Bài Viết Mới

Hiển thị các bài đăng có nhãn bình phong lạc nhạn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bình phong lạc nhạn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

Ca dao Nam bộ là một bộ phận có ý nghĩa quan trọng trong ca dao người Việt nói riêng và Văn học dân gian nói chung. Ca dao thấm nhuần trong tâm hồn con người bằng cái tình quê dung dị, hiền hòa. Với ngôn ngữ dân gian của xứ sở “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh tựa bánh canh”, người dân Nam bộ đã góp nhặt những tiếng nói ân tình cho tâm hồn người Việt bằng những hình ảnh quen thuộc mang tính biểu trưng của vùng sông nước Cửu Long.
Nổi bật ở vùng đồng bằng châu thổ Cửu Long là sự có mặt của hình ảnh cây bần, một loại cây rất gần gũi với bà con Nam bộ. Cây bần là loại cây đặc thù ở vùng đất bồi lắng phù sa này. Cây bần còn gọi là cây thủy liễu, thường mọc ven các kênh rạch hay xen lẫn trong những đám lá dừa nước. Là loại cây sống trong môi trường bùn nước, bần có rễ phụ mọc nhô lên khỏi mặt bùn. Cây bần có chức năng giữ đất rất tốt, gỗ chủ yếu dùng làm chất đốt. Hoa bần màu trắng pha chút hồng phấn, rất đẹp, cho trái. Trái bần có vị chua của phần thịt, chát của phần hạt rất thú vị. Đây cũng là món ăn “độc quyền” của bà con Nam bộ:
Muốn ăn mắm sặc bần chua
Chờ mùa nước nổi ăn cho đã thèm
Bà con Nam bộ đã dành cho cây bần một tâm tình ưu ái. Trong các câu ca dao, họ mượn hình ảnh cây bần để thổ lộ tấm lòng của mình với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, từ đó tạo nên nhận thức thẩm mỹ khá mới lạ về loài cây này.
Xuất phát từ cái tên nghe quá đói khổ- “bần” mà người Nam bộ đã đặt câu đố về nó:
Giống chi toàn là giống đực
Thiếu tứ bề cam cực chung thân ?
Từ kiếp bình sinh “thiếu tứ bề” ấy mà tác giả bình dân đã mượn trái bần để nói lên số phận hẩm hiu của người phụ nữ:
Thân em như trái bần trôi
Sóng dập gió dồi biết tắp vào đâu?
Hình ảnh “sóng dập gió dồi” thật hay vì cây bần cho trái chín vào mùa nước nổi. Vì vậy nước tràn ngập lung bàu làm cho trái bần trôi dạt theo dòng nước mà không biết sẽ về đâu.
Là thế đấy, cây bần mang số kiếp thật hẩm hiu, bị phũ phàng:
Cây bần kia hỡi cây bần
Lá xanh bông trắng lại gần không thơm
Nhiều lúc cây bần trở nên mạt hạn, tầm thường trong thể hiện của người bình dân:
Cảm thương ô dước, bời lời
Cha sao mẹ sến, dựa nơi gốc bần
Cây bần còn là cái để người ta so sánh sự sang hèn:
Không thương em hổng có cần
Trầm hương khó kiếm chớ đước bần thiếu chi
Tuy nhiên, người Nam bộ không chỉ nhìn cây bần dưới con mắt bi quan như thế. Bằng cái nhìn hào sảng và lối sống phóng khoáng, lạc quan, cây bần còn là điểm tựa cho tình yêu đôi lứa:
Làm thơ anh dán đọt bần
Dán cho hai họ Nguyễn Trần gặp nhau
Hy vọng để rồi khi tình duyên bị ngăn trở, bần lại là nơi cha mẹ phạt vạ con cái:
Phụ mẫu đánh anh quặt quà quặt quại,
Đem anh treo tại nhánh bần.
Rũi đứt dây mà rớt xuống,
Anh cũng lần mò kiếm em.
Cái tình của người dân Nam bộ là thế, yêu “xả láng”, đánh chết cũng thương. Cây bần còn là biểu vật của sự nhớ thương, là mật hiệu của tình yêu:
Chiều chiều xuống bến ba lần
Trông em không thấy thấy bần xơ rơ
Hay
Lẻ đôi em chịu lẻ đôi
Hoa tàn em cũng đợi, bần trôi em cũng chờ
Nhưng nhiều lúc những cô Hai, anh Sáu lại nghi ngại, đặt vấn đề về chuyện cưới xin:
Neo ghe vô dựa gốc bần
Em thương anh nói vậy chớ biết mình đặng gần hay không
Hay khi đã không thành duyên nợ thì:
Bần gie, bần liệt, diệc đau chờ mồi
Anh với em duyên nợ hết rồi
Đi tìm chỗ khác đừng ngồi kế em
Không chỉ vu vơ trách móc thế thôi, với cách nói như tát nước, người Nam bộ cũng mắng nhiếc:
Mồ cha thằng đốn cây bần
Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm
Nhưng đôi lúc cũng cảm thông:
Bần gie đóm đậu sáng ngời
Lỡ duyên tại bậu trách trời sao nên
Dựa vào trường liên tưởng sự vật, người dân Nam bộ đã thổi vào cây bần một luồng sinh khí có sức sống đến kỳ lạ, nó hiển hiện dạt dào trong lòng người đọc tạo nên giá trị biểu đạt phong phú. Từ đó nó tạo nên cảm hứng thẩm mỹ cho người thưởng thức.
Ngày nay, cây bần vẫn còn chiếm vị trí khá lớn bên dòng sông nước Nam bộ. Nó có một ý nghĩa lớn trong tâm hồn của người dân nơi đây. Trải bao thăng trầm của thiên nhiên, nhu cầu kinh tế, và cả tác động của con người, cây bần vẫn sừng sững trong tâm thức của người dân, gợi nhớ về một thời khai hoang vùng đất “vượn hú chim kêu” của ông cha – giúp chúng ta hiểu thêm về nền văn minh miệt vườn, nền văn hóa sông nước trù phú và ngọt ngào như lời ru từ lòng mẹ, để chúng ta sẽ thấy mình có trách nhiệm hơn với quê hương.
Bướm đeo dưới dạ cây bần
Làm sao kết nghĩa châu trần với nhau
Bướm đeo dưới dạ cây bần (2)
Muốn phân nhân ngãi, lại gần sẽ phân
Bướm bay dưới dạ cây bần,
Làm sao kết nghĩa Châu Trần với nhau.
Bởi anh đành đoạn, Đốn ngọn cây bần
Thương anh em phải sớm hôm
Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm,
Ba bốn nơi sang cả, phụ mẫu em đành gả
Em chắp tay: khoan đã chưa tới căn phần
Phụ mẫu em nói: em bất chấp tôn giáo hóa,
Đem treo cây bần cho kiến nó tha
Ba bốn nơi sang cả, phụ mẫu em muốn gả
Em chấp tay: khoan đã, chưa tới duyên phần
Phụ mẫu nói em bất tôn giáo hóa
Em trèo lên cây bần cho kiến nó bu
Cám thương ô đước bời lời,
Cha sao mẹ sến, dựa nơi gốc bần.
Cây bần kia hỡi cây bần,
Lá xanh bông thắm lại gần không thơm
Cây bần ơi hỡi cây bần
Lá xanh bông trắng lại gần không thơm.
Cây bần de đom đóm đậu sáng ngời
Lỡ duyên tại bậu, oán trời sao nên.
Cây bần soi bóng ghe nghèo
Qua sông gặp gió, em chèo giùm anh
Chặt cây dừa
Chừa cây mận
Cây bần thận
Cây bí đao
Cây nào cao
Cây nào thấp
Cây nào rập
Cây nào rà
Cây nào rách
Cây nào rời
Mồng tơi chín đỏ
Con thỏ nhảy qua
Bà già hứ hự
Bùm xùm xoạ
Rút ra tay này
Chiều chiều ngó ngọn cây bần
Thấy ba ông Địa ở trần nấu cơm
Ông kia xách dĩa lại đơm
Ông nọ ứ hự nồi cơm mới vần
Mới vần mặc kệ mới vần
Bây giờ đói bụng xúc lần ra ăn.
Mồ cha đứa đốn cây bần,
Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm.
Mồ cha ai (Trách ai nỡ) đốn cây bần
Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm
Trách ai nỡ đốn cây bần
Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm!
Trèo lên chót vót cây bần
Vái anh đi cưới vợ, cho sóng thần nhận ghe.
Trèo lên chót vót cây bần,
Vái anh đi cưới vợ cho sóng thần nhận ghe.
văn hóa

Hình Ảnh Cây Bần trong Ca Dao Nam Bộ

Tùng Phạm  |  at  22:17

Ca dao Nam bộ là một bộ phận có ý nghĩa quan trọng trong ca dao người Việt nói riêng và Văn học dân gian nói chung. Ca dao thấm nhuần trong tâm hồn con người bằng cái tình quê dung dị, hiền hòa. Với ngôn ngữ dân gian của xứ sở “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh tựa bánh canh”, người dân Nam bộ đã góp nhặt những tiếng nói ân tình cho tâm hồn người Việt bằng những hình ảnh quen thuộc mang tính biểu trưng của vùng sông nước Cửu Long.
Nổi bật ở vùng đồng bằng châu thổ Cửu Long là sự có mặt của hình ảnh cây bần, một loại cây rất gần gũi với bà con Nam bộ. Cây bần là loại cây đặc thù ở vùng đất bồi lắng phù sa này. Cây bần còn gọi là cây thủy liễu, thường mọc ven các kênh rạch hay xen lẫn trong những đám lá dừa nước. Là loại cây sống trong môi trường bùn nước, bần có rễ phụ mọc nhô lên khỏi mặt bùn. Cây bần có chức năng giữ đất rất tốt, gỗ chủ yếu dùng làm chất đốt. Hoa bần màu trắng pha chút hồng phấn, rất đẹp, cho trái. Trái bần có vị chua của phần thịt, chát của phần hạt rất thú vị. Đây cũng là món ăn “độc quyền” của bà con Nam bộ:
Muốn ăn mắm sặc bần chua
Chờ mùa nước nổi ăn cho đã thèm
Bà con Nam bộ đã dành cho cây bần một tâm tình ưu ái. Trong các câu ca dao, họ mượn hình ảnh cây bần để thổ lộ tấm lòng của mình với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, từ đó tạo nên nhận thức thẩm mỹ khá mới lạ về loài cây này.
Xuất phát từ cái tên nghe quá đói khổ- “bần” mà người Nam bộ đã đặt câu đố về nó:
Giống chi toàn là giống đực
Thiếu tứ bề cam cực chung thân ?
Từ kiếp bình sinh “thiếu tứ bề” ấy mà tác giả bình dân đã mượn trái bần để nói lên số phận hẩm hiu của người phụ nữ:
Thân em như trái bần trôi
Sóng dập gió dồi biết tắp vào đâu?
Hình ảnh “sóng dập gió dồi” thật hay vì cây bần cho trái chín vào mùa nước nổi. Vì vậy nước tràn ngập lung bàu làm cho trái bần trôi dạt theo dòng nước mà không biết sẽ về đâu.
Là thế đấy, cây bần mang số kiếp thật hẩm hiu, bị phũ phàng:
Cây bần kia hỡi cây bần
Lá xanh bông trắng lại gần không thơm
Nhiều lúc cây bần trở nên mạt hạn, tầm thường trong thể hiện của người bình dân:
Cảm thương ô dước, bời lời
Cha sao mẹ sến, dựa nơi gốc bần
Cây bần còn là cái để người ta so sánh sự sang hèn:
Không thương em hổng có cần
Trầm hương khó kiếm chớ đước bần thiếu chi
Tuy nhiên, người Nam bộ không chỉ nhìn cây bần dưới con mắt bi quan như thế. Bằng cái nhìn hào sảng và lối sống phóng khoáng, lạc quan, cây bần còn là điểm tựa cho tình yêu đôi lứa:
Làm thơ anh dán đọt bần
Dán cho hai họ Nguyễn Trần gặp nhau
Hy vọng để rồi khi tình duyên bị ngăn trở, bần lại là nơi cha mẹ phạt vạ con cái:
Phụ mẫu đánh anh quặt quà quặt quại,
Đem anh treo tại nhánh bần.
Rũi đứt dây mà rớt xuống,
Anh cũng lần mò kiếm em.
Cái tình của người dân Nam bộ là thế, yêu “xả láng”, đánh chết cũng thương. Cây bần còn là biểu vật của sự nhớ thương, là mật hiệu của tình yêu:
Chiều chiều xuống bến ba lần
Trông em không thấy thấy bần xơ rơ
Hay
Lẻ đôi em chịu lẻ đôi
Hoa tàn em cũng đợi, bần trôi em cũng chờ
Nhưng nhiều lúc những cô Hai, anh Sáu lại nghi ngại, đặt vấn đề về chuyện cưới xin:
Neo ghe vô dựa gốc bần
Em thương anh nói vậy chớ biết mình đặng gần hay không
Hay khi đã không thành duyên nợ thì:
Bần gie, bần liệt, diệc đau chờ mồi
Anh với em duyên nợ hết rồi
Đi tìm chỗ khác đừng ngồi kế em
Không chỉ vu vơ trách móc thế thôi, với cách nói như tát nước, người Nam bộ cũng mắng nhiếc:
Mồ cha thằng đốn cây bần
Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm
Nhưng đôi lúc cũng cảm thông:
Bần gie đóm đậu sáng ngời
Lỡ duyên tại bậu trách trời sao nên
Dựa vào trường liên tưởng sự vật, người dân Nam bộ đã thổi vào cây bần một luồng sinh khí có sức sống đến kỳ lạ, nó hiển hiện dạt dào trong lòng người đọc tạo nên giá trị biểu đạt phong phú. Từ đó nó tạo nên cảm hứng thẩm mỹ cho người thưởng thức.
Ngày nay, cây bần vẫn còn chiếm vị trí khá lớn bên dòng sông nước Nam bộ. Nó có một ý nghĩa lớn trong tâm hồn của người dân nơi đây. Trải bao thăng trầm của thiên nhiên, nhu cầu kinh tế, và cả tác động của con người, cây bần vẫn sừng sững trong tâm thức của người dân, gợi nhớ về một thời khai hoang vùng đất “vượn hú chim kêu” của ông cha – giúp chúng ta hiểu thêm về nền văn minh miệt vườn, nền văn hóa sông nước trù phú và ngọt ngào như lời ru từ lòng mẹ, để chúng ta sẽ thấy mình có trách nhiệm hơn với quê hương.
Bướm đeo dưới dạ cây bần
Làm sao kết nghĩa châu trần với nhau
Bướm đeo dưới dạ cây bần (2)
Muốn phân nhân ngãi, lại gần sẽ phân
Bướm bay dưới dạ cây bần,
Làm sao kết nghĩa Châu Trần với nhau.
Bởi anh đành đoạn, Đốn ngọn cây bần
Thương anh em phải sớm hôm
Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm,
Ba bốn nơi sang cả, phụ mẫu em đành gả
Em chắp tay: khoan đã chưa tới căn phần
Phụ mẫu em nói: em bất chấp tôn giáo hóa,
Đem treo cây bần cho kiến nó tha
Ba bốn nơi sang cả, phụ mẫu em muốn gả
Em chấp tay: khoan đã, chưa tới duyên phần
Phụ mẫu nói em bất tôn giáo hóa
Em trèo lên cây bần cho kiến nó bu
Cám thương ô đước bời lời,
Cha sao mẹ sến, dựa nơi gốc bần.
Cây bần kia hỡi cây bần,
Lá xanh bông thắm lại gần không thơm
Cây bần ơi hỡi cây bần
Lá xanh bông trắng lại gần không thơm.
Cây bần de đom đóm đậu sáng ngời
Lỡ duyên tại bậu, oán trời sao nên.
Cây bần soi bóng ghe nghèo
Qua sông gặp gió, em chèo giùm anh
Chặt cây dừa
Chừa cây mận
Cây bần thận
Cây bí đao
Cây nào cao
Cây nào thấp
Cây nào rập
Cây nào rà
Cây nào rách
Cây nào rời
Mồng tơi chín đỏ
Con thỏ nhảy qua
Bà già hứ hự
Bùm xùm xoạ
Rút ra tay này
Chiều chiều ngó ngọn cây bần
Thấy ba ông Địa ở trần nấu cơm
Ông kia xách dĩa lại đơm
Ông nọ ứ hự nồi cơm mới vần
Mới vần mặc kệ mới vần
Bây giờ đói bụng xúc lần ra ăn.
Mồ cha đứa đốn cây bần,
Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm.
Mồ cha ai (Trách ai nỡ) đốn cây bần
Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm
Trách ai nỡ đốn cây bần
Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm!
Trèo lên chót vót cây bần
Vái anh đi cưới vợ, cho sóng thần nhận ghe.
Trèo lên chót vót cây bần,
Vái anh đi cưới vợ cho sóng thần nhận ghe.

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Đạo sĩ Ba Lưới tên thật là Nguyễn Văn Y, sinh ra ở miền sông nước miệt cù lao Giêng (xã Tấn Mỹ,H.Chợ Mới- An Giang), người đã hành nghề thầy thuốc trị bệnh cứu người lâu nhất ở núi Cấm (hơn 70 năm) và người đã hai lần chém xà tinh trừ hại cho dân.
Tuổi thơ ông thường bơi ghe ngang dọc khắp các sông rạch vùng Cái Tàu, Vàm Nao, Ông Chưởng… để chài lưới kiếm cá đổi gạo. Không biết cơ duyên nào đưa tới, khoảng đầu thập niên 1930, khi sắp tuổi 20, ông lén nhà vác theo mấy tay lưới, hỏi đường đi bộ suốt hai ngày lên tới Thất Sơn, rồi lần hồi vẹt rừng lần lên tới đỉnh núi Thiên Cấm Sơn (núi Cấm) và đi đâu ông cũng dắt manh lưới bên mình vì vậy các bậc ân nhân, tiền bối thấy ngộ, nên gọi ông là Ba Lưới. Cũng từ đó, chẳng ai nhớ đến cái tên Nguyễn Văn Y của ông nữa.
Những năm 1930 vùng Thất Sơn trong đó núi Thiên Cấm Sơn là nơi rừng rú hoang rậm, cọp beo đi thành đàn, rắn độc, đặc biệt là rắn khổng lồ bò lổm ngổm trong rừng và chỉ có những đạo sĩ ẩn danh tu luyện, những cao nhân muốn lẩn trốn thế sự, cũng có thể là những chí sĩ tạm thời ẩn thân trong rừng chờ thời cơ. Hàng ngày, các đạo sĩ trồng trọt, hái thuốc, đêm xuống luyện võ nghệ và tu học.Tu là tu thân để làm điều lành, tránh cái ác; học là theo điều đức hạnh, chứ không theo đạo giáo nào. Tu ở đây không có sư phụ, đệ tử, chỉ người đi trước dạy cho người đi sau, cứ nghĩ đến điều tốt đẹp mà làm. Những người sống trên núi lúc đó ai cũng phải rèn luyện võ công. Không có võ thì không tồn tại nổi ở chốn rừng thiêng nước độc này”.
Là người có sức khỏe, trí thông minh, lại chăm chỉ học hỏi, nên chàng trai Ba Lưới được nhiều đạo sĩ dạy dỗ, đào tạo. Có đạo sĩ dạy ông cách luyện khí công, đạo sĩ dạy thuốc, đạo sĩ dạy võ… Không biết có phải nhờ dày công luyện tập các bí kíp của môn võ lâm Thất Sơn và thái cực quyền mà ở tuổi 100 (tính đến năm 2012), lão đạo sĩ Ba Lưới vẫn giữ được thân pháp nhẹ nhàng, giọng nói trầm ấm, thi thoảng lại pha vào những tràng cười hỉ hả đầy sảng khoái.
Suốt mấy chục năm trời miệt mài phát rừng làm rẫy để có cái ăn, rồi lần dò tìm thầy học võ để phòng thân, thêm nghề bốc thuốc cứu người. Trong hành trình tu thân học đạo, ông Ba Lưới không ít lần giáp mặt với thú dữ. Nhờ những thế võ Thất Sơn bí truyền học được từ các đạo sĩ tiền bối, ông đã hai lần hạ gục rắn hổ mây to hàng chục ký với thế “Bình Phong Lạc Nhạn”. Ông theo học rất nhiều sư phụ, nhưng môn phái ông theo học chánh tông là Đường Phong. Có thể nói ông là đệ tử chân truyền đời thứ 9 của Cử Đa, người sáng lập ra môn phái võ Đường Phong trên đỉnh Cấm Sơn.
Ông cũng được ông Năm Sanh (Trần Văn Sanh) – một đạo sĩ ẩn tu tại núi Tà Lơn (Campuchia) nhận làm đồ đệ, truyền dạy những bài thuốc bí truyền. Giữa chốn núi rừng thâm u, đầy rẫy rắn độc, những bài thuốc trị bệnh, chữa nọc rắn của thầy dạy ông ngày xưa trở nên vô cùng hữu dụng và cần thiết. Vì thế ông cũng bắt tay phục dược, cứu chữa bệnh cho người dân quanh núi. Những loài thuốc quý trên núi ông đều biết cả, được dùng để trị bệnh cứu người. Bởi vậy, nhiều người còn gọi ông là “Thần y” trên núi Cấm.
Tính đến năm 2013, thế hệ những đạo sĩ cuối cùng ở miệt Thất Sơn từng vang danh như Năm Cao, Ba Sánh, Đức Minh, Thiện Tài, Năm Sanh, Ba Tiêu, Thiện Quang, Mười Thiệt, Sáu Hột, Mười Phu… kẻ trước người sau lần lượt tạ thế, có lẽ chỉ còn lại nhà sư Thiện Huệ (87 tuổi, quê quán ở xã Phước Hưng, huyện An Phú, An Giang), trụ trì chùa Bình Sơn (ấp Thiên Tuế) và đạo sĩ Ba Lưới. Hai ông được xem như “pho sử sống” của miệt Thất Sơn.
Sau 1975 cuộc sống trên núi Cấm cũng thay đổi dần. Những cư sĩ ẩn tu lần lượt xuất sơn, chọn nơi khác lập nghiệp. Năm 1976, ông Ba Lưới tìm đến vườn đá ở hang Long Hổ Hội dựng chòi sinh sống. Theo ông, nơi đây từng là nơi họp mặt của hổ và rắn vào những dịp trăng tròn. Thời gian này, ông gặp bà Huỳnh Thị Quang, ở Tân Châu, đi viếng núi. Như duyên tiền định, ông bà gá nghĩa với nhau và ở đây sinh sống đến giờ, sinh được bốn người con.
Người dân địa phương còn nhắc nhiều đến ông Ba Lưới với tượng Phật Di Lặc cao 33,6 m bằng bê tông cốt thép trên đỉnh núi Cấm trị giá tiền tỉ mà ông đã góp công xây dựng. Nay ở vào tuổi xế chiều, song ông Ba Lưới còn một tâm nguyện là hoàn thành công trình chùa Phật Lớn trên đỉnh núi Cấm.
Nay chỉ còn riêng Ba Lưới nguyện sống hết cuộc đời mình để giữ lại tán rừng, hang đá. Bởi vậy người ta gọi ông là lão kỳ nhân đạo sĩ cuối cùng của đỉnh Cấm Sơn.
thất sơn huyền bí

Vị Đạo Sĩ Cuối Cùng Trên Đỉnh Cấm Sơn

Tùng Phạm  |  at  19:46

Đạo sĩ Ba Lưới tên thật là Nguyễn Văn Y, sinh ra ở miền sông nước miệt cù lao Giêng (xã Tấn Mỹ,H.Chợ Mới- An Giang), người đã hành nghề thầy thuốc trị bệnh cứu người lâu nhất ở núi Cấm (hơn 70 năm) và người đã hai lần chém xà tinh trừ hại cho dân.
Tuổi thơ ông thường bơi ghe ngang dọc khắp các sông rạch vùng Cái Tàu, Vàm Nao, Ông Chưởng… để chài lưới kiếm cá đổi gạo. Không biết cơ duyên nào đưa tới, khoảng đầu thập niên 1930, khi sắp tuổi 20, ông lén nhà vác theo mấy tay lưới, hỏi đường đi bộ suốt hai ngày lên tới Thất Sơn, rồi lần hồi vẹt rừng lần lên tới đỉnh núi Thiên Cấm Sơn (núi Cấm) và đi đâu ông cũng dắt manh lưới bên mình vì vậy các bậc ân nhân, tiền bối thấy ngộ, nên gọi ông là Ba Lưới. Cũng từ đó, chẳng ai nhớ đến cái tên Nguyễn Văn Y của ông nữa.
Những năm 1930 vùng Thất Sơn trong đó núi Thiên Cấm Sơn là nơi rừng rú hoang rậm, cọp beo đi thành đàn, rắn độc, đặc biệt là rắn khổng lồ bò lổm ngổm trong rừng và chỉ có những đạo sĩ ẩn danh tu luyện, những cao nhân muốn lẩn trốn thế sự, cũng có thể là những chí sĩ tạm thời ẩn thân trong rừng chờ thời cơ. Hàng ngày, các đạo sĩ trồng trọt, hái thuốc, đêm xuống luyện võ nghệ và tu học.Tu là tu thân để làm điều lành, tránh cái ác; học là theo điều đức hạnh, chứ không theo đạo giáo nào. Tu ở đây không có sư phụ, đệ tử, chỉ người đi trước dạy cho người đi sau, cứ nghĩ đến điều tốt đẹp mà làm. Những người sống trên núi lúc đó ai cũng phải rèn luyện võ công. Không có võ thì không tồn tại nổi ở chốn rừng thiêng nước độc này”.
Là người có sức khỏe, trí thông minh, lại chăm chỉ học hỏi, nên chàng trai Ba Lưới được nhiều đạo sĩ dạy dỗ, đào tạo. Có đạo sĩ dạy ông cách luyện khí công, đạo sĩ dạy thuốc, đạo sĩ dạy võ… Không biết có phải nhờ dày công luyện tập các bí kíp của môn võ lâm Thất Sơn và thái cực quyền mà ở tuổi 100 (tính đến năm 2012), lão đạo sĩ Ba Lưới vẫn giữ được thân pháp nhẹ nhàng, giọng nói trầm ấm, thi thoảng lại pha vào những tràng cười hỉ hả đầy sảng khoái.
Suốt mấy chục năm trời miệt mài phát rừng làm rẫy để có cái ăn, rồi lần dò tìm thầy học võ để phòng thân, thêm nghề bốc thuốc cứu người. Trong hành trình tu thân học đạo, ông Ba Lưới không ít lần giáp mặt với thú dữ. Nhờ những thế võ Thất Sơn bí truyền học được từ các đạo sĩ tiền bối, ông đã hai lần hạ gục rắn hổ mây to hàng chục ký với thế “Bình Phong Lạc Nhạn”. Ông theo học rất nhiều sư phụ, nhưng môn phái ông theo học chánh tông là Đường Phong. Có thể nói ông là đệ tử chân truyền đời thứ 9 của Cử Đa, người sáng lập ra môn phái võ Đường Phong trên đỉnh Cấm Sơn.
Ông cũng được ông Năm Sanh (Trần Văn Sanh) – một đạo sĩ ẩn tu tại núi Tà Lơn (Campuchia) nhận làm đồ đệ, truyền dạy những bài thuốc bí truyền. Giữa chốn núi rừng thâm u, đầy rẫy rắn độc, những bài thuốc trị bệnh, chữa nọc rắn của thầy dạy ông ngày xưa trở nên vô cùng hữu dụng và cần thiết. Vì thế ông cũng bắt tay phục dược, cứu chữa bệnh cho người dân quanh núi. Những loài thuốc quý trên núi ông đều biết cả, được dùng để trị bệnh cứu người. Bởi vậy, nhiều người còn gọi ông là “Thần y” trên núi Cấm.
Tính đến năm 2013, thế hệ những đạo sĩ cuối cùng ở miệt Thất Sơn từng vang danh như Năm Cao, Ba Sánh, Đức Minh, Thiện Tài, Năm Sanh, Ba Tiêu, Thiện Quang, Mười Thiệt, Sáu Hột, Mười Phu… kẻ trước người sau lần lượt tạ thế, có lẽ chỉ còn lại nhà sư Thiện Huệ (87 tuổi, quê quán ở xã Phước Hưng, huyện An Phú, An Giang), trụ trì chùa Bình Sơn (ấp Thiên Tuế) và đạo sĩ Ba Lưới. Hai ông được xem như “pho sử sống” của miệt Thất Sơn.
Sau 1975 cuộc sống trên núi Cấm cũng thay đổi dần. Những cư sĩ ẩn tu lần lượt xuất sơn, chọn nơi khác lập nghiệp. Năm 1976, ông Ba Lưới tìm đến vườn đá ở hang Long Hổ Hội dựng chòi sinh sống. Theo ông, nơi đây từng là nơi họp mặt của hổ và rắn vào những dịp trăng tròn. Thời gian này, ông gặp bà Huỳnh Thị Quang, ở Tân Châu, đi viếng núi. Như duyên tiền định, ông bà gá nghĩa với nhau và ở đây sinh sống đến giờ, sinh được bốn người con.
Người dân địa phương còn nhắc nhiều đến ông Ba Lưới với tượng Phật Di Lặc cao 33,6 m bằng bê tông cốt thép trên đỉnh núi Cấm trị giá tiền tỉ mà ông đã góp công xây dựng. Nay ở vào tuổi xế chiều, song ông Ba Lưới còn một tâm nguyện là hoàn thành công trình chùa Phật Lớn trên đỉnh núi Cấm.
Nay chỉ còn riêng Ba Lưới nguyện sống hết cuộc đời mình để giữ lại tán rừng, hang đá. Bởi vậy người ta gọi ông là lão kỳ nhân đạo sĩ cuối cùng của đỉnh Cấm Sơn.

Chuyện diệt cọp và hổ mây khổng lồ của đạo sĩ Ba Lưới với tuyệt chiêu “Bình phong lạc nhạn” của phái Đường Phong đã đi vào sách vở, vào những cẩm nang giới thiệu về vùng Thất Sơn do cơ quan Nhà nước phát hành
Phái võ Đường Phong là võ phái ở Thất Sơn ít người biết đến. Người sáng lập ra võ phái này là cụ Cử Đa. Còn vị đệ tử chân truyền đời thứ 9 của Đường Phong là lão đạo sĩ già Ba Lưới, hiện sinh sống trên đỉnh núi Cấm.
Giai thoại về cụ Cử Đa
Cử Đa tên thật là Nguyễn Đa, người làng Phù Cát, H.Bình Khê, phủ Quy Nhơn (nay thuộc tỉnh Bình Định). Do thi đỗ võ cử nhân (có thể là năm Thiệu Trị thứ năm – 1845 hoặc thời vua Tự Đức – 1852) nên người đời gọi là ông Cử Đa. Sau khi đỗ đạt, Cử Đa đi khắp nơi để tham gia huấn luyện võ thuật cho nghĩa quân của ông Trần Văn Thành chống Pháp. Dù vậy do lực lượng mỏng, quân khí lại không dồi dào nên nghĩa quân nhanh chóng bị tan vỡ. Ông Trần Văn Thành tử trận còn Cử Đa thì cải trang thành một vị sư lấy tên là Sư Bảy, giả điên khùng, lưu lạc nhiều nơi để tránh sự truy lùng của quân Pháp. Ông phải lánh sang Campot, Campongtrach, đến núi Tà Lơn tức Bokor (Campuchia) để ẩn tu. Tại đây, Cử Đa được gặp minh sư truyền đạo pháp, được đặt cho đạo hiệu là Ngọc Thanh. Về sau, ông thu nhiều tín đồ ở Tà Lơn.
Chiếc đàn tam huyền và bức tượng Phật Cử Đa
Đến năm 1896, ông Cử Đa từ Tà Lơn trở về Thất Sơn. Lúc mới đến Thất Sơn, nhiều người nghe ông nói giọng miền Trung nên gọi là Thầy Huế. Ông đã đem hết võ nghệ ra thi triển nhằm chiêu mộ nhân tài, tiếp tục lập nghĩa quân chống Pháp. Và võ phái mang tên Đường Phong ra đời. Tảng đá lớn có bề mặt khá bằng phẳng ở Vồ Thiên Tuế (núi Cấm) được ông Cử Đa dùng làm sân dạy võ cho đệ tử. Sau khi thấy lực lượng đã khá mạnh, Cử Đa đến núi Tượng tìm gặp Ngô Lợi (Giáo chủ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa) để bàn chuyện xuất binh xuống núi đánh Tây. Dẫu rất thán phục khí phách và lòng trung nghĩa của ông Cử Đa, nhưng biết không phải thời thế thích hợp nên Ngô Lợi không đồng ý.
Mặc dù thất vọng, Cử Đa vẫn tụ tập lực lượng kéo đánh đồn Cây Mít (nay thuộc huyện Tịnh Biên) của Pháp ở mé kênh Vĩnh Tế. Binh lính không kinh nghiệm chiến trường, vũ khí thô sơ nên thất bại. Ông Cử Đa một lần nữa sang núi Tà Lơn để tránh liên can cho đệ tử và người dân vô tội. Tuy vậy, lâu lâu ông cũng trở về Bảy Núi thăm các đệ tử cũ. Dần dà, chẳng còn ai thấy tăm hơi gì về ông. Thỉnh thoảng có người thấy một ông già râu tóc bạc phơ, cưỡi hổ mun vượt cánh rừng nối dài giữa Tà Lơn và Thất Sơn. Người ta bảo đó là cụ Cử Đa, đã tu tiên đắc đạo ở Tà Lơn.
Tuyệt chiêu “Bình phong lạc nhạn”
Sau rất nhiều lần trò chuyện, dẫu biết vị đạo sĩ già cuối cùng trên đỉnh núi Cấm – Ba Lưới thời trai trẻ có võ nghệ siêu quần, nhưng ông nhất quyết không nói rõ theo học môn phái nào. Mãi đến lần này, khi chúng tôi quyết “ở lì” lại núi Cấm nhiều ngày, ông lão mới chịu tiết lộ. “Hồi trước, tôi theo học nhiều thầy lắm. Tôi học bốc thuốc chữa bệnh của thầy Năm Sanh. Còn học võ thì rất nhiều thầy. Nhưng học chánh tông là võ phái Đường Phong. Tôi là đệ tử đời thứ 9 của ông Cử Đa ở ngọn núi này. Hồi đó, sư phụ tu tiên đắc đạo ở núi Tà Lơn rồi mới về núi này dạy võ. Sư phụ Cử Đa thì nổi tiếng lắm, nhưng môn phái Đường Phong ở Thất Sơn này lại ít người biết tới”, vị đạo sĩ 100 tuổi nói.
Theo lời lão đạo sĩ Ba Lưới, sư tổ Cử Đa có tài tay không đánh hổ. Lúc cụ mới đặt chân đến Thất Sơn, vì lạ đường, lạ cảnh nên trong lúc băng rừng đã chạm trán hổ dữ. Thế võ tuyệt chiêu mà cụ Cử Đa dùng để đả hổ là “Bình phong lạc nhạn”. Khi mãnh hổ lao vào tấn công, chỉ một cái nhún chân ông đã phóng lên cao hơn chục thước. Từ trên không trung ông lao mình trở xuống như cánh nhạn lướt gió, tung một cước trúng gáy hạ gục chúa sơn lâm. Về sau, biết tiếng cụ Cử Đa, toàn bộ hổ trong rừng ở Thất Sơn gặp cụ đều nằm mọp xuống đất.
Nói về võ phái Đường Phong, lão đạo sĩ Ba Lưới cho hay có rất nhiều thế võ cực kỳ lợi hại. Thế nhưng, trong số hàng trăm đệ tử của Đường Phong chỉ có một số ít đệ tử được chân truyền từ thầy. Mặc dù lúc ông được nhập môn thì sư tổ Cử Đa đã không còn ở Bảy Núi, nhưng tuyệt kỹ trấn môn vẫn được truyền thụ cho đệ tử đời sau. Và ông là một trong số những người này, học được tuyệt chiêu “Bình phong lạc nhạn”. Tuy nhiên, lão đạo sĩ già cho biết để luyện được chiêu thức này không hề đơn giản. Thuở trước, khi mới nhập môn, hằng ngày ông phải chạy bộ lên xuống núi để tập sức khỏe dẻo dai. Rồi phải đào hố sâu rồi từ dưới nhảy lên bờ. Mỗi ngày, hố càng được đào sâu thêm.
Sau một thời gian luyện tập, khi thành thục, chỉ cần nhún một cái có thể phi thân lên khỏi mặt đất năm bảy thước. Nhờ quyết chí luyện tập, ông Ba Lưới có thể thi triển thuần thục chiêu thức bí truyền này. Hơn nữa, ông còn dùng chính chiêu thức này để hạ mãng xà khổng lồ và thoát chết trong lần chạm trán với hổ trên núi Cấm. “Chiêu này đặc biệt hữu dụng trong đối đầu với hổ. Vì chỉ cần một bước nhảy thì đã có thể đứng được trên ngọn cây cao, tránh hổ dễ dàng. Còn với mãng xà thì phải ra đòn quyết định, một chiêu hạ xác nó luôn, không thì sẽ trở thành món “điểm tâm” của nó”, lão đạo sĩ phân tích.

thất sơn huyền bí

Đạo Sĩ Ba Lưới Và Thế Võ Bình Phong Lạc Nhạn

Tùng Phạm  |  at  19:44

Chuyện diệt cọp và hổ mây khổng lồ của đạo sĩ Ba Lưới với tuyệt chiêu “Bình phong lạc nhạn” của phái Đường Phong đã đi vào sách vở, vào những cẩm nang giới thiệu về vùng Thất Sơn do cơ quan Nhà nước phát hành
Phái võ Đường Phong là võ phái ở Thất Sơn ít người biết đến. Người sáng lập ra võ phái này là cụ Cử Đa. Còn vị đệ tử chân truyền đời thứ 9 của Đường Phong là lão đạo sĩ già Ba Lưới, hiện sinh sống trên đỉnh núi Cấm.
Giai thoại về cụ Cử Đa
Cử Đa tên thật là Nguyễn Đa, người làng Phù Cát, H.Bình Khê, phủ Quy Nhơn (nay thuộc tỉnh Bình Định). Do thi đỗ võ cử nhân (có thể là năm Thiệu Trị thứ năm – 1845 hoặc thời vua Tự Đức – 1852) nên người đời gọi là ông Cử Đa. Sau khi đỗ đạt, Cử Đa đi khắp nơi để tham gia huấn luyện võ thuật cho nghĩa quân của ông Trần Văn Thành chống Pháp. Dù vậy do lực lượng mỏng, quân khí lại không dồi dào nên nghĩa quân nhanh chóng bị tan vỡ. Ông Trần Văn Thành tử trận còn Cử Đa thì cải trang thành một vị sư lấy tên là Sư Bảy, giả điên khùng, lưu lạc nhiều nơi để tránh sự truy lùng của quân Pháp. Ông phải lánh sang Campot, Campongtrach, đến núi Tà Lơn tức Bokor (Campuchia) để ẩn tu. Tại đây, Cử Đa được gặp minh sư truyền đạo pháp, được đặt cho đạo hiệu là Ngọc Thanh. Về sau, ông thu nhiều tín đồ ở Tà Lơn.
Chiếc đàn tam huyền và bức tượng Phật Cử Đa
Đến năm 1896, ông Cử Đa từ Tà Lơn trở về Thất Sơn. Lúc mới đến Thất Sơn, nhiều người nghe ông nói giọng miền Trung nên gọi là Thầy Huế. Ông đã đem hết võ nghệ ra thi triển nhằm chiêu mộ nhân tài, tiếp tục lập nghĩa quân chống Pháp. Và võ phái mang tên Đường Phong ra đời. Tảng đá lớn có bề mặt khá bằng phẳng ở Vồ Thiên Tuế (núi Cấm) được ông Cử Đa dùng làm sân dạy võ cho đệ tử. Sau khi thấy lực lượng đã khá mạnh, Cử Đa đến núi Tượng tìm gặp Ngô Lợi (Giáo chủ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa) để bàn chuyện xuất binh xuống núi đánh Tây. Dẫu rất thán phục khí phách và lòng trung nghĩa của ông Cử Đa, nhưng biết không phải thời thế thích hợp nên Ngô Lợi không đồng ý.
Mặc dù thất vọng, Cử Đa vẫn tụ tập lực lượng kéo đánh đồn Cây Mít (nay thuộc huyện Tịnh Biên) của Pháp ở mé kênh Vĩnh Tế. Binh lính không kinh nghiệm chiến trường, vũ khí thô sơ nên thất bại. Ông Cử Đa một lần nữa sang núi Tà Lơn để tránh liên can cho đệ tử và người dân vô tội. Tuy vậy, lâu lâu ông cũng trở về Bảy Núi thăm các đệ tử cũ. Dần dà, chẳng còn ai thấy tăm hơi gì về ông. Thỉnh thoảng có người thấy một ông già râu tóc bạc phơ, cưỡi hổ mun vượt cánh rừng nối dài giữa Tà Lơn và Thất Sơn. Người ta bảo đó là cụ Cử Đa, đã tu tiên đắc đạo ở Tà Lơn.
Tuyệt chiêu “Bình phong lạc nhạn”
Sau rất nhiều lần trò chuyện, dẫu biết vị đạo sĩ già cuối cùng trên đỉnh núi Cấm – Ba Lưới thời trai trẻ có võ nghệ siêu quần, nhưng ông nhất quyết không nói rõ theo học môn phái nào. Mãi đến lần này, khi chúng tôi quyết “ở lì” lại núi Cấm nhiều ngày, ông lão mới chịu tiết lộ. “Hồi trước, tôi theo học nhiều thầy lắm. Tôi học bốc thuốc chữa bệnh của thầy Năm Sanh. Còn học võ thì rất nhiều thầy. Nhưng học chánh tông là võ phái Đường Phong. Tôi là đệ tử đời thứ 9 của ông Cử Đa ở ngọn núi này. Hồi đó, sư phụ tu tiên đắc đạo ở núi Tà Lơn rồi mới về núi này dạy võ. Sư phụ Cử Đa thì nổi tiếng lắm, nhưng môn phái Đường Phong ở Thất Sơn này lại ít người biết tới”, vị đạo sĩ 100 tuổi nói.
Theo lời lão đạo sĩ Ba Lưới, sư tổ Cử Đa có tài tay không đánh hổ. Lúc cụ mới đặt chân đến Thất Sơn, vì lạ đường, lạ cảnh nên trong lúc băng rừng đã chạm trán hổ dữ. Thế võ tuyệt chiêu mà cụ Cử Đa dùng để đả hổ là “Bình phong lạc nhạn”. Khi mãnh hổ lao vào tấn công, chỉ một cái nhún chân ông đã phóng lên cao hơn chục thước. Từ trên không trung ông lao mình trở xuống như cánh nhạn lướt gió, tung một cước trúng gáy hạ gục chúa sơn lâm. Về sau, biết tiếng cụ Cử Đa, toàn bộ hổ trong rừng ở Thất Sơn gặp cụ đều nằm mọp xuống đất.
Nói về võ phái Đường Phong, lão đạo sĩ Ba Lưới cho hay có rất nhiều thế võ cực kỳ lợi hại. Thế nhưng, trong số hàng trăm đệ tử của Đường Phong chỉ có một số ít đệ tử được chân truyền từ thầy. Mặc dù lúc ông được nhập môn thì sư tổ Cử Đa đã không còn ở Bảy Núi, nhưng tuyệt kỹ trấn môn vẫn được truyền thụ cho đệ tử đời sau. Và ông là một trong số những người này, học được tuyệt chiêu “Bình phong lạc nhạn”. Tuy nhiên, lão đạo sĩ già cho biết để luyện được chiêu thức này không hề đơn giản. Thuở trước, khi mới nhập môn, hằng ngày ông phải chạy bộ lên xuống núi để tập sức khỏe dẻo dai. Rồi phải đào hố sâu rồi từ dưới nhảy lên bờ. Mỗi ngày, hố càng được đào sâu thêm.
Sau một thời gian luyện tập, khi thành thục, chỉ cần nhún một cái có thể phi thân lên khỏi mặt đất năm bảy thước. Nhờ quyết chí luyện tập, ông Ba Lưới có thể thi triển thuần thục chiêu thức bí truyền này. Hơn nữa, ông còn dùng chính chiêu thức này để hạ mãng xà khổng lồ và thoát chết trong lần chạm trán với hổ trên núi Cấm. “Chiêu này đặc biệt hữu dụng trong đối đầu với hổ. Vì chỉ cần một bước nhảy thì đã có thể đứng được trên ngọn cây cao, tránh hổ dễ dàng. Còn với mãng xà thì phải ra đòn quyết định, một chiêu hạ xác nó luôn, không thì sẽ trở thành món “điểm tâm” của nó”, lão đạo sĩ phân tích.

Bài Viết Cùng Chủ Đề

© 2015 Hai Lúa Miền Tây | Design by Tùng Phạm
| Design by Tùng Phạm.