của những huyền thoại “ông Năm Chèo” và “bảo bối” được dòng họ lưu giữ.
Câu chuyện về “ông Năm Chèo” được truyền miệng khắp vùng với nhiều tình tiết ly kỳ. Để hiểu rõ thực hư, chúng tôi tìm gặp hậu duệ của người nuôi con sấu lạ năm xưa. Đó là bà Hồ Thị Cưng, cháu ngoại đời thứ tư của ông Đình Tây (đạo sĩ Bùi Văn Tây, đệ tử thứ ba của Đức Phật Thầy). Bà Cưng đang trông coi nơi thờ tự ông Đình cũng như năm bảo bối mà Đức Phật Thầy giao cho bắt sấu Năm Chèo.
Dựa theo những câu chuyện lưu truyền trong gia tộc, bà Cưng kể rằng, vâng lời Đức Phật Thầy, ông Đình Tây chuẩn bị chuyến đi hành thiện. Khi ông tới vùng láng (Láng Linh), biết được trong căn chòi lụp xụp kia có một phụ nữ chuyển bụng sắp sinh con, gia cảnh đáng thương. Người chồng hàng ngày lặn lội bắt cua, rùa, rắn đổi gạo, thường khi anh về sớm nhưng hôm đó anh không về kịp. Ông Đình Tây xông xáo cùng mọi người làm vách che, lợp lại mái dột ngăn mưa gió. Người phụ nữ sắp sinh nhưng chiếc giường mới kê được ba chân, ông không ngại kề vai làm chân giường giúp bà mụ đỡ đẻ nhanh chóng. Mọi việc xong xuôi thì anh Xinh, chồng người phụ nữ về tới, rất cảm kích về sự giúp đỡ của mọi người. Anh khoe với ông Đình Tây hai giỏ cá vừa bắt được để lo cho vợ vượt cạn, rồi móc từ túi bên hông ra một con vật nhỏ. Đó là con sấu rất kỳ lạ, da nó trơn bóng chứ không sần sùi, chót mũi có màu đỏ rực, đặc biệt con sấu có thêm bàn chân mọc ra từ chân bình thường (móng đeo). Ông Đình thấy hình dạng con sấu kỳ lạ nên thích thú, anh Xinh liền tặng con sấu này. Ông về trình với Đức Phật Thầy những việc hành thiện và cho ngài xem con sấu lạ. Vừa nhìn thấy, ngài thở dài và bảo ông Đình không nên nuôi con ngặc ngư này, nó là loài nghiệt thú sẽ làm điều hại bá tánh. Nhưng ông Đình thương xót không nỡ, sau đó lui về đình Thới Sơn, lén nuôi sấu nhỏ ở góc hồ sen trước sân đình. Thấy sấu lớn nhanh, ông lấy dây cột chân nó lại. Càng lớn con sấu càng có tính khí hung bạo, ông liền thay bằng sợi dây xích bằng sắt để nó không thoát được.
Một đêm trời đổ mưa to, gió quất mạnh, cây cối ngả nghiêng, sấm chớp liên hồi. Rạng sáng ông Đình giật mình phát hiện: con sấu bỏ đi! Ông lội xung quanh nhưng không tìm thấy, trở lại kiểm tra sợi xích, thấy vẫn còn nguyên. Ông lần theo sợi dây xuống hồ, bất ngờ nhìn thấy một bàn chân sấu bỏ lại cùng với sợi xích. Nó cắn bỏ một bàn chân để thoát thân. Ông Đình lập tức bẩm báo Đức Phật Thầy. Ngài điềm nhiên như tiên đoán trước điều gì, không quở trách mà còn trao cho ông Đình năm món bảo bối gồm hai cây lao, một cây mun cổ phụng, một lưỡi câu và một đường dây băng. Đồng thời, ông Đình còn được truyền “khẩu quyết biệt truyền” để thu phục ngặc ngư.
Rồi một ngày tin dữ lan truyền, con sấu mũi đỏ khổng lồ xuất hiện nơi anh Xinh đã bắt nó khi xưa. Nó to như một chiếc ghe lớn, nổi lên tạo những cơn sóng lớn nhấn chìm xuồng ghe của những người xuôi ngược trên sông. Có lúc nó lên bờ bắt heo, gà nuôi trong chuồng của dân, lúc sát hại người, gây biết bao nỗi kinh hoàng. Ông Đình vội vã gặp Đức Phật Thầy xin thu phục con nghiệt thú, nhưng khi ông đến nơi là sấu lặn mất. Cứ thế nhiều lần, hễ ông về thì sấu lại nổi lên quấy phá làm kinh hồn dân làng. Có người thấy sấu nổi lên liền gọi thất thanh tên ông Đình thì sấu tháo chạy. Một lần, ông Đình quyết tâm ở lại chờ bắt sấu cho bằng được nhưng ngày qua vẫn không thấy sấu xuất hiện. Ông đứng giữa vùng láng kêu lớn: “Hỡi loài ngặc ngư, nếu thiên cơ được định, ngươi nên nằm yên sám hối tu hành, còn nếu số ngươi đã tận thì mau nổi lên theo ta về”.
Ông Đình chờ đến ba ngày vẫn không thấy bóng dáng con sấu đâu, nhưng mãi từ đó về sau, không nghe ai kể sấu nổi lên quấy phá dân làng nữa. 58 năm sau, đến ngày ông Đình viên tịch (1914), năm món bảo bối vẫn chưa được sử dụng. Đến nay, trải qua 96 lần lễ giỗ ông Đình, những bảo bối ấy vẫn còn cất giữ.
Bà Cưng cho chúng tôi xem năm bảo bối được Đức Phật Thầy giao cho ông Đình năm xưa, được lộng vào khung kiếng, thờ cúng trang nghiêm. Bà Cưng kể thêm, bảo bối này dòng họ cất giữ cẩn thận qua mấy cuộc chiến tranh, tất cả còn khá nguyên vẹn, riêng sợi dây băng (xe bằng tơ), ngày trước ông nội bà lấy sợi dây này ra kéo quanh nhà, sau đó chạy giặc, trở về thấy nhà cửa cháy rụi, riêng sợi dây chỉ ám khói chứ không cháy. Có người kể rằng, khi Đức Cố Quản Trần Văn Thành bại trận tại vùng Bảy Thưa, nhằm mùa nước nổi, quân Pháp bao vây bắn phá, trước mặt lau sậy dày đặc ghe chống đi không được. Lúc ấy, sấu khổng lồ bỗng nhiên lao tới, rẽ đường rạp sậy cho quân lính chống xuồng thoát thân.
Tại đình Thới Sơn, ông Lê Văn Nhưng, phó ban quản lý đình, khẳng định với chúng tôi ông Đình Tây từng ở đình này, tên thật là Bùi Văn Tây, quê ở Năng Gù (nay là xã Bình Mỹ, huyện Châu Phú, An Giang). Ông được giao quản lý đình nên dân quen gọi là Đình Tây. Ông Nhưng dẫn chúng tôi ra xem hồ sen, nơi trước đây ông Đình Tây đã thả nuôi “sấu thần”. Hồ khá rộng, nay đã được xây bờ kè kiên cố, xung quanh cây cối mát mẻ.
Hơn 100 năm qua nhưng dân gian vẫn truyền nhau những câu chuyện thực hư về “ông Năm Chèo”. Họ cho rằng, “sấu thần” đang ẩn mình trên sông Vàm Nao (nối liền sông Tiền và sông Hậu, dài khoảng 7 km). Sông này có nhiều vực sâu, búng lớn, nước xoáy mạnh. Nơi đây được xem là ngư trường khai thác thủy sản quan trọng, là nơi thường xuyên xuất hiện các loài cá khổng lồ.
Có lẽ không có gì lạ khi những huyền thoại như thu phục mãnh hổ và nuôi cá sấu năm chèo vẫn còn sống động ở vùng sông nước Cửu Long, nơi vùng đất mới hoang sơ mà những con người đặt chân khai phá và sinh sống ở đây luôn mang ước vọng phải chinh phục muôn loài để khẳng định cái vị thế làm chủ đất trời của mình.
văn hóa

Truyền Thuyết “Ông Năm Chèo” ở Miền Tây

Tùng Phạm  |  at  00:46

Vùng đất Thất Sơn (An Giang) luôn ẩn chứa những huyền thoại, đặc biệt là dấu ấn của những vị đạo sĩ, bậc chơn tu. Câu chuyện lưu truyền về vị đạo sĩ nuôi sấu thần Năm Chân (Năm Chèo) luôn cuốn hút khách thập phương. Chúng tôi làm một chuyến hành trình về Bảy Núi tìm sự thật, nơi bắt nguồn của những huyền thoại “ông Năm Chèo” và “bảo bối” được dòng họ lưu giữ.
Câu chuyện về “ông Năm Chèo” được truyền miệng khắp vùng với nhiều tình tiết ly kỳ. Để hiểu rõ thực hư, chúng tôi tìm gặp hậu duệ của người nuôi con sấu lạ năm xưa. Đó là bà Hồ Thị Cưng, cháu ngoại đời thứ tư của ông Đình Tây (đạo sĩ Bùi Văn Tây, đệ tử thứ ba của Đức Phật Thầy). Bà Cưng đang trông coi nơi thờ tự ông Đình cũng như năm bảo bối mà Đức Phật Thầy giao cho bắt sấu Năm Chèo.
Dựa theo những câu chuyện lưu truyền trong gia tộc, bà Cưng kể rằng, vâng lời Đức Phật Thầy, ông Đình Tây chuẩn bị chuyến đi hành thiện. Khi ông tới vùng láng (Láng Linh), biết được trong căn chòi lụp xụp kia có một phụ nữ chuyển bụng sắp sinh con, gia cảnh đáng thương. Người chồng hàng ngày lặn lội bắt cua, rùa, rắn đổi gạo, thường khi anh về sớm nhưng hôm đó anh không về kịp. Ông Đình Tây xông xáo cùng mọi người làm vách che, lợp lại mái dột ngăn mưa gió. Người phụ nữ sắp sinh nhưng chiếc giường mới kê được ba chân, ông không ngại kề vai làm chân giường giúp bà mụ đỡ đẻ nhanh chóng. Mọi việc xong xuôi thì anh Xinh, chồng người phụ nữ về tới, rất cảm kích về sự giúp đỡ của mọi người. Anh khoe với ông Đình Tây hai giỏ cá vừa bắt được để lo cho vợ vượt cạn, rồi móc từ túi bên hông ra một con vật nhỏ. Đó là con sấu rất kỳ lạ, da nó trơn bóng chứ không sần sùi, chót mũi có màu đỏ rực, đặc biệt con sấu có thêm bàn chân mọc ra từ chân bình thường (móng đeo). Ông Đình thấy hình dạng con sấu kỳ lạ nên thích thú, anh Xinh liền tặng con sấu này. Ông về trình với Đức Phật Thầy những việc hành thiện và cho ngài xem con sấu lạ. Vừa nhìn thấy, ngài thở dài và bảo ông Đình không nên nuôi con ngặc ngư này, nó là loài nghiệt thú sẽ làm điều hại bá tánh. Nhưng ông Đình thương xót không nỡ, sau đó lui về đình Thới Sơn, lén nuôi sấu nhỏ ở góc hồ sen trước sân đình. Thấy sấu lớn nhanh, ông lấy dây cột chân nó lại. Càng lớn con sấu càng có tính khí hung bạo, ông liền thay bằng sợi dây xích bằng sắt để nó không thoát được.
Một đêm trời đổ mưa to, gió quất mạnh, cây cối ngả nghiêng, sấm chớp liên hồi. Rạng sáng ông Đình giật mình phát hiện: con sấu bỏ đi! Ông lội xung quanh nhưng không tìm thấy, trở lại kiểm tra sợi xích, thấy vẫn còn nguyên. Ông lần theo sợi dây xuống hồ, bất ngờ nhìn thấy một bàn chân sấu bỏ lại cùng với sợi xích. Nó cắn bỏ một bàn chân để thoát thân. Ông Đình lập tức bẩm báo Đức Phật Thầy. Ngài điềm nhiên như tiên đoán trước điều gì, không quở trách mà còn trao cho ông Đình năm món bảo bối gồm hai cây lao, một cây mun cổ phụng, một lưỡi câu và một đường dây băng. Đồng thời, ông Đình còn được truyền “khẩu quyết biệt truyền” để thu phục ngặc ngư.
Rồi một ngày tin dữ lan truyền, con sấu mũi đỏ khổng lồ xuất hiện nơi anh Xinh đã bắt nó khi xưa. Nó to như một chiếc ghe lớn, nổi lên tạo những cơn sóng lớn nhấn chìm xuồng ghe của những người xuôi ngược trên sông. Có lúc nó lên bờ bắt heo, gà nuôi trong chuồng của dân, lúc sát hại người, gây biết bao nỗi kinh hoàng. Ông Đình vội vã gặp Đức Phật Thầy xin thu phục con nghiệt thú, nhưng khi ông đến nơi là sấu lặn mất. Cứ thế nhiều lần, hễ ông về thì sấu lại nổi lên quấy phá làm kinh hồn dân làng. Có người thấy sấu nổi lên liền gọi thất thanh tên ông Đình thì sấu tháo chạy. Một lần, ông Đình quyết tâm ở lại chờ bắt sấu cho bằng được nhưng ngày qua vẫn không thấy sấu xuất hiện. Ông đứng giữa vùng láng kêu lớn: “Hỡi loài ngặc ngư, nếu thiên cơ được định, ngươi nên nằm yên sám hối tu hành, còn nếu số ngươi đã tận thì mau nổi lên theo ta về”.
Ông Đình chờ đến ba ngày vẫn không thấy bóng dáng con sấu đâu, nhưng mãi từ đó về sau, không nghe ai kể sấu nổi lên quấy phá dân làng nữa. 58 năm sau, đến ngày ông Đình viên tịch (1914), năm món bảo bối vẫn chưa được sử dụng. Đến nay, trải qua 96 lần lễ giỗ ông Đình, những bảo bối ấy vẫn còn cất giữ.
Bà Cưng cho chúng tôi xem năm bảo bối được Đức Phật Thầy giao cho ông Đình năm xưa, được lộng vào khung kiếng, thờ cúng trang nghiêm. Bà Cưng kể thêm, bảo bối này dòng họ cất giữ cẩn thận qua mấy cuộc chiến tranh, tất cả còn khá nguyên vẹn, riêng sợi dây băng (xe bằng tơ), ngày trước ông nội bà lấy sợi dây này ra kéo quanh nhà, sau đó chạy giặc, trở về thấy nhà cửa cháy rụi, riêng sợi dây chỉ ám khói chứ không cháy. Có người kể rằng, khi Đức Cố Quản Trần Văn Thành bại trận tại vùng Bảy Thưa, nhằm mùa nước nổi, quân Pháp bao vây bắn phá, trước mặt lau sậy dày đặc ghe chống đi không được. Lúc ấy, sấu khổng lồ bỗng nhiên lao tới, rẽ đường rạp sậy cho quân lính chống xuồng thoát thân.
Tại đình Thới Sơn, ông Lê Văn Nhưng, phó ban quản lý đình, khẳng định với chúng tôi ông Đình Tây từng ở đình này, tên thật là Bùi Văn Tây, quê ở Năng Gù (nay là xã Bình Mỹ, huyện Châu Phú, An Giang). Ông được giao quản lý đình nên dân quen gọi là Đình Tây. Ông Nhưng dẫn chúng tôi ra xem hồ sen, nơi trước đây ông Đình Tây đã thả nuôi “sấu thần”. Hồ khá rộng, nay đã được xây bờ kè kiên cố, xung quanh cây cối mát mẻ.
Hơn 100 năm qua nhưng dân gian vẫn truyền nhau những câu chuyện thực hư về “ông Năm Chèo”. Họ cho rằng, “sấu thần” đang ẩn mình trên sông Vàm Nao (nối liền sông Tiền và sông Hậu, dài khoảng 7 km). Sông này có nhiều vực sâu, búng lớn, nước xoáy mạnh. Nơi đây được xem là ngư trường khai thác thủy sản quan trọng, là nơi thường xuyên xuất hiện các loài cá khổng lồ.
Có lẽ không có gì lạ khi những huyền thoại như thu phục mãnh hổ và nuôi cá sấu năm chèo vẫn còn sống động ở vùng sông nước Cửu Long, nơi vùng đất mới hoang sơ mà những con người đặt chân khai phá và sinh sống ở đây luôn mang ước vọng phải chinh phục muôn loài để khẳng định cái vị thế làm chủ đất trời của mình.

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ có sông ngòi chằng chịt, mà có 7 tỉnh nằm ven biển gồm Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang với tổng chiều dài bờ biển trên 600 km và nhiều hòn đảo lớn nhỏ. Nơi nào có đánh bắt, có người làm nghề hạ bạc, nơi đó có thờ cúng.
Ngư dân và người đi sông đi biển ĐBSCL thờ cúng Cá Ông, Bà Cậu và các nữ thần có liên quan đến vùng biển như Thủy Long Thánh Mẫu, Bà Chúa Xứ, Bà Chúa Hòn, Thiên Hậu Thánh mẫu, tức nữ thần biển. Ngoài ra, bà con ở vùng biển đảo và sông rạch còn thờ cúng các vị thần linh vô hình hoặc hữu hình mà ông cha ta đã từng tế lễ; có thể là hiền thần từng cứu mạng con người như Rái Cá, Ông Nược, cũng có thể là hung thần ác quỷ như Ông Hèo (loài đẻn lớn), Thần Xà… Ở một số nơi ngư dân còn thờ cúng cả những người tử nạn vì nghề nghiệp hoặc chết bất đắc kỳ tử ở ngoài khơi.
Trước kia, tại ĐBSCL, một số nơi như Đồng Tháp cứ sau mùa tát đìa, mùa khai thác cá, các chủ đìa đều long trọng tổ chức cúng cầu ngư tại Gò Tháp, có rước bóng rỗi về múa bóng thật linh đình. Tại xã An Thủy, Ba Tri – Bến Tre hiện nay vẫn còn miếu thờ Bà Thủy, tên là miếu Bà An Thạnh, được dân làng tôn kính và sùng bái.
Đối với ngư dân và những người làm nghề sông nước, tuy không phải là người trực tiếp đánh bắt nhưng những người “lấy ghe làm nhà”, lấy “sông nước làm quê hương”, đều coi ghe thuyền là người bạn thân thiết. Do đó, những người đi ghe thuyền, tàu bè đều có chung một tín ngưỡng là thờ Thủy Thần, cụ thể như Cá Ông, Bà – Cậu, Quan Âm Nam Hải…cũng giống như ngư dân.
-Thờ cúng Cá Ông: Thờ Cá Ông là một tín ngưỡng dân gian khá phổ biến của ngư dân vùng ven biển và các đảo. Hầu hết các làng chài đều có lăng miếu thờ cá ông, hay cá voi, còn gọi là “Nam hải đại tướng quân”. Tương truyền khi tàu ghe bị nạn, sắp chìm, cá Ông thường xuất hiện nâng đỡ, đưa tàu thuyền và người vào bờ thoát nạn. Truyền thuyết dân gian cũng kể rằng trên đường bôn tẩu, đoàn tùy tùng của Nguyễn Ánh đã nhiều lần được cá Ông, cá sấu và 2 con rái cá cứu thoát nạn nên sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã phong cho cá Ông tước hiệu Nam Hải đại tướng quân; phong cho đàn cá sấu là “Tân Ngạc ngư long” và hai con rái cá là “Lang lại nhị tướng quân”. Nghi thức Nghinh Ông giống như nghi thức cúng đình thần, cũng long trọng rước linh vị và sắc thần, chỉ khác nhau ở chỗ lễ hội Nghinh Ông diễn ra trên tàu ghe. Ý nghĩa của lễ hội Nghinh Ông thể hiện lòng tri ân và cầu mong cho mưa thuận gió hòa, sóng yên biển lặng, xóm làng sung túc, người ra khơi bình yên trở về, đánh bắt được nhiều cá tôm.
-Thờ cúng Bà – Cậu: Đây là tín ngưỡng phổ biến nhất của những người làm nghề hạ bạc và giới thương hồ ở Nam bộ. Hầu hết các ghe xuồng, tàu bè đều có bàn thờ Bà – Cậu với những kiêng kỵ, cúng kiếng thật chu đáo. Theo tín ngưỡng thờ Bà – Cậu, cư dân miền Trung vào Nam bộ đã chịu ảnh hưởng văn hóa của người Chăm, họ đồng hóa Bà Thiên y Ana với nữ thần sóng gió, tức Thủy Long. Nơi ở của Bà là Lục Cung Thủy Triều. Còn Cậu là cậu Trài (Tài) và cậu Quý “nhị vị công tử”, con trai của Bà, hóa thân từ Thiên y Ana.
-Thờ cúng Quan Âm Nam Hải: Quan Âm Nam Hải là điểm tựa tâm linh của ngư dân, của những người đi sông đi biển. Theo tín ngưỡng dân gian, Phật Quan Âm, mặt nhìn ra khơi luôn ứng hiện để cứu độ dân lành và giúp mọi người hướng thiện, có lòng thành vượt qua những khổ ải trầm luân. Có khi ngài hóa thành nghìn thân để cứu vớt chúng sinh, có khi hóa thành vị Phật nhiều tay, nhiều mắt để quan sát và lắng nghe lời khẩn cầu của thế gian.
Ngoài các tín ngưỡng trên, ngư dân còn thờ cúng cô hồn và cúng người tử nạn trên sông nước. Đặc biệt tại Đồng Tháp ngoài việc thờ Thành hoàng bổn cảnh, bà con còn thờ Đại Càn Quốc gia Nam hải và thường cúng vào tháng Chạp khi mùa đánh bắt vào vụ.
-Đối với thợ đóng ghe xuồng: Việc thờ cúng của thợ đóng ghe xuồng được coi là một nghi thức nhằm biểu hiện lòng tri ân đối với người khuất mặt và các vị thần hộ mạng. Các lễ cúng gồm có: Cúng ghim lô diễn ra khi đặt miếng ván dài đầu tiên từ đầu tới cuối mũi ghe; cúng lên nề khi chuẩn bị sửa chữa ghe xuồng (đại tu); cúng khai nhãn: sau khi đóng xong phần vỏ ghe, chủ và trại ghe làm lễ cúng cầu mong cho ghe thuyền đi đúng hướng, tránh được rủi ro và tai nạn; cúng hạ nề: sau khi đóng ghe xong, rút nề, thay bằng con lăn; cúng hạ thủy khi hoàn tất, đẩy ghe xuống nước; cúng xuất hành: sau Tết, chủ ghe chọn ngày lành tháng tốt cho ghe xuất hành bằng cách chạy một vòng qua khỏi bến cũ rồi quay lại. Sau đó, khởi hành lúc nào cũng được.
Hàng năm, thợ đóng ghe xuồng thường cúng Tổ vào ngày ngày 13 tháng 6 và 20 tháng Chạp. Đối với các chủ ghe thì cúng Bà Cậu vào ngày 14 và 23 hàng tháng. Trong khi đó người đi xe thường cúng cô hồn vào ngày mùng 2 và 16.
-Những điều kiêng kỵ: Ngư dân và người làm nghề sông nước rất tin tưởng vào Bà – Cậu, nơi trang thờ dưới ghe lúc nào cũng có dĩa trái cây, ba chung nước và thường xuyên nhang khói. Những người trên ghe không bao giờ dám xúc phạm, thậm chí không được nói những điều xui xẻo, nhảm nhí.
Những người đi sông, đi biển rất kiêng cử những lời độc địa chua cay, quái gở, đồng thời tránh dùng những tiếng úp, lật, rơi, rớt, đổ, ngã, sẩy, trở, lăn, té, nhào… Chủ ghe cũng tin vào các cổ lệ như ghe thuyền đóng xong, muốn xuất hành hay khởi công đều tránh giờ Mẹo vì đó là giờ sinh cùa Bà Cậu. Các chủ ghe và trại đóng ghe xuồng rất kỵ những ai sờ vào mắt ghe, nhất là người lạ mặt. Khi bán ghe, chủ ghe không bao giờ bán đòn dài và máng tát nước. Nếu bỏ nghề, có thể đem tặng cho người khác.
Trên đường đi, người ngồi trên ghe xuồng kỵ gặp rắn và ngỗng lội trước mũi ghe, kỵ chở mèo và rùa (thậm chí tài công và chủ ghe cũng không ăn thịt mèo và rắn). Trái lại khi gặp chó lội ngang sông là điềm hên, gặp đom đóm bay nhiều là điềm tốt lành. Ngoài ra, khi ngồi trên thuyền làm cá lỡ để rơi con dao xuống nước, phải lặn mò cho được vì việc mất dao dưới đáy nước là điều cấm kỵ.
Một vài nơi còn giữ tục nhuộm lưới, xông lưới, dọn rửa ghe thuyền hoặc cúng vái để giải trừ xui xẻo mỗi khi gặp chuyện không may hoặc lỡ phạm vào điều cấm kỵ.
-Con mắt ghe – Một nét văn hóa độc đáo: Ghe thuyền vừa là phương tiện đi lại, làm ăn, vừa là công cụ gắn liền với phong tục, tập quán, lối sống của cư dân vùng sông nước. Người đi sông đi biển lúc nào cũng coi ghe thuyền là vật linh và quan tâm đến việc trang trí con mắt ghe sao cho thật sinh động, giống như truyền linh hồn cho ghe. Tuy nhiên, mỗi vùng miền đều có một quan niệm khác nhau về con mắt ghe.
Có truyền thuyết cho rằng vẽ giống mắt thuồng luồng sẽ xua các loài thủy quái. Lại có truyền thuyết nên vẽ giống mắt chim ó, khiến thủy quái không dám lại gần. Người sống bằng nghề sông nước lâu năm chỉ cần nhìn vào hình dáng, màu sắc của con mắt ghe là biết được xuất xứ của ghe thuyền từ đâu đến. Chẳng hạn như ghe thuyền ở ĐBSCL thường vẽ mắt tròn, tròng đen, nhãn trắng, toát lên thần thái hiền hòa.
Ngoài con mắt ghe, thợ đóng ghe thuyền còn tôn trọng những quy định thật nghiêm ngặt dù bất thành văn. Chẳng hạn như sau khi cúng ghim lô, miếng ván chuẩn đầu tiên đóng vào sườn ghe phải buộc vải đỏ, tuyệt đối không ai được nằm, ngồi trên miếng ván lô. Sau khi xong, chủ ghe thu lại những cây đinh hoặc bù lon đóng trên miếng ván lô cất kỹ, hoặc ném ra giữa sông rồi trám lại lỗ đinh bằng cây. Làm như thế sẽ không bị kẻ xấu hại. Có người nghĩ rằng nếu dùng đinh đóng lên miếng ván lô sẽ khiến cho thuyền dễ đụng, húc vào thuyền khác.
Mỗi người thợ đóng ghe thuyền đều có những kinh nghiệm và bí quyết riêng trong nghề. Bởi thế dân gian mới có câu “Làm ruộng ăn theo mùa. Làm ghe ăn theo mẹo”.
Tín ngưỡng và những kiêng kỵ trên tựu chung thể hiện tấm lòng cầu mong bình an đến với những người sống ở đầu sóng ngọn gió.
văn hóa

Tín Ngưỡng Thờ Cúng Và Điều Cấm Kỵ Trên Sông Nước

Tùng Phạm  |  at  22:22

Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ có sông ngòi chằng chịt, mà có 7 tỉnh nằm ven biển gồm Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang với tổng chiều dài bờ biển trên 600 km và nhiều hòn đảo lớn nhỏ. Nơi nào có đánh bắt, có người làm nghề hạ bạc, nơi đó có thờ cúng.
Ngư dân và người đi sông đi biển ĐBSCL thờ cúng Cá Ông, Bà Cậu và các nữ thần có liên quan đến vùng biển như Thủy Long Thánh Mẫu, Bà Chúa Xứ, Bà Chúa Hòn, Thiên Hậu Thánh mẫu, tức nữ thần biển. Ngoài ra, bà con ở vùng biển đảo và sông rạch còn thờ cúng các vị thần linh vô hình hoặc hữu hình mà ông cha ta đã từng tế lễ; có thể là hiền thần từng cứu mạng con người như Rái Cá, Ông Nược, cũng có thể là hung thần ác quỷ như Ông Hèo (loài đẻn lớn), Thần Xà… Ở một số nơi ngư dân còn thờ cúng cả những người tử nạn vì nghề nghiệp hoặc chết bất đắc kỳ tử ở ngoài khơi.
Trước kia, tại ĐBSCL, một số nơi như Đồng Tháp cứ sau mùa tát đìa, mùa khai thác cá, các chủ đìa đều long trọng tổ chức cúng cầu ngư tại Gò Tháp, có rước bóng rỗi về múa bóng thật linh đình. Tại xã An Thủy, Ba Tri – Bến Tre hiện nay vẫn còn miếu thờ Bà Thủy, tên là miếu Bà An Thạnh, được dân làng tôn kính và sùng bái.
Đối với ngư dân và những người làm nghề sông nước, tuy không phải là người trực tiếp đánh bắt nhưng những người “lấy ghe làm nhà”, lấy “sông nước làm quê hương”, đều coi ghe thuyền là người bạn thân thiết. Do đó, những người đi ghe thuyền, tàu bè đều có chung một tín ngưỡng là thờ Thủy Thần, cụ thể như Cá Ông, Bà – Cậu, Quan Âm Nam Hải…cũng giống như ngư dân.
-Thờ cúng Cá Ông: Thờ Cá Ông là một tín ngưỡng dân gian khá phổ biến của ngư dân vùng ven biển và các đảo. Hầu hết các làng chài đều có lăng miếu thờ cá ông, hay cá voi, còn gọi là “Nam hải đại tướng quân”. Tương truyền khi tàu ghe bị nạn, sắp chìm, cá Ông thường xuất hiện nâng đỡ, đưa tàu thuyền và người vào bờ thoát nạn. Truyền thuyết dân gian cũng kể rằng trên đường bôn tẩu, đoàn tùy tùng của Nguyễn Ánh đã nhiều lần được cá Ông, cá sấu và 2 con rái cá cứu thoát nạn nên sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã phong cho cá Ông tước hiệu Nam Hải đại tướng quân; phong cho đàn cá sấu là “Tân Ngạc ngư long” và hai con rái cá là “Lang lại nhị tướng quân”. Nghi thức Nghinh Ông giống như nghi thức cúng đình thần, cũng long trọng rước linh vị và sắc thần, chỉ khác nhau ở chỗ lễ hội Nghinh Ông diễn ra trên tàu ghe. Ý nghĩa của lễ hội Nghinh Ông thể hiện lòng tri ân và cầu mong cho mưa thuận gió hòa, sóng yên biển lặng, xóm làng sung túc, người ra khơi bình yên trở về, đánh bắt được nhiều cá tôm.
-Thờ cúng Bà – Cậu: Đây là tín ngưỡng phổ biến nhất của những người làm nghề hạ bạc và giới thương hồ ở Nam bộ. Hầu hết các ghe xuồng, tàu bè đều có bàn thờ Bà – Cậu với những kiêng kỵ, cúng kiếng thật chu đáo. Theo tín ngưỡng thờ Bà – Cậu, cư dân miền Trung vào Nam bộ đã chịu ảnh hưởng văn hóa của người Chăm, họ đồng hóa Bà Thiên y Ana với nữ thần sóng gió, tức Thủy Long. Nơi ở của Bà là Lục Cung Thủy Triều. Còn Cậu là cậu Trài (Tài) và cậu Quý “nhị vị công tử”, con trai của Bà, hóa thân từ Thiên y Ana.
-Thờ cúng Quan Âm Nam Hải: Quan Âm Nam Hải là điểm tựa tâm linh của ngư dân, của những người đi sông đi biển. Theo tín ngưỡng dân gian, Phật Quan Âm, mặt nhìn ra khơi luôn ứng hiện để cứu độ dân lành và giúp mọi người hướng thiện, có lòng thành vượt qua những khổ ải trầm luân. Có khi ngài hóa thành nghìn thân để cứu vớt chúng sinh, có khi hóa thành vị Phật nhiều tay, nhiều mắt để quan sát và lắng nghe lời khẩn cầu của thế gian.
Ngoài các tín ngưỡng trên, ngư dân còn thờ cúng cô hồn và cúng người tử nạn trên sông nước. Đặc biệt tại Đồng Tháp ngoài việc thờ Thành hoàng bổn cảnh, bà con còn thờ Đại Càn Quốc gia Nam hải và thường cúng vào tháng Chạp khi mùa đánh bắt vào vụ.
-Đối với thợ đóng ghe xuồng: Việc thờ cúng của thợ đóng ghe xuồng được coi là một nghi thức nhằm biểu hiện lòng tri ân đối với người khuất mặt và các vị thần hộ mạng. Các lễ cúng gồm có: Cúng ghim lô diễn ra khi đặt miếng ván dài đầu tiên từ đầu tới cuối mũi ghe; cúng lên nề khi chuẩn bị sửa chữa ghe xuồng (đại tu); cúng khai nhãn: sau khi đóng xong phần vỏ ghe, chủ và trại ghe làm lễ cúng cầu mong cho ghe thuyền đi đúng hướng, tránh được rủi ro và tai nạn; cúng hạ nề: sau khi đóng ghe xong, rút nề, thay bằng con lăn; cúng hạ thủy khi hoàn tất, đẩy ghe xuống nước; cúng xuất hành: sau Tết, chủ ghe chọn ngày lành tháng tốt cho ghe xuất hành bằng cách chạy một vòng qua khỏi bến cũ rồi quay lại. Sau đó, khởi hành lúc nào cũng được.
Hàng năm, thợ đóng ghe xuồng thường cúng Tổ vào ngày ngày 13 tháng 6 và 20 tháng Chạp. Đối với các chủ ghe thì cúng Bà Cậu vào ngày 14 và 23 hàng tháng. Trong khi đó người đi xe thường cúng cô hồn vào ngày mùng 2 và 16.
-Những điều kiêng kỵ: Ngư dân và người làm nghề sông nước rất tin tưởng vào Bà – Cậu, nơi trang thờ dưới ghe lúc nào cũng có dĩa trái cây, ba chung nước và thường xuyên nhang khói. Những người trên ghe không bao giờ dám xúc phạm, thậm chí không được nói những điều xui xẻo, nhảm nhí.
Những người đi sông, đi biển rất kiêng cử những lời độc địa chua cay, quái gở, đồng thời tránh dùng những tiếng úp, lật, rơi, rớt, đổ, ngã, sẩy, trở, lăn, té, nhào… Chủ ghe cũng tin vào các cổ lệ như ghe thuyền đóng xong, muốn xuất hành hay khởi công đều tránh giờ Mẹo vì đó là giờ sinh cùa Bà Cậu. Các chủ ghe và trại đóng ghe xuồng rất kỵ những ai sờ vào mắt ghe, nhất là người lạ mặt. Khi bán ghe, chủ ghe không bao giờ bán đòn dài và máng tát nước. Nếu bỏ nghề, có thể đem tặng cho người khác.
Trên đường đi, người ngồi trên ghe xuồng kỵ gặp rắn và ngỗng lội trước mũi ghe, kỵ chở mèo và rùa (thậm chí tài công và chủ ghe cũng không ăn thịt mèo và rắn). Trái lại khi gặp chó lội ngang sông là điềm hên, gặp đom đóm bay nhiều là điềm tốt lành. Ngoài ra, khi ngồi trên thuyền làm cá lỡ để rơi con dao xuống nước, phải lặn mò cho được vì việc mất dao dưới đáy nước là điều cấm kỵ.
Một vài nơi còn giữ tục nhuộm lưới, xông lưới, dọn rửa ghe thuyền hoặc cúng vái để giải trừ xui xẻo mỗi khi gặp chuyện không may hoặc lỡ phạm vào điều cấm kỵ.
-Con mắt ghe – Một nét văn hóa độc đáo: Ghe thuyền vừa là phương tiện đi lại, làm ăn, vừa là công cụ gắn liền với phong tục, tập quán, lối sống của cư dân vùng sông nước. Người đi sông đi biển lúc nào cũng coi ghe thuyền là vật linh và quan tâm đến việc trang trí con mắt ghe sao cho thật sinh động, giống như truyền linh hồn cho ghe. Tuy nhiên, mỗi vùng miền đều có một quan niệm khác nhau về con mắt ghe.
Có truyền thuyết cho rằng vẽ giống mắt thuồng luồng sẽ xua các loài thủy quái. Lại có truyền thuyết nên vẽ giống mắt chim ó, khiến thủy quái không dám lại gần. Người sống bằng nghề sông nước lâu năm chỉ cần nhìn vào hình dáng, màu sắc của con mắt ghe là biết được xuất xứ của ghe thuyền từ đâu đến. Chẳng hạn như ghe thuyền ở ĐBSCL thường vẽ mắt tròn, tròng đen, nhãn trắng, toát lên thần thái hiền hòa.
Ngoài con mắt ghe, thợ đóng ghe thuyền còn tôn trọng những quy định thật nghiêm ngặt dù bất thành văn. Chẳng hạn như sau khi cúng ghim lô, miếng ván chuẩn đầu tiên đóng vào sườn ghe phải buộc vải đỏ, tuyệt đối không ai được nằm, ngồi trên miếng ván lô. Sau khi xong, chủ ghe thu lại những cây đinh hoặc bù lon đóng trên miếng ván lô cất kỹ, hoặc ném ra giữa sông rồi trám lại lỗ đinh bằng cây. Làm như thế sẽ không bị kẻ xấu hại. Có người nghĩ rằng nếu dùng đinh đóng lên miếng ván lô sẽ khiến cho thuyền dễ đụng, húc vào thuyền khác.
Mỗi người thợ đóng ghe thuyền đều có những kinh nghiệm và bí quyết riêng trong nghề. Bởi thế dân gian mới có câu “Làm ruộng ăn theo mùa. Làm ghe ăn theo mẹo”.
Tín ngưỡng và những kiêng kỵ trên tựu chung thể hiện tấm lòng cầu mong bình an đến với những người sống ở đầu sóng ngọn gió.

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

Những cơn mưa dầm nối ngày. Mưa đêm rả rích trên mái nhà làm cho chị trằn trọc không sao ngủ được. Chị nhớ vườn xưa, nhớ nụ cười của ngoại khi xê dịch những tàu dừa để nhổ nấm mối mọc dọc theo bờ đê, chắc chắn cả nhà sẽ được ăn món bánh xèo nấm mối ngon tuyệt.
Mười năm dài theo chồng lên phố, cuộc sống chật vật bon chen nhưng chị lúc nào cũng đau đáu kỷ niệm về mảnh vườn cây tạp quê nhà. Trong vườn có một gốc mít Tố Nữ bưng bít toàn trái, trái thành chùm, từ gốc đến ngọn. Cây mận to bằng hai bàn tay cộng lại. Một cây ổi sẻ. Một gốc sơ ri. Hàng dừa thẳng tắp trồng xen với hàng cau, vài gốc chuối xiêm. Vài cây lá cách trồng dọc mép mương. Cây bình bát. Cây khế già đầy trái nghiêng ra ao cá. Cây trâm già mùa này chắc rủng rỉnh trái chín đen sì làm bầy chim trao trảo tha hồ tíu tít gọi nhau…

Chị nhớ mỗi khi mưa dầm dề, nhất định chị sẽ là người đầu tiên ngồi tuốt trên cây ổi sẻ ăn trái ổi đầu mùa vừa chua tới. Cái cảm giác chua chua ngọt ngọt xen lẫn mùi hương ổi chín đọng mãi trong tâm trí chị. Chị hay mường tượng từng thời điểm khác nhau trong vườn nhà chị. Có lúc ngoại ngắt đọt mướp bỏ ngọn cho chúng bò trên đống chà quao. Dây đậu rồng xanh mướt nằm ưỡn mình trong mưa đã bò dài trên mái nhà củi. Mấy liếp cải ngọt được ngoại rào ngăn đàn gà con bươi, xới. Dây mồng tơi quấn quanh bụi bùm sụm, bụi bạc hà to bẹ. Dưới mương trong vườn vào mùa những con cá sặt làm tổ. Thế nào, chị cũng nằng nặc đòi cha làm cho vài cái lờ đặt bắt cá sặt, chỉ cần lùa bọt vào lò, đậy bằng đọt lá quao nửa tiếng, mười lăm phút là có cá nằm gọn trong lờ. Kỷ niệm mùa hè còn là đủ thứ trò chơi trong khu vườn rợp bóng, từ trò hàng chòi, đám cưới, thắt đủ thứ con bằng cọng lá dừa, trò trốn tìm, những hôm nước lớn xin ngoại ôm dừa điếc tập bơi dưới mương. Chị lớn lên với đủ thứ trò chơi, từ trò chơi thùy mị của con gái đến những trò của con trai chặt cây bình bát, cây quao đẽo kiếm, cho đến trò làm nạng thun bắt thòi lòi, lấy bụp lá đẽo ghe thả dọc mương dừa.
Lớn lên một chút, chị nhớ mùi mít chín sực nức thơm khắp vườn, cây mận đầy trái, tiếng xoài chín cây rụng trong những đêm gió rào rạc nhẹ đưa. Trái bình bát vàng ươm. Gốc sơ-ri bầy gà thường vào trốn nắng đỏ trái chín. Chị nhớ cái cảm giác bình yên len lỏi trong tiềm thức. Mỗi khi chị buồn chị hay mắc võng nằm tư lự một mình.
Những cơn mưa đêm đi qua, thời gian mỗi ngày không bào mòn tiềm thức về mảnh vườn xưa của chị, dẫu cho chị giờ đã là người của phố. Đêm mưa, chị bật người dậy, nước mắt chảy dài trong nỗi nhớ vườn xưa…
miệt vườn

Vườn Xưa

Tùng Phạm  |  at  23:14

Những cơn mưa dầm nối ngày. Mưa đêm rả rích trên mái nhà làm cho chị trằn trọc không sao ngủ được. Chị nhớ vườn xưa, nhớ nụ cười của ngoại khi xê dịch những tàu dừa để nhổ nấm mối mọc dọc theo bờ đê, chắc chắn cả nhà sẽ được ăn món bánh xèo nấm mối ngon tuyệt.
Mười năm dài theo chồng lên phố, cuộc sống chật vật bon chen nhưng chị lúc nào cũng đau đáu kỷ niệm về mảnh vườn cây tạp quê nhà. Trong vườn có một gốc mít Tố Nữ bưng bít toàn trái, trái thành chùm, từ gốc đến ngọn. Cây mận to bằng hai bàn tay cộng lại. Một cây ổi sẻ. Một gốc sơ ri. Hàng dừa thẳng tắp trồng xen với hàng cau, vài gốc chuối xiêm. Vài cây lá cách trồng dọc mép mương. Cây bình bát. Cây khế già đầy trái nghiêng ra ao cá. Cây trâm già mùa này chắc rủng rỉnh trái chín đen sì làm bầy chim trao trảo tha hồ tíu tít gọi nhau…

Chị nhớ mỗi khi mưa dầm dề, nhất định chị sẽ là người đầu tiên ngồi tuốt trên cây ổi sẻ ăn trái ổi đầu mùa vừa chua tới. Cái cảm giác chua chua ngọt ngọt xen lẫn mùi hương ổi chín đọng mãi trong tâm trí chị. Chị hay mường tượng từng thời điểm khác nhau trong vườn nhà chị. Có lúc ngoại ngắt đọt mướp bỏ ngọn cho chúng bò trên đống chà quao. Dây đậu rồng xanh mướt nằm ưỡn mình trong mưa đã bò dài trên mái nhà củi. Mấy liếp cải ngọt được ngoại rào ngăn đàn gà con bươi, xới. Dây mồng tơi quấn quanh bụi bùm sụm, bụi bạc hà to bẹ. Dưới mương trong vườn vào mùa những con cá sặt làm tổ. Thế nào, chị cũng nằng nặc đòi cha làm cho vài cái lờ đặt bắt cá sặt, chỉ cần lùa bọt vào lò, đậy bằng đọt lá quao nửa tiếng, mười lăm phút là có cá nằm gọn trong lờ. Kỷ niệm mùa hè còn là đủ thứ trò chơi trong khu vườn rợp bóng, từ trò hàng chòi, đám cưới, thắt đủ thứ con bằng cọng lá dừa, trò trốn tìm, những hôm nước lớn xin ngoại ôm dừa điếc tập bơi dưới mương. Chị lớn lên với đủ thứ trò chơi, từ trò chơi thùy mị của con gái đến những trò của con trai chặt cây bình bát, cây quao đẽo kiếm, cho đến trò làm nạng thun bắt thòi lòi, lấy bụp lá đẽo ghe thả dọc mương dừa.
Lớn lên một chút, chị nhớ mùi mít chín sực nức thơm khắp vườn, cây mận đầy trái, tiếng xoài chín cây rụng trong những đêm gió rào rạc nhẹ đưa. Trái bình bát vàng ươm. Gốc sơ-ri bầy gà thường vào trốn nắng đỏ trái chín. Chị nhớ cái cảm giác bình yên len lỏi trong tiềm thức. Mỗi khi chị buồn chị hay mắc võng nằm tư lự một mình.
Những cơn mưa đêm đi qua, thời gian mỗi ngày không bào mòn tiềm thức về mảnh vườn xưa của chị, dẫu cho chị giờ đã là người của phố. Đêm mưa, chị bật người dậy, nước mắt chảy dài trong nỗi nhớ vườn xưa…

Bài Viết Cùng Chủ Đề

© 2015 Hai Lúa Miền Tây | Design by Tùng Phạm
| Design by Tùng Phạm.