Bài Viết Mới

Hiển thị các bài đăng có nhãn đàn ca tài tử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đàn ca tài tử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Đờn ca tài tử là thể loại nhạc thính phòng đặc thù của miền Nam, cũng như Ca trù của miền Bắc và Ca Huế của miền Trung.
Theo các bậc thầy trong nghề, Đờn ca tài tử hình thành vào cuối thể kỷ 19 đầu thế kỷ 20, xuất phát từ những nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong trào Cần Vương vào Nam đem theo truyền thống Ca Huế. Trên đường đi họ dừng chân ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, từ đó Ca Huế mang thêm chút âm hưởng xứ Quảng.
Vào đến miền Nam, Đờn ca tài tử không còn giữ nguyên chất Ca Huế mà thay đổi rất nhiều để thích nghi theo thị hiếu, thẩm mỹ phù hợp với nếp sống mới. Những con người tháo vát, đầy sáng tạo tuy đã tìm thấy một cuộc sống an lành khi đến với vùng đất màu mỡ, nhưng do lòng luôn thương nhớ cội nguồn nên trong các điệu, các hơi của Đờn ca tài tử thường thích những điệu có phảng phất nỗi u buồn. Trong khi phong cách miền Trung vẫn giữ theo truyền thống một cách chặt chẽ thì ở miền Nam lại phóng khoáng và bay bướm, nét nhạc cũng như tiết tấu thay đổi tùy lúc, tuỳ người.
Có người hiểu lầm rằng chữ “tài tử” có nghĩa là không chuyên nghiệp, mang tính cách giản dị của dân gian và của những người nghiệp dư. Thật ra “tài tử” có nghĩa là người có tài (Dập dìu tài tử giai nhân; Tài tử giai nhân tế ngộ nan). Chữ “tài tử” còn để chỉ việc không dùng nghệ thuật của mình làm kế sinh nhai. Người Đờn ca tài tử khi nào thích thì cùng với bạn đồng điệu họp nhau tại nhà một người trong làng rồi cùng hoà đàn để vui chơi và để cho người mộ điệu thưởng thức. Trước đây cũng như bây giờ, người đàn tài tử “chính thống” hễ vui thì đàn chơi còn không “hứng” thì thôi, khó ai có thể bỏ tiền ra mua được tiếng đàn của họ.
Nhưng không phải vì vậy mà trình độ nghệ thuật của đàn tài tử lại thấp. Muốn trở thành người đàn tài tử đúng nghĩa phải trải qua thời gian tập luyện khá công phu, học từ chữ nhấn, chữ chuyền, rao sao cho mùi, sắp chữ sao cho đẹp và luôn tạo cho mình một phong cách riêng.
Nhạc khí trong Đờn ca tài tử
Nhạc khí chính là đàn kìm (đàn nguyệt) và đàn tranh. Theo truyền thống, ít khi nhạc công độc tấu mà thường song tấu đàn kìm và đàn tranh với tiếng thổ pha tiếng kim, hoặc tam tấu (kìm, tranh, cò). Đôi khi có ống sáo ngang hay ống tiêu thổi dọc. Và đặc biệt là song lang (nghĩa là hai thanh tre già – có người gọi là song loan) để đánh nhịp. Ngoài ra còn có các nhạc khí khác như đờn sến, đờn gáo, đờn độc huyền, đờn tỳ bà nhưng ít thông dụng.
Từ khoảng năm 1930 có thêm những nhạc khí phương Tây như violon, mandoline khoét phím, ghi-ta măng-đô, ghi-ta Hạ-uy-di, ghi-ta Tây Ban Nha được chỉnh lại, thường gọi là ghi-ta phím lõm, để có thể “nói” trung thực, chính xác ngôn ngữ âm nhạc truyền thống Việt Nam.
Khác với Ca trù miền Bắc hay Ca Huế miền Trung mà lời ca quan trọng hơn tiếng đàn, trong Đờn ca tài tử dàn nhạc lại được chú ý hơn tiếng ca. Người nghe chú trọng vào chữ đàn nhấn có gân, cách sắp chữ, sắp câu duyên dáng, cách xuống câu đến xang, hò, xề… ngọt ngào uyển chuyển; cách đàn câu thòng, câu nhồi, câu lợi bay bướm, đa dạng. Nhưng tiếng ca cũng không kém phần quan trọng.
Những nét đặc thù của nghệ thuật Đờn ca tài tử
1. Rao: Trước khi vào bản thuộc hơi nào, nhạc công Đờn ca tài tử luôn có câu rao theo hơi đó, một mặt dẫn thính giả đi lần vào điệu, vào hơi để nghe bản đàn, đồng thời cũng là lúc nghe thử cây đàn có phím nào lệch hay dây đàn cứng quá hoặc mềm quá không, để lúc biểu diễn tiếng nhạc được hoàn chỉnh hơn.
Khác hẳn với những bài “dạo” của miền Trung luôn có nét nhạc cố định, câu “rao” theo truyền thống miền Nam phóng túng hơn nhiều. Mỗi người thầy có một cách rao, lúc đầu người học đàn theo cách của thầy, nhưng khi đạt đến mức nghệ thuật khá cao thì được phép sáng tạo những câu rao của riêng mình.
2. Chữ nhạc: Mỗi chữ nhạc không có cao độ tuyệt đối, chỉ có cao độ tương đối, cũng không có cao độ cố định mà có thể là một chữ đờn ‘non’ hay ‘già’. Nhiều chữ nhạc trong bản đàn được tô điểm bằng cách nhấn nhá, rung, mổ. Bàn tay mặt tạo ra những thanh có cao độ, trường độ, cường độ, màu âm, nhưng đó chỉ mới là cái “xác” của âm nhạc; phải nhờ bàn tay trái rung, nhấn để tạo nên cái “hồn” làm nên giá trị đích thực của nghệ thuật.
3. Những cách tô điểm đặc thù : Thường thì trong các loại nhạc tô điểm là điều không bắt buộc, nhưng trong nhạc tài tử, chính những cách tô điểm đặc thù, nhứt là cách đờn chữ ‘xang’, định rõ được các hơi Bắc, Quảng, Xuân, Ai khác nhau như thế nào.
4. Cấu trúc âm thanh: Đờn ca tài tử có cấu trúc ‘động và mở’ thay vì ‘tịnh mà đóng’ như phương Tây.
5. Phát triển và vận hành giai điệu: Khi hoà đàn, người Đờn ca tài tử không bao giờ lập lại y khuôn lòng bản như thầy đã dạy mà phải dựa theo quan điểm thẩm mỹ học chân phương, đàn hoa lá.
Đặc biệt cách phát triển và vận hành giai điệu trong Đờn ca tài tử tuân theo những nguyên tắc của dịch lý, một triết lý sống trong xã hội người Việt nói riêng và người vùng Đông Á nói chung. Theo đó thì con người và sự vật luôn thay đổi không ngừng, nhưng sự thay đổi đó không làm ta biến dạng vì có những yếu tố bất dịch không thể thay đổi được, nghĩa là có biến dịch mà cũng có bất dịch. Cũng vậy, trong đàn tài tử thì nét nhạc, chữ nhấn, chữ chuyền của mỗi câu trong bài bản có thể thay đổi tuỳ trường phái hay người đàn, nhưng lòng bản không thể thay đổi, do vậy dù cho người đàn có thêm chữ chuyền, có đổi nhịp nội ra nhịp ngoại thì người nghe vẫn nhận ra bản đàn.
Ngoài ra lại còn có giao dịch: khi có sự gặp gỡ của hai yếu tố thì phải thay đổi để không đi đến xung đột. Hoà đàn tài tử cũng vậy: nếu tỳ bà hoà với đàn kìm, vì cả hai có màu âm gần giống nhau nên thường thì đàn kìm chơi nhịp nội trong khi tỳ bà đàn nhịp ngoại để có sự hoà hợp.
6. Bài bản: Theo thường Đờn ca tài tử có 20 bài tổ, tuy không phải người Đờn ca tài tử nào cũng thuộc đầy đủ hay khi hoà đàn cũng không bắt buộc phải chơi hết 20 bài, nhưng các nghệ sĩ đều phải biết tên các bài đó bao gồm: 6 bài Bắc, 3 bài Nam, 4 bài Oán và 7 bài lớn (có khi gọi là 7 bài hơi nhạc hoặc 7 bài cò).
Ngoài ra còn có rất nhiều bài bản khác được dùng, trong đó Vọng cổ 32 nhịp là thông dụng nhứt. Trong một chương trình hoà nhạc Đờn ca tài tử lúc nào cũng có bài Vọng cổ.
Đờn ca tài tử theo đúng truyền thống
Một buổi Đờn ca tài tử thường không theo một chương trình sắp sẵn mà những người đồng điệu gặp nhau, cao hứng muốn đàn bản gì thì tất cả cùng hoà với nhau.
Ngày xưa buổi hoà nhạc bắt đầu bằng những bản đàn, bài ca điệu Bắc, hơi Bắc vui tươi; tiếp theo chuyển sang hơi Quảng, hơi Nhạc, hơi Hạ; rồi qua điệu Nam, hơi Xuân, hơi Ai, qua Đảo ngũ cung. Phần cuối bao giờ cũng chuyển qua hơi Oán, Ai Oán và Vọng cổ là những điệu buồn vẫn được người nghe chuộng hơn những bài vui.
văn hóa

Nghệ Thuật Đờn Ca Tài Tử Trong Không Gian Văn Hoá Nam Bộ

Tùng Phạm  |  at  07:34

Đờn ca tài tử là thể loại nhạc thính phòng đặc thù của miền Nam, cũng như Ca trù của miền Bắc và Ca Huế của miền Trung.
Theo các bậc thầy trong nghề, Đờn ca tài tử hình thành vào cuối thể kỷ 19 đầu thế kỷ 20, xuất phát từ những nhạc sĩ, nhạc quan của triều Nguyễn theo phong trào Cần Vương vào Nam đem theo truyền thống Ca Huế. Trên đường đi họ dừng chân ở Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, từ đó Ca Huế mang thêm chút âm hưởng xứ Quảng.
Vào đến miền Nam, Đờn ca tài tử không còn giữ nguyên chất Ca Huế mà thay đổi rất nhiều để thích nghi theo thị hiếu, thẩm mỹ phù hợp với nếp sống mới. Những con người tháo vát, đầy sáng tạo tuy đã tìm thấy một cuộc sống an lành khi đến với vùng đất màu mỡ, nhưng do lòng luôn thương nhớ cội nguồn nên trong các điệu, các hơi của Đờn ca tài tử thường thích những điệu có phảng phất nỗi u buồn. Trong khi phong cách miền Trung vẫn giữ theo truyền thống một cách chặt chẽ thì ở miền Nam lại phóng khoáng và bay bướm, nét nhạc cũng như tiết tấu thay đổi tùy lúc, tuỳ người.
Có người hiểu lầm rằng chữ “tài tử” có nghĩa là không chuyên nghiệp, mang tính cách giản dị của dân gian và của những người nghiệp dư. Thật ra “tài tử” có nghĩa là người có tài (Dập dìu tài tử giai nhân; Tài tử giai nhân tế ngộ nan). Chữ “tài tử” còn để chỉ việc không dùng nghệ thuật của mình làm kế sinh nhai. Người Đờn ca tài tử khi nào thích thì cùng với bạn đồng điệu họp nhau tại nhà một người trong làng rồi cùng hoà đàn để vui chơi và để cho người mộ điệu thưởng thức. Trước đây cũng như bây giờ, người đàn tài tử “chính thống” hễ vui thì đàn chơi còn không “hứng” thì thôi, khó ai có thể bỏ tiền ra mua được tiếng đàn của họ.
Nhưng không phải vì vậy mà trình độ nghệ thuật của đàn tài tử lại thấp. Muốn trở thành người đàn tài tử đúng nghĩa phải trải qua thời gian tập luyện khá công phu, học từ chữ nhấn, chữ chuyền, rao sao cho mùi, sắp chữ sao cho đẹp và luôn tạo cho mình một phong cách riêng.
Nhạc khí trong Đờn ca tài tử
Nhạc khí chính là đàn kìm (đàn nguyệt) và đàn tranh. Theo truyền thống, ít khi nhạc công độc tấu mà thường song tấu đàn kìm và đàn tranh với tiếng thổ pha tiếng kim, hoặc tam tấu (kìm, tranh, cò). Đôi khi có ống sáo ngang hay ống tiêu thổi dọc. Và đặc biệt là song lang (nghĩa là hai thanh tre già – có người gọi là song loan) để đánh nhịp. Ngoài ra còn có các nhạc khí khác như đờn sến, đờn gáo, đờn độc huyền, đờn tỳ bà nhưng ít thông dụng.
Từ khoảng năm 1930 có thêm những nhạc khí phương Tây như violon, mandoline khoét phím, ghi-ta măng-đô, ghi-ta Hạ-uy-di, ghi-ta Tây Ban Nha được chỉnh lại, thường gọi là ghi-ta phím lõm, để có thể “nói” trung thực, chính xác ngôn ngữ âm nhạc truyền thống Việt Nam.
Khác với Ca trù miền Bắc hay Ca Huế miền Trung mà lời ca quan trọng hơn tiếng đàn, trong Đờn ca tài tử dàn nhạc lại được chú ý hơn tiếng ca. Người nghe chú trọng vào chữ đàn nhấn có gân, cách sắp chữ, sắp câu duyên dáng, cách xuống câu đến xang, hò, xề… ngọt ngào uyển chuyển; cách đàn câu thòng, câu nhồi, câu lợi bay bướm, đa dạng. Nhưng tiếng ca cũng không kém phần quan trọng.
Những nét đặc thù của nghệ thuật Đờn ca tài tử
1. Rao: Trước khi vào bản thuộc hơi nào, nhạc công Đờn ca tài tử luôn có câu rao theo hơi đó, một mặt dẫn thính giả đi lần vào điệu, vào hơi để nghe bản đàn, đồng thời cũng là lúc nghe thử cây đàn có phím nào lệch hay dây đàn cứng quá hoặc mềm quá không, để lúc biểu diễn tiếng nhạc được hoàn chỉnh hơn.
Khác hẳn với những bài “dạo” của miền Trung luôn có nét nhạc cố định, câu “rao” theo truyền thống miền Nam phóng túng hơn nhiều. Mỗi người thầy có một cách rao, lúc đầu người học đàn theo cách của thầy, nhưng khi đạt đến mức nghệ thuật khá cao thì được phép sáng tạo những câu rao của riêng mình.
2. Chữ nhạc: Mỗi chữ nhạc không có cao độ tuyệt đối, chỉ có cao độ tương đối, cũng không có cao độ cố định mà có thể là một chữ đờn ‘non’ hay ‘già’. Nhiều chữ nhạc trong bản đàn được tô điểm bằng cách nhấn nhá, rung, mổ. Bàn tay mặt tạo ra những thanh có cao độ, trường độ, cường độ, màu âm, nhưng đó chỉ mới là cái “xác” của âm nhạc; phải nhờ bàn tay trái rung, nhấn để tạo nên cái “hồn” làm nên giá trị đích thực của nghệ thuật.
3. Những cách tô điểm đặc thù : Thường thì trong các loại nhạc tô điểm là điều không bắt buộc, nhưng trong nhạc tài tử, chính những cách tô điểm đặc thù, nhứt là cách đờn chữ ‘xang’, định rõ được các hơi Bắc, Quảng, Xuân, Ai khác nhau như thế nào.
4. Cấu trúc âm thanh: Đờn ca tài tử có cấu trúc ‘động và mở’ thay vì ‘tịnh mà đóng’ như phương Tây.
5. Phát triển và vận hành giai điệu: Khi hoà đàn, người Đờn ca tài tử không bao giờ lập lại y khuôn lòng bản như thầy đã dạy mà phải dựa theo quan điểm thẩm mỹ học chân phương, đàn hoa lá.
Đặc biệt cách phát triển và vận hành giai điệu trong Đờn ca tài tử tuân theo những nguyên tắc của dịch lý, một triết lý sống trong xã hội người Việt nói riêng và người vùng Đông Á nói chung. Theo đó thì con người và sự vật luôn thay đổi không ngừng, nhưng sự thay đổi đó không làm ta biến dạng vì có những yếu tố bất dịch không thể thay đổi được, nghĩa là có biến dịch mà cũng có bất dịch. Cũng vậy, trong đàn tài tử thì nét nhạc, chữ nhấn, chữ chuyền của mỗi câu trong bài bản có thể thay đổi tuỳ trường phái hay người đàn, nhưng lòng bản không thể thay đổi, do vậy dù cho người đàn có thêm chữ chuyền, có đổi nhịp nội ra nhịp ngoại thì người nghe vẫn nhận ra bản đàn.
Ngoài ra lại còn có giao dịch: khi có sự gặp gỡ của hai yếu tố thì phải thay đổi để không đi đến xung đột. Hoà đàn tài tử cũng vậy: nếu tỳ bà hoà với đàn kìm, vì cả hai có màu âm gần giống nhau nên thường thì đàn kìm chơi nhịp nội trong khi tỳ bà đàn nhịp ngoại để có sự hoà hợp.
6. Bài bản: Theo thường Đờn ca tài tử có 20 bài tổ, tuy không phải người Đờn ca tài tử nào cũng thuộc đầy đủ hay khi hoà đàn cũng không bắt buộc phải chơi hết 20 bài, nhưng các nghệ sĩ đều phải biết tên các bài đó bao gồm: 6 bài Bắc, 3 bài Nam, 4 bài Oán và 7 bài lớn (có khi gọi là 7 bài hơi nhạc hoặc 7 bài cò).
Ngoài ra còn có rất nhiều bài bản khác được dùng, trong đó Vọng cổ 32 nhịp là thông dụng nhứt. Trong một chương trình hoà nhạc Đờn ca tài tử lúc nào cũng có bài Vọng cổ.
Đờn ca tài tử theo đúng truyền thống
Một buổi Đờn ca tài tử thường không theo một chương trình sắp sẵn mà những người đồng điệu gặp nhau, cao hứng muốn đàn bản gì thì tất cả cùng hoà với nhau.
Ngày xưa buổi hoà nhạc bắt đầu bằng những bản đàn, bài ca điệu Bắc, hơi Bắc vui tươi; tiếp theo chuyển sang hơi Quảng, hơi Nhạc, hơi Hạ; rồi qua điệu Nam, hơi Xuân, hơi Ai, qua Đảo ngũ cung. Phần cuối bao giờ cũng chuyển qua hơi Oán, Ai Oán và Vọng cổ là những điệu buồn vẫn được người nghe chuộng hơn những bài vui.

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) – Đại danh cầm Văn Giỏi là một nhạc sĩ nổi danh từ trước năm 1975, là một trong những danh cầm trong làng danh cầm cải lương Nam bộ.Ông có phong cách riêng từ tư chất lẫn nghệ thuật diễn tấu, một “Văn Giỏi” thần tượng của biết bao người mộ điệu và đồng điệu. Thế nhưng, từ lâu ông không được nhìn đời bằng đôi mắt bình thường như bao nhiêu người, mà chỉ cảm nhận bằng thái độ lạc quan trong sáng.
HÀNH TRÌNH VÀO NGHỆ THUẬT…
Nhạc sĩ Văn Giỏi xuất thân từ quê hương của cải lương ,ông sinh năm 1945 tại xã Long Trung, huyện Cai Lậy, Tiền Giang – nơi có truyền thống đờn ca tài tử nổi tiếng. Ông bước vào nghề được bốn người thầy ở quê nhà truyền dạy tương đối đầy đủ và vững chắc, các bài bản ngón đàn… Nghệ nhân Tư Vĩ dạy vọng cổ các dây và một số bài bản cải lương; hai người cậu ruột thứ Ba và thứ Tám dạy Ba nam – Sáu bắc – Bảy bài (Bắc lễ) nhạc tài tử; nghệ nhân Sáu Oanh dạy Bốn oán.
Năm 18 tuổi ông đã rành nghề và tham gia hoạt động văn nghệ ở quê nhà (1961 – 1963). Sau đó ông lên Sài Gòn và tìm đến các bậc danh cầm đương thời như: Văn Vĩ, Năm Cơ, Tư Thiên, Bảy Bá… để dợt nghề và học hỏi kinh nghiệm. Văn Giỏi được nghệ sĩ Chín Sớm giới thiệu vào đờn cho các ban ca kịch: Thành Công, Trâm Hoa miền Nam, Hương Thanh Bình… thỉnh thoảng cộng tác cho hãng băng và đài phát thanh (1964 – 1970). Trong thời gian này, ông cùng góp mặt với các danh cầm cổ nhạc hàng đầu của miền Nam, như : Văn Vĩ, Năm Cơ, Bảy Bá, Tư Thiên, Hai Thơm, Tư Huyện, Ngọc Sáu, Năm Lòng, Chín Trích, Năm Vinh, Trần Xuân Nhã… hòa tấu và độc tấu các loại nhạc cụ trong băng cassette “Nhạc cổ điển Việt Nam” do công ty Continatal sản xuất, đã đóng góp vào kho tàng cổ nhạc Việt Nam. Đến nay những bản nhạc đó vẫn còn nguyên giá trị.
Thời đó, Văn Giỏi là một trong những nhạc sĩ trẻ được mến mộ, liền được hai hãng băng lớn nhất Sài Gòn lúc bấy giờ (Việt Nam và Continantal) mời ký hợp đồng dài hạn. Ông không những đờn chánh guitare phím lõm, mà ông đờn sến cho hàng trăm chương trình vọng cổ và cải lương trong băng cassette và đĩa hát, được phát hành rộng rãi trong và ngoài nước.
TÀI HOA XIN TẶNG CHO ĐỜI…
Sau 1975, Văn Giỏi không theo sân khấu cải lương, anh thỉnh thoảng chỉ đờn chầu cho một số đoàn cải lương, như Thanh Nga, Trần Hữu Trang, Kiên Giang (Trọng Hữu)… Cũng là một kế sinh nhai, ông dạy đờn ca tại nhà và cộng tác (đờn chánh guitar) với Đài Tiếng nói Nhân dân TP Hồ Chí Minh 15 năm (1975 – 1990). Từ khoảng năm 1976 – 1980, đôi mắt của Văn Giỏi có triệu chứng bị cườm, mắt mờ dần, sau đó ông bị khiếm thị cho đến bây giờ. Tạo hóa cướp đi nguồn sáng, Văn Giỏi lại tập trung cho nghệ thuật với ước mong quãng đời còn lại của mình cho có ý nghĩa.
Ngón đờn của ông bấy giờ mượt mà và trẻ trung mới lạ. Lúc bấy giờ, các ngón đờn guitare phím lõm độc đáo đương thời có mỗi nét riêng để chinh phục công chúng. Danh cầm Văn Vĩ nhấn chữ “xang” nghe nức nở như tiếng lòng, mắc mõ trong khuôn nhịp, các láy đờn giòn giã… Danh cầm Năm Cơ, với phong cách đằm thắm, ngón nhấn sâu lắng, chữ “xang” mùi mẫn, các láy đờn ít chữ nhưng nắn nót, vuốt dây một cách duyên dáng… Riêng danh cầm Văn Giỏi đột phá nhiều thủ pháp mới trong diễn tấu. Ông luôn sáng tạo đường nét mới, rất nhiều ngón láy, chữ nhạc mới và mới nhất là lối đờn chặn các dây trên tạo tiếng bass trầm ấm. Lối nhấn chữ “xang” của ông cũng khác các tiền bối của mình, không nức nô như Văn Vĩ, không mùi mẫn sâu lắng như Năm Cơ mà âm điệu tươi tắn, bay bổng tạo thành một phong cách phóng khoáng, lả lướt, trẻ trung. Có lẽ vì thế, lò nhạc tại gia của ông thu hút rất đông môn đệ, ước tính ông có vài trăm học trò ca và cả ngàn học trò đờn, từ Huế cho đến Cà Mau…
Đáng chú ý là nhạc sĩ Văn Giỏi cho ra đời hai thể điệu mới: Phi vân điệp khúc và Đoản khúc lam giang (1976), sáng tác trên nền tảng dòng nhạc cải lương (thang âm ngũ cung), kết hợp âm hưởng của ca nhạc Huế và dân ca Nam bộ. Từ đó đến nay, nhiều tác giả vọng cổ, cải lương thường hay đưa hai thể điều ấy vào tác phẩm của mình. Ông và NSƯT Thanh Hải lại kết hợp khai thác giai điệu Vọng kim lang của làn điệu dân ca Liên khu 5, biến tấu và cải biên lớp dạo đầu (intro) theo một phong cách mới cũng rất được thịnh hành trong cải lương. Ba giai điệu này, có thể được thấy bóng dáng của cả ba khắp trên lĩnh vực cải lương toàn quốc. Một phong cách sáng tạo trẻ trung đầy quyến rũ ấy, nhạc sĩ Văn Giỏi – Thanh Hải là một liên danh trên Đài Tiếng nói Nhân dân TP Hồ Chí Minh một thời gian vang danh, như rồng – phụng một thời “làm mưa làm gió”.
Một thời gian dài nhạc sĩ Văn Giỏi cộng tác cho nhiều xí nghiệp băng từ, hàng trăm chương trình cải lương, các chương trình qui mô của HTV như “Vầng trăng cổ nhạc”, chung kết giải giọng ca hàng tuần, “Bông lúa vàng” của Đài Tiếng nói Nhân dân TP Hồ Chí Minh. Đầu năm 2007, ông rất vui mừng và vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu NSƯT.
ĐỨC ĐỘ CỦA NGƯỜI NGHỆ SĨ
Xưa nay, Văn Giỏi vốn tính tình hiền lành, khiêm tốn, hài hòa với mọi người. Chưa ai thấy ông chê một đồng môn đồng nghiệp nào. Ông thường tìm cái hay của từng người để khen ngợi và động viên. Dù là khiếm thị, nhưng anh đã vượt lên số phận, không chỉ đã cống hiến trọn đời mình cho nghệ thuật âm nhạc dân tộc, để lại cho đời những nét nhạc tài hoa, mà ông còn làm tròn trọng trách với gia đình. Mấy mươi năm qua, ông là người tạo ra nguồn kinh tế chính của gia đình, có thu nhập bằng nghề đờn của mình cao nhất so với các nhạc sĩ khác. Cơ ngơi khá vững chắc, con cái học hành đến nơi đến chốn và đã có việc làm ổn định, cũng chính là hạnh phúc của ông.
Sau khi “Đệ nhất danh cầm” Văn Vĩ qua đời, nhạc sĩ tài hoa Văn Giỏi được trong giới tôn vinh là “Đệ nhất danh cầm giutar phím lõm” kế vị cố danh cầm Văn Vĩ. Ai gọi ông là “Đệ nhất” ông không dám nhận, ông chỉ nhận “nhạc sĩ” là đủ rồi. Vì thế, không những được công chúng mến mộ ngón đờn tài hoa của ông, mà các danh cầm đương thời cũng như những nghệ sĩ tài danh cũng đều mến phục tài nghệ ông.
Không chỉ nhạc cụ guitar phím lõm đã đưa Văn Giỏi lên đỉnh vinh quang mà các nhạc cụ khác loại nào ông cũng đờn hay, ngón đờn đạt đến điêu luyện “bậc thầy” từ kìm, sến, violon đến cò, gáo… Riêng guitar, ngón đờn của ông ngày càng đĩnh đạc hơn, nét nhấn sâu sắc, lắng dịu hơn. Có thể nói, phong cách diễn tấu ở mỗi độ tuổi của người nhạc sĩ cũng biến tấu theo thời gian trầm lắng như những người thầy mà ngày xưa ông đã học được ở quê nhà Cai Lậy.
Bốn người thầy của ông ở Chợ Ba Dừa – Long Trung, bây giờ người còn người mất. Mỗi khi về Cai Lậy, việc đầu tiên của Văn Giỏi là thăm thầy – gia đình thầy với nghĩa cử “nhớ nguồn”. Nhiều năm qua, ở TPHCM ông cùng bạn bè Hội đồng hương Tiền Giang tại TPHCM vận động xin nhiều căn nhà tình nghĩa – tình thương cho Cai Lậy. Hầu hết những lần biểu diễn gây quỹ từ thiện ở quê nhà Văn Giỏi thường có mặt, vận động nhiều môn đệ cùng về tham gia biểu diễn phục vụ vô điều kiện. Ông tâm sự: “Mình khiếm thị, không làm những công việc như nhiều người khác, thì góp phần bằng tinh thần, bằng tiếng nhạc với quê nhà…”.
văn hóa

Đại Danh Cầm Văn Giỏi

Tùng Phạm  |  at  21:32

Nghệ sĩ ưu tú (NSƯT) – Đại danh cầm Văn Giỏi là một nhạc sĩ nổi danh từ trước năm 1975, là một trong những danh cầm trong làng danh cầm cải lương Nam bộ.Ông có phong cách riêng từ tư chất lẫn nghệ thuật diễn tấu, một “Văn Giỏi” thần tượng của biết bao người mộ điệu và đồng điệu. Thế nhưng, từ lâu ông không được nhìn đời bằng đôi mắt bình thường như bao nhiêu người, mà chỉ cảm nhận bằng thái độ lạc quan trong sáng.
HÀNH TRÌNH VÀO NGHỆ THUẬT…
Nhạc sĩ Văn Giỏi xuất thân từ quê hương của cải lương ,ông sinh năm 1945 tại xã Long Trung, huyện Cai Lậy, Tiền Giang – nơi có truyền thống đờn ca tài tử nổi tiếng. Ông bước vào nghề được bốn người thầy ở quê nhà truyền dạy tương đối đầy đủ và vững chắc, các bài bản ngón đàn… Nghệ nhân Tư Vĩ dạy vọng cổ các dây và một số bài bản cải lương; hai người cậu ruột thứ Ba và thứ Tám dạy Ba nam – Sáu bắc – Bảy bài (Bắc lễ) nhạc tài tử; nghệ nhân Sáu Oanh dạy Bốn oán.
Năm 18 tuổi ông đã rành nghề và tham gia hoạt động văn nghệ ở quê nhà (1961 – 1963). Sau đó ông lên Sài Gòn và tìm đến các bậc danh cầm đương thời như: Văn Vĩ, Năm Cơ, Tư Thiên, Bảy Bá… để dợt nghề và học hỏi kinh nghiệm. Văn Giỏi được nghệ sĩ Chín Sớm giới thiệu vào đờn cho các ban ca kịch: Thành Công, Trâm Hoa miền Nam, Hương Thanh Bình… thỉnh thoảng cộng tác cho hãng băng và đài phát thanh (1964 – 1970). Trong thời gian này, ông cùng góp mặt với các danh cầm cổ nhạc hàng đầu của miền Nam, như : Văn Vĩ, Năm Cơ, Bảy Bá, Tư Thiên, Hai Thơm, Tư Huyện, Ngọc Sáu, Năm Lòng, Chín Trích, Năm Vinh, Trần Xuân Nhã… hòa tấu và độc tấu các loại nhạc cụ trong băng cassette “Nhạc cổ điển Việt Nam” do công ty Continatal sản xuất, đã đóng góp vào kho tàng cổ nhạc Việt Nam. Đến nay những bản nhạc đó vẫn còn nguyên giá trị.
Thời đó, Văn Giỏi là một trong những nhạc sĩ trẻ được mến mộ, liền được hai hãng băng lớn nhất Sài Gòn lúc bấy giờ (Việt Nam và Continantal) mời ký hợp đồng dài hạn. Ông không những đờn chánh guitare phím lõm, mà ông đờn sến cho hàng trăm chương trình vọng cổ và cải lương trong băng cassette và đĩa hát, được phát hành rộng rãi trong và ngoài nước.
TÀI HOA XIN TẶNG CHO ĐỜI…
Sau 1975, Văn Giỏi không theo sân khấu cải lương, anh thỉnh thoảng chỉ đờn chầu cho một số đoàn cải lương, như Thanh Nga, Trần Hữu Trang, Kiên Giang (Trọng Hữu)… Cũng là một kế sinh nhai, ông dạy đờn ca tại nhà và cộng tác (đờn chánh guitar) với Đài Tiếng nói Nhân dân TP Hồ Chí Minh 15 năm (1975 – 1990). Từ khoảng năm 1976 – 1980, đôi mắt của Văn Giỏi có triệu chứng bị cườm, mắt mờ dần, sau đó ông bị khiếm thị cho đến bây giờ. Tạo hóa cướp đi nguồn sáng, Văn Giỏi lại tập trung cho nghệ thuật với ước mong quãng đời còn lại của mình cho có ý nghĩa.
Ngón đờn của ông bấy giờ mượt mà và trẻ trung mới lạ. Lúc bấy giờ, các ngón đờn guitare phím lõm độc đáo đương thời có mỗi nét riêng để chinh phục công chúng. Danh cầm Văn Vĩ nhấn chữ “xang” nghe nức nở như tiếng lòng, mắc mõ trong khuôn nhịp, các láy đờn giòn giã… Danh cầm Năm Cơ, với phong cách đằm thắm, ngón nhấn sâu lắng, chữ “xang” mùi mẫn, các láy đờn ít chữ nhưng nắn nót, vuốt dây một cách duyên dáng… Riêng danh cầm Văn Giỏi đột phá nhiều thủ pháp mới trong diễn tấu. Ông luôn sáng tạo đường nét mới, rất nhiều ngón láy, chữ nhạc mới và mới nhất là lối đờn chặn các dây trên tạo tiếng bass trầm ấm. Lối nhấn chữ “xang” của ông cũng khác các tiền bối của mình, không nức nô như Văn Vĩ, không mùi mẫn sâu lắng như Năm Cơ mà âm điệu tươi tắn, bay bổng tạo thành một phong cách phóng khoáng, lả lướt, trẻ trung. Có lẽ vì thế, lò nhạc tại gia của ông thu hút rất đông môn đệ, ước tính ông có vài trăm học trò ca và cả ngàn học trò đờn, từ Huế cho đến Cà Mau…
Đáng chú ý là nhạc sĩ Văn Giỏi cho ra đời hai thể điệu mới: Phi vân điệp khúc và Đoản khúc lam giang (1976), sáng tác trên nền tảng dòng nhạc cải lương (thang âm ngũ cung), kết hợp âm hưởng của ca nhạc Huế và dân ca Nam bộ. Từ đó đến nay, nhiều tác giả vọng cổ, cải lương thường hay đưa hai thể điều ấy vào tác phẩm của mình. Ông và NSƯT Thanh Hải lại kết hợp khai thác giai điệu Vọng kim lang của làn điệu dân ca Liên khu 5, biến tấu và cải biên lớp dạo đầu (intro) theo một phong cách mới cũng rất được thịnh hành trong cải lương. Ba giai điệu này, có thể được thấy bóng dáng của cả ba khắp trên lĩnh vực cải lương toàn quốc. Một phong cách sáng tạo trẻ trung đầy quyến rũ ấy, nhạc sĩ Văn Giỏi – Thanh Hải là một liên danh trên Đài Tiếng nói Nhân dân TP Hồ Chí Minh một thời gian vang danh, như rồng – phụng một thời “làm mưa làm gió”.
Một thời gian dài nhạc sĩ Văn Giỏi cộng tác cho nhiều xí nghiệp băng từ, hàng trăm chương trình cải lương, các chương trình qui mô của HTV như “Vầng trăng cổ nhạc”, chung kết giải giọng ca hàng tuần, “Bông lúa vàng” của Đài Tiếng nói Nhân dân TP Hồ Chí Minh. Đầu năm 2007, ông rất vui mừng và vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu NSƯT.
ĐỨC ĐỘ CỦA NGƯỜI NGHỆ SĨ
Xưa nay, Văn Giỏi vốn tính tình hiền lành, khiêm tốn, hài hòa với mọi người. Chưa ai thấy ông chê một đồng môn đồng nghiệp nào. Ông thường tìm cái hay của từng người để khen ngợi và động viên. Dù là khiếm thị, nhưng anh đã vượt lên số phận, không chỉ đã cống hiến trọn đời mình cho nghệ thuật âm nhạc dân tộc, để lại cho đời những nét nhạc tài hoa, mà ông còn làm tròn trọng trách với gia đình. Mấy mươi năm qua, ông là người tạo ra nguồn kinh tế chính của gia đình, có thu nhập bằng nghề đờn của mình cao nhất so với các nhạc sĩ khác. Cơ ngơi khá vững chắc, con cái học hành đến nơi đến chốn và đã có việc làm ổn định, cũng chính là hạnh phúc của ông.
Sau khi “Đệ nhất danh cầm” Văn Vĩ qua đời, nhạc sĩ tài hoa Văn Giỏi được trong giới tôn vinh là “Đệ nhất danh cầm giutar phím lõm” kế vị cố danh cầm Văn Vĩ. Ai gọi ông là “Đệ nhất” ông không dám nhận, ông chỉ nhận “nhạc sĩ” là đủ rồi. Vì thế, không những được công chúng mến mộ ngón đờn tài hoa của ông, mà các danh cầm đương thời cũng như những nghệ sĩ tài danh cũng đều mến phục tài nghệ ông.
Không chỉ nhạc cụ guitar phím lõm đã đưa Văn Giỏi lên đỉnh vinh quang mà các nhạc cụ khác loại nào ông cũng đờn hay, ngón đờn đạt đến điêu luyện “bậc thầy” từ kìm, sến, violon đến cò, gáo… Riêng guitar, ngón đờn của ông ngày càng đĩnh đạc hơn, nét nhấn sâu sắc, lắng dịu hơn. Có thể nói, phong cách diễn tấu ở mỗi độ tuổi của người nhạc sĩ cũng biến tấu theo thời gian trầm lắng như những người thầy mà ngày xưa ông đã học được ở quê nhà Cai Lậy.
Bốn người thầy của ông ở Chợ Ba Dừa – Long Trung, bây giờ người còn người mất. Mỗi khi về Cai Lậy, việc đầu tiên của Văn Giỏi là thăm thầy – gia đình thầy với nghĩa cử “nhớ nguồn”. Nhiều năm qua, ở TPHCM ông cùng bạn bè Hội đồng hương Tiền Giang tại TPHCM vận động xin nhiều căn nhà tình nghĩa – tình thương cho Cai Lậy. Hầu hết những lần biểu diễn gây quỹ từ thiện ở quê nhà Văn Giỏi thường có mặt, vận động nhiều môn đệ cùng về tham gia biểu diễn phục vụ vô điều kiện. Ông tâm sự: “Mình khiếm thị, không làm những công việc như nhiều người khác, thì góp phần bằng tinh thần, bằng tiếng nhạc với quê nhà…”.

Vào lúc 15 giờ 47 phút ( giờ Việt Nam) ngày 05/12/2013, Phiên họp Uỷ ban liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể lần thứ 8 của UNESCO diễn ra tại thành phố Baku, nước Cộng hoà Azerbaijan đã khẳng định, Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam đã đáp ứng được các tiêu chí và chính thức công nhận Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam vào danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.
Nghệ thuật Đờn ca tài tử đã đáp ứng được các tiêu chí như: Được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giáo dục chính thức và không chính thức tại khắp 21 tỉnh phía Nam; liên tục được tái tạo thông qua trao đổi văn hóa với các dân tộc khác nhau, thể hiện sự hoà hợp và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc…
Việc Đờn ca tài tử Nam Bộ được vinh danh cho thấy thế giới đánh giá cao loại hình âm nhạc này của Việt Nam, đồng thời chứng tỏ sức sống của văn hoá truyền thống Việt Nam trong dòng chảy hội nhập vào văn hoá thế giới.
Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ, là nghệ thuật của đàn và ca, do thanh niên nam nữ nông thôn Nam Bộ hát ca sau những giờ lao động. Đờn ca tài tử xuất hiện hơn 100 năm trước, là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm các loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu (gọi là tứ tuyệt), sau này, có cách tân bằng cách thay thế độc huyền cầm bằng cây guitar phím lõm. Những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm, cùng nhau chia sẻ thú vui tao nhã. Đờn ca tài tử phản ánh tâm tư, tình cảm của người dân miền Nam Việt Nam ở vùng miệt vườn, sông nước với lối sống cần cù, phóng khoáng, cởi mở và can trường..
“Tài tử”, là những cuộc “chơi” đầy phong lưu tao nhã. Người đờn phải có người ca. Đờn càng hay thì tiếng ca càng rung cảm. Khi hai cái điệu tâm hồn ấy càng hòa quyện vào nhau thì người nghe không thể muốn rời.
“Tài tử”, còn là cuộc “chơi” đầy phong cách và ngẫu hứng. Ngày xưa, nghệ sĩ lừng danh trên sân khấu cải lương xuất thân từ tài tử đều là những nghệ sĩ, nhạc sĩ luôn in đậm phong cách riêng của mình từ tiếng đờn, điệu ca và cả cách diễn đã làm say đắm lòng người.
Từ đầu thế kỷ 19, ở Nam bộ chỉ có hai hình thức nghệ thuật chính là tuồng và nhạc lễ. Tuồng là sân khấu diễn tích, phần âm nhạc lấy trống, kèn làm chủ đạo. Nhạc lễ là ban nhạc chuyên phục vụ việc hành lễ, đáp ứng như cầu tâm linh, tín ngưỡng và lấy nhạc cụ dây kéo và bộ gõ làm chủ đạo. Từ thực tiễn nhu cầu cuộc sống, các nghệ sĩ, nghệ nhân tiếp tục sáng tạo ra các giá trị âm nhạc khác và hình thành phong trào đờn cây (tức hòa đờn không có bộ gõ) được nhân dân hưởng ứng nên phát triển nhanh chóng tại các tỉnh Nam bộ.
Đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, nhiều quan viên nhà Nguyễn vào đất phương Nam theo phong trào Cần Vương đã sớm kết hợp âm hưởng nhạc Nam bộ với nhạc Huế để sáng tác ra những bản nhạc tài tử và mở các lớp dạy đờn khắp Nam bộ. Đờn ca tài tử nở rộng từ đó…
văn hóa

Đờn Ca Tài Tử Chính Thức Được Công Nhận Là Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể Nhân Loại

Tùng Phạm  |  at  21:06

Vào lúc 15 giờ 47 phút ( giờ Việt Nam) ngày 05/12/2013, Phiên họp Uỷ ban liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể lần thứ 8 của UNESCO diễn ra tại thành phố Baku, nước Cộng hoà Azerbaijan đã khẳng định, Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam đã đáp ứng được các tiêu chí và chính thức công nhận Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ của Việt Nam vào danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại.
Nghệ thuật Đờn ca tài tử đã đáp ứng được các tiêu chí như: Được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giáo dục chính thức và không chính thức tại khắp 21 tỉnh phía Nam; liên tục được tái tạo thông qua trao đổi văn hóa với các dân tộc khác nhau, thể hiện sự hoà hợp và tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc…
Việc Đờn ca tài tử Nam Bộ được vinh danh cho thấy thế giới đánh giá cao loại hình âm nhạc này của Việt Nam, đồng thời chứng tỏ sức sống của văn hoá truyền thống Việt Nam trong dòng chảy hội nhập vào văn hoá thế giới.
Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian đặc trưng của vùng Nam Bộ, là nghệ thuật của đàn và ca, do thanh niên nam nữ nông thôn Nam Bộ hát ca sau những giờ lao động. Đờn ca tài tử xuất hiện hơn 100 năm trước, là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm các loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu (gọi là tứ tuyệt), sau này, có cách tân bằng cách thay thế độc huyền cầm bằng cây guitar phím lõm. Những người tham gia đờn ca tài tử phần nhiều là bạn bè, chòm xóm, cùng nhau chia sẻ thú vui tao nhã. Đờn ca tài tử phản ánh tâm tư, tình cảm của người dân miền Nam Việt Nam ở vùng miệt vườn, sông nước với lối sống cần cù, phóng khoáng, cởi mở và can trường..
“Tài tử”, là những cuộc “chơi” đầy phong lưu tao nhã. Người đờn phải có người ca. Đờn càng hay thì tiếng ca càng rung cảm. Khi hai cái điệu tâm hồn ấy càng hòa quyện vào nhau thì người nghe không thể muốn rời.
“Tài tử”, còn là cuộc “chơi” đầy phong cách và ngẫu hứng. Ngày xưa, nghệ sĩ lừng danh trên sân khấu cải lương xuất thân từ tài tử đều là những nghệ sĩ, nhạc sĩ luôn in đậm phong cách riêng của mình từ tiếng đờn, điệu ca và cả cách diễn đã làm say đắm lòng người.
Từ đầu thế kỷ 19, ở Nam bộ chỉ có hai hình thức nghệ thuật chính là tuồng và nhạc lễ. Tuồng là sân khấu diễn tích, phần âm nhạc lấy trống, kèn làm chủ đạo. Nhạc lễ là ban nhạc chuyên phục vụ việc hành lễ, đáp ứng như cầu tâm linh, tín ngưỡng và lấy nhạc cụ dây kéo và bộ gõ làm chủ đạo. Từ thực tiễn nhu cầu cuộc sống, các nghệ sĩ, nghệ nhân tiếp tục sáng tạo ra các giá trị âm nhạc khác và hình thành phong trào đờn cây (tức hòa đờn không có bộ gõ) được nhân dân hưởng ứng nên phát triển nhanh chóng tại các tỉnh Nam bộ.
Đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, nhiều quan viên nhà Nguyễn vào đất phương Nam theo phong trào Cần Vương đã sớm kết hợp âm hưởng nhạc Nam bộ với nhạc Huế để sáng tác ra những bản nhạc tài tử và mở các lớp dạy đờn khắp Nam bộ. Đờn ca tài tử nở rộng từ đó…

Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo được sáng tạo dựa trên dòng nhạc lễ, nhã nhạc cung đình Huế và những giai điệu ngọt ngào, sâu lắng của dân ca miền Trung, miền Nam.
Đây là loại hình nghệ thuật kết hợp giữa tiếng đờn, lời ca và điệu diễn, vừa phản ánh tinh hoa văn hóa ngàn năm văn hiến của dân tộc ta, vừa mang những nét đặc sắc của người dân phương Nam cần cù, chân chất, phóng khoáng, nghĩa hiệp, can trường và rất đỗi nhân văn. Giáo sư, nhạc sĩ Trần Quang Hải khẳng định:
“Đờn ca tài tử là nghệ thuật duy nhất không phụ thuộc vào không gian văn hóa, hoặc các không gian trình diễn theo mùa vụ, cứ hứng lên thì chơi, gặp nhau thì chơi và hội hè, ma chay, cưới hỏi cũng đều chơi. Đó là một lối hòa đàn trác tuyệt mà ở đấy tính ngẫu hứng được đặt lên trên hết.
Tính ngẫu hứng ấy, thú vị ở chỗ mỗi lần đánh một bản đàn thì hầu như đó là những cuộc đối thoại bằng âm thanh.
Có lẽ đây là một trong những nghệ thuật ngẫu hứng gần như duy nhất ở nước ta. Chính cách thể hiện tự nhiên, bình dị và hết sức ngẫu hứng tạo thành cốt cách riêng có của loại hình nghệ thuật này. Mất tính ngẫu hứng sẽ làm cho ĐCTT trở nên nhạt nhẽo.
Theo GS.TS Trần Văn Khê, người ta nói chơi Đờn ca tài tử chứ không nói biểu diễn Đờn ca tài tử. Nó là một nghệ thuật tức hứng, chơi không có tính trước, không ai nói trước với ai, khi những người có cùng sở thích ngồi lại với nhau cùng chơi, cùng tức hứng tại chỗ thì họ bắt đầu thả hồn, hòa nhịp vào tiếng đàn, lời ca đầy phấn khích.
Họ không câu nệ trang phục, lễ nghi, có gì dùng nấy. Thế mới là Đờn ca tài tử! Trên thực tế ở vùng sông nước miền Tây đã và đang xuất hiện nhiều nhóm Đờn ca tài tử, câu lạc bộ Đờn ca tài tử… Các nghệ sĩ ăn mặc chỉnh tề, đờn có bài bản chính xác, hát đúng nhịp, đúng hơi.
Chính cái khuôn phép, gò bó ấy đã khiến nghệ sĩ chỉ dám biểu diễn những bài “tủ” mà không dám ngẫu hứng, không dám thả hồn vào từng giai điệu của lời ca, tiếng hát, cho nên Đờn ca tài tử bị lạc điệu, xa dần nguyên gốc và trở nên khách sáo. Nghệ sĩ nhân dân (NSND), soạn giả Viễn Châu phàn nàn:
- Nhiều nghệ sĩ chơi Đờn ca tài tử hiện nay trên khuôn mặt buồn rười rượi, vô hồn, vô cảm! Dường như họ không có cái gốc tự nhiên, mộc mạc, hát cho vui như của Đờn ca tài tử ngày xưa mà đã thành một thứ nghề kiếm sống. Điều này làm cho cái hồn của nghệ thuật Đờn ca tài tử bị đánh mất.
Mà đánh mất cái linh hồn, cái ngẫu hứng, cái bình dị, chân chất trong Đờn ca tài tử là đánh mất giá trị nguyên gốc đích thực, rất đáng lo ngại, bởi khi thiếu những đặc điểm này thì nghệ thuật Đờn ca tài tử khó lòng được truyền bá rộng rãi.
Tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, từ lâu Đờn ca tài tử đã trở nên quen thuộc, nhà nhà đều biết chơi, người người đều biết hát. Nó trở thành món ăn tinh thần hết sức bình dị của bà con miền sông nước.
Vào những đêm trăng sau mùa gặt, trên chiếc chiếu trước sân nhà, bà con vui mừng vụ mùa bội thu đã nhóm lại chơi Đờn ca tài tử thâu đêm suốt sáng.
Điều đó chứng tỏ sức sống mạnh mẽ của loại hình cổ nhạc độc đáo vừa mang tính bình dân, vừa mang tính bác học này. Người dân Nam Bộ không chỉ là chủ thể sáng tạo, biểu diễn, mà còn là đối tượng thưởng thức Đờn ca tài tử.
Tuy nhiên, trên thực tế, khi những câu lạc bộ Đờn ca tài tử chuyên nghiệp ra đời đã kéo theo sự chỉn chu, khuôn sáo vào nghệ thuật Đờn ca tài tử. Điều này vừa có tác dụng tích cực lại vừa tiềm ẩn những tiêu cực. Đờn ca tài tử Ngọc Giàu bộc bạch:
“Đi theo con đường chuyên nghiệp, mỗi nghệ sĩ phải cố gắng tìm hiểu để hoàn thiện bản thân, nắm bắt quy luật âm điệu của ĐCTT. Một bản nhạc có thể chơi hàng nghìn lần mà không lần nào giống lần nào. Sự chuyên nghiệp sẽ nâng tầm hiện đại của Đờn ca tài tử nhưng nhất thiết phải đề cao tính ngẫu hứng, nếu không nó sẽ mất cái cốt cách tự nhiên vốn có”.
Như vậy, tính ngẫu hứng, tự nhiên chính là đặc trưng nguyên gốc làm nên giá trị độc đáo của nghệ thuật Đờn ca tài tử được hầu hết các nhà nghiên cứu, các soạn giả, nghệ sĩ nổi tiếng thừa nhận. Tuy nhiên, trong sự phát triển đa dạng của văn hóa và các loại hình nghệ thuật hiện nay, giá trị nguyên gốc của Đờn ca tài tử đang đứng trước nguy cơ mai một, biến tướng.
Theo QĐND Online
văn hóa

Tính Ngẫu Hứng, Tự Nhiên Của Đờn Ca Tài Tử

Tùng Phạm  |  at  20:52

Đờn ca tài tử là loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo được sáng tạo dựa trên dòng nhạc lễ, nhã nhạc cung đình Huế và những giai điệu ngọt ngào, sâu lắng của dân ca miền Trung, miền Nam.
Đây là loại hình nghệ thuật kết hợp giữa tiếng đờn, lời ca và điệu diễn, vừa phản ánh tinh hoa văn hóa ngàn năm văn hiến của dân tộc ta, vừa mang những nét đặc sắc của người dân phương Nam cần cù, chân chất, phóng khoáng, nghĩa hiệp, can trường và rất đỗi nhân văn. Giáo sư, nhạc sĩ Trần Quang Hải khẳng định:
“Đờn ca tài tử là nghệ thuật duy nhất không phụ thuộc vào không gian văn hóa, hoặc các không gian trình diễn theo mùa vụ, cứ hứng lên thì chơi, gặp nhau thì chơi và hội hè, ma chay, cưới hỏi cũng đều chơi. Đó là một lối hòa đàn trác tuyệt mà ở đấy tính ngẫu hứng được đặt lên trên hết.
Tính ngẫu hứng ấy, thú vị ở chỗ mỗi lần đánh một bản đàn thì hầu như đó là những cuộc đối thoại bằng âm thanh.
Có lẽ đây là một trong những nghệ thuật ngẫu hứng gần như duy nhất ở nước ta. Chính cách thể hiện tự nhiên, bình dị và hết sức ngẫu hứng tạo thành cốt cách riêng có của loại hình nghệ thuật này. Mất tính ngẫu hứng sẽ làm cho ĐCTT trở nên nhạt nhẽo.
Theo GS.TS Trần Văn Khê, người ta nói chơi Đờn ca tài tử chứ không nói biểu diễn Đờn ca tài tử. Nó là một nghệ thuật tức hứng, chơi không có tính trước, không ai nói trước với ai, khi những người có cùng sở thích ngồi lại với nhau cùng chơi, cùng tức hứng tại chỗ thì họ bắt đầu thả hồn, hòa nhịp vào tiếng đàn, lời ca đầy phấn khích.
Họ không câu nệ trang phục, lễ nghi, có gì dùng nấy. Thế mới là Đờn ca tài tử! Trên thực tế ở vùng sông nước miền Tây đã và đang xuất hiện nhiều nhóm Đờn ca tài tử, câu lạc bộ Đờn ca tài tử… Các nghệ sĩ ăn mặc chỉnh tề, đờn có bài bản chính xác, hát đúng nhịp, đúng hơi.
Chính cái khuôn phép, gò bó ấy đã khiến nghệ sĩ chỉ dám biểu diễn những bài “tủ” mà không dám ngẫu hứng, không dám thả hồn vào từng giai điệu của lời ca, tiếng hát, cho nên Đờn ca tài tử bị lạc điệu, xa dần nguyên gốc và trở nên khách sáo. Nghệ sĩ nhân dân (NSND), soạn giả Viễn Châu phàn nàn:
- Nhiều nghệ sĩ chơi Đờn ca tài tử hiện nay trên khuôn mặt buồn rười rượi, vô hồn, vô cảm! Dường như họ không có cái gốc tự nhiên, mộc mạc, hát cho vui như của Đờn ca tài tử ngày xưa mà đã thành một thứ nghề kiếm sống. Điều này làm cho cái hồn của nghệ thuật Đờn ca tài tử bị đánh mất.
Mà đánh mất cái linh hồn, cái ngẫu hứng, cái bình dị, chân chất trong Đờn ca tài tử là đánh mất giá trị nguyên gốc đích thực, rất đáng lo ngại, bởi khi thiếu những đặc điểm này thì nghệ thuật Đờn ca tài tử khó lòng được truyền bá rộng rãi.
Tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, từ lâu Đờn ca tài tử đã trở nên quen thuộc, nhà nhà đều biết chơi, người người đều biết hát. Nó trở thành món ăn tinh thần hết sức bình dị của bà con miền sông nước.
Vào những đêm trăng sau mùa gặt, trên chiếc chiếu trước sân nhà, bà con vui mừng vụ mùa bội thu đã nhóm lại chơi Đờn ca tài tử thâu đêm suốt sáng.
Điều đó chứng tỏ sức sống mạnh mẽ của loại hình cổ nhạc độc đáo vừa mang tính bình dân, vừa mang tính bác học này. Người dân Nam Bộ không chỉ là chủ thể sáng tạo, biểu diễn, mà còn là đối tượng thưởng thức Đờn ca tài tử.
Tuy nhiên, trên thực tế, khi những câu lạc bộ Đờn ca tài tử chuyên nghiệp ra đời đã kéo theo sự chỉn chu, khuôn sáo vào nghệ thuật Đờn ca tài tử. Điều này vừa có tác dụng tích cực lại vừa tiềm ẩn những tiêu cực. Đờn ca tài tử Ngọc Giàu bộc bạch:
“Đi theo con đường chuyên nghiệp, mỗi nghệ sĩ phải cố gắng tìm hiểu để hoàn thiện bản thân, nắm bắt quy luật âm điệu của ĐCTT. Một bản nhạc có thể chơi hàng nghìn lần mà không lần nào giống lần nào. Sự chuyên nghiệp sẽ nâng tầm hiện đại của Đờn ca tài tử nhưng nhất thiết phải đề cao tính ngẫu hứng, nếu không nó sẽ mất cái cốt cách tự nhiên vốn có”.
Như vậy, tính ngẫu hứng, tự nhiên chính là đặc trưng nguyên gốc làm nên giá trị độc đáo của nghệ thuật Đờn ca tài tử được hầu hết các nhà nghiên cứu, các soạn giả, nghệ sĩ nổi tiếng thừa nhận. Tuy nhiên, trong sự phát triển đa dạng của văn hóa và các loại hình nghệ thuật hiện nay, giá trị nguyên gốc của Đờn ca tài tử đang đứng trước nguy cơ mai một, biến tướng.
Theo QĐND Online

Ngày nay trong tất cả các ban nhạc tài tử cải lương, đàn guitar phím lõm phím lõm đóng một vai trò quan trọng và là nhạc cụ không thể thiếu của ban nhạc. Chúng ta không phủ nhận vai trò của các nhạc cụ khác như: tranh, nguyệt, nhị… nhưng có thể nói rằng guitar phím lõm là linh hồn của ban nhạc tài tử cải lương.
Guitar phím lõm còn có các tên gọi khác như: guitar vọng cổ, guitar cải lương, lục huyền cầm. Đó là loại nhạc cụ độc đáo của Việt Nam được biến cải dựa trên cây đàn guitar của phương Tây trong quá trình phát triển của loại hình âm nhạc tài tử và cải lương ở Nam bộ.
Để có được cây đàn guitar phím lõm như hôm nay, đó là cả một quá trình thử nghiệm, chọn lọc với nhiều nhạc cụ phương Tây khác nhau và chính ngay cây guitar phím lõm tự nó cũng đã là một quá trình điều chỉnh, cải biến để phù hợp với loại hình âm nhạc đòi hỏi những khả năng biểu hiện tình cảm, kỹ thuật đa dạng và phong phú. Đầu thập niên 30 của thế kỷ trước, guitar xuất hiện trong nhạc tài tử cải lương rồi chìm vào quên lãng, mãi đến những năm cuối thập niên 30, khi nó được các tay đờn lão luyện của âm nhạc tài tử cải lương khoét lõm phím và thổi vào nó những “chữ đờn” mê hoặc lòng người, giới tài tử cải lương mới công nhận rằng nó là nhạc cụ không thể thiếu trong các ban nhạc của mình và guitar phím lõm được sủng ái từ đó…
Câu hỏi “Tại sao phải đi thử nghiệm các loại nhạc cụ Tây phương để bổ sung cho dàn nhạc tài tử?” vẫn còn một lời giải đáp ẩn. Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào trả lời câu hỏi đó. Các nhạc cụ dân tộc của chúng ta không chuyển tải hết nội dung của âm nhạc tài tử cải lương buộc các nghệ nhân phải tìm những nhạc cụ khác để bổ khuyết hay đó chỉ là một sự thử nghiệm với tính chất hiếu kỳ? Mặc dù ngày nay, guitar phím lõm không còn xa lạ gì với người dân Việt Nam, nhất là đối với khán thính giả cải lương. Song hiểu thấu đáo cội nguồn của cây đàn này không phải là điều đơn giản. Cho đến nay còn rất ít sách vở nói về lai lịch của nó.
Trong một số sách chuyên khảo về nhạc cải lương như: Tìm hiểu âm nhạc cải lương (Đắc Nhẫn), Sân khấu cải lương (Gs. Hoàng Như Mai) không thấy đề cập nhiều đến cây đàn ghi-ta phím lõm. Trong Nhạc khí dân tộc Việt (Võ Thanh Tùng), phần nhạc khí guitar phím lõm chỉ đi vào khía cạnh tính năng nhạc cụ… Chỉ có tài liệu duy nhất tương đối đầy đủ (tuy chưa có điều kiện phổ biến rộng rãi) đó là công trình nghiên cứu dày hơn 100 trang của nhạc sĩ Kiều Tấn với tựa đề “Tìm hiểu cây đàn ghi-ta phím lõm trong âm nhạc tài tử và cải lương” (luận văn tốt nghiệp đại học khoa Lý luận âm nhạc – Nhạc viện Tp.HCM 1991-1992). Những điều trình bày dưới đây chủ yếu dựa trên tư liệu nghiên cứu của nhạc sĩ Kiều Tấn để viết lại cho phù hợp với tính chất của một chủ đề.
-Violoncello, violin và piano thử chơi nhạc tài tử cải lương
Năm 1927, tại Sài Gòn có ông Jean Tịnh rồi ông Sáu Hiệu thử dùng violoncello để chơi một số bài bản tài tử cải lương nhưng không thành công do âm vực đàn quá trầm.
Sau đó ông Jean Tịnh tiếp tục thử nghiệm với cây đàn violin, có khi có sự phụ họa piano của một người bạn Pháp. Cùng thời điểm này, ở Sóc Trăng có các ông Sáu Tài, Bảy Cảnh cũng dùng violin để chơi nhạc tài tử. Âm thanh violin mềm mại, truyền cảm, gần với giọng hát, có thể chơi được các bài bản hơi Nam và hơi Bắc. Vì vậy một số nghệ nhân đàn cò nổi tiếng thời bấy giờ đã dùng violin để chơi nhạc tài tử cải lương. Sự thành công bước đầu đó thúc giục giới nhạc công nhạc tài tử cải lương tiếp tục những thể nghiệm với những nhạc cụ khác của phương Tây.
Mandolin vào cuộc – “dây xề bóp” và “dây xề buông”ra đời
Vào khoảng năm 1930 ở Rạch Giá có các ông Giáo Tiên, Bảy Thông, Ba Lạc, Năm Lắm… rất nổi tiếng trong việc dùng mandolin để chơi nhạc tài tử, cải lương. Song đứng về góc độ của một nhạc công, họ cũng chưa hài lòng lắm vì mandolin âm thanh sáng, trong trẻo nhưng với hệ thống phím điều hòa, nó chỉ đàn được những bản hơi Bắc, còn các bản hơi Nam thì không xử lý được và nhất là thiếu sự trầm ấm gần gũi với giọng hát. Cũng chính vì nhược điểm này mà một số người chuyển qua dùng guitar. Tuy nhiên, có lẽ do người thử nghiệm đàn guitar không phải là những tay đờn cự phách và guitar vẫn chưa được khoét phím lõm nên không lưu lại ấn tượng gì trong giới nhạc tài tử cải lương, để rồi guitar chìm vào trong quên lãng.
Để chơi được các bản hơi Nam, các nhạc công đã liên tưởng đến cây đàn nguyệt với những phím sâu dùng để nhấn ngón, thế là người ta khoét lõm phím đàn của mandolin, và mandolin phím lõm ra đời.
Vào khoảng năm 1934-1935 các ông Hai Nén và Hai Nhành là những người đầu tiên sử dụng mandolin phím lõm.
Mandolin phím lõm mắc dây đơn (thay cho dây đôi) và dùng hệ thống dây: Sol, Do, Sol, Ré thay cho hệ thống dây: Sol, Ré, La, Mi. Trong giới nhạc lúc bấy giờ gọi là “dây xề bóp” (vì phải bấm nốt Xề trên dây Xàng – “bấm” gọi nôm na là “bóp”).
Không lâu sau, người ta thấy rằng, nốt Xề với nốt bấm không hiệu quả bằng nốt Xề dùng trên dây buông. Vì vậy, người ta lên dây Xàng (nốt Do) cao hơn 1 cung để thành dây Xề (nốt Ré). Hệ thống dây bây giờ đổi lại là : Sol, Ré, Sol, Ré. Hệ thống dây này được gọi là “dây xề buông”.
Guitar phím lõm – ông hoàng của dàn nhạc tài tử cải lương xuất hiện
Mandolin phím lõm ra đời, tuy đã giải quyết được vấn đề trình tấu những bài bản thuộc hơi Nam, nhưng kỹ thuật diễn tấu đã gây nhiều khó khăn cho nhạc công. Đầu tiên, độ căng cứng của dây đàn mandolin làm cho nhạc công quá đau tay với những ngón nhấn, phím đàn quá hẹp khó nhấn sâu, không phù hợp cho việc đệm bài Dạ cổ hoài lang giọng nam ca. Trong lúc này, bài Dạ cổ hoài lang đã chuyển qua nhịp 8 và là bài bản chủ đạo đang tung hoành trên các sân khấu cải lương. Thêm vào đó, âm vực không trầm ấm, không mềm mại khó tạo được sự “mùi mẫn”. Mandolin phím lõm chưa đáp ứng được hết những đòi hỏi của nhạc tài tử cải lương.
Trong lúc mandolin phím lõm chưa chinh phục được giới nhạc tài tử cải lương và chưa kịp đặt cho mình một cái tên thì năm 1937 đàn guitar “tái xuất giang hồ”. Nhưng lần này, guitar mang diện mạo khác, đó là các phím đàn được khoét lõm như mandolin phím lõm. Người thực hiện khoét lõm cây đàn guitar và thay những dây nylon bằng dây kim loại có thể là ông Trần Bửu Lương (Mười Út) – một nghệ nhân đồng thời là một thợ làm đàn guitar ở Sài Gòn.
Ông Chín Hòa được xem là người đầu tiên sử dụng guitar phím lõm để đàn vọng cổ với đĩa hát Asia thu bài Dạ cổ hoài lang nhịp 8 Nặng gánh nợ đời do nghệ sĩ Năm Nghĩa ca. Và cũng từ đó, mandolin phím lõm nhường bước trước sự phát triển và không ngừng hoàn thiện của guitar phím lõm.
Đầu tiên đàn guitar phím lõm ra đời được mang tên là “lục huyền cầm” tuy nó chỉ có 4 dây. Cho đến ngày nay, nó được sử dụng phổ biến với hệ thống gồm 5 dây, đó là cả một quá trình cải biến, điều chỉnh với sự đóng góp của nhiều nghệ nhân danh tiếng trong làng nhạc tài tử cải lương.
Những bước phát triển để hoàn thiện của guitar phím lõm
Dây Sài Gòn
Ông Chín Hòa là người đầu tiên đờn bài vọng cổ bằng guitar phím lõm để thu âm, nhưng tiếng đờn của ông chưa được mượt mà, êm ái, vì ông là người chơi đàn nguyệt. Để mọi người thật sự thích thú, say mê tiếng guitar phím lõm phải kể đến công lao và tài nghệ của hai ông Ba Kéo và Armand Thiều ở Sài Gòn. Hai ông đã tạo nên một phong cách chơi đàn được giới tài tử cải lương Nam bộ tôn trọng như một “trường phái” của Sài Gòn. Cũng từ đó, tuy hệ thống dây các ông đang dùng là hệ thống “dây xề buông” nhưng được mọi người hâm mộ và gọi là “dây Sài Gòn”.
Dây Rạch Giá
Khoảng năm 1938, xuất hiện một lối đánh vọng cổ nghe khác hẳn “dây Sài Gòn”, đầu tiên được ông Trần Bửu Lương (Mười Út) chơi và sau đó là các ông Mười Còn, Bảy Hàm… Hệ thống dây này là hệ thống dây đàn mà ông Giáo Tiên ở Rạch Giá đã thử nghiệm trên đàn mandolin vào khoảng năm 1930 như đã nói trên, nên người ta gọi là “dây Rạch Giá”. Người đầu tiên sáng tạo ra các chữ đàn vọng cổ trên “dây Rạch Giá” cho guitar phím lõm là ông Mười Út.
-Đàn octavina
“Dây Sài Gòn” và “dây Rạch Giá” chỉ thuận tiện cho thế bấm ngón tay khi bậc hò là Sol (giọng nam), còn khi bậc hò là Ré (giọng nữ) thì bị tréo ngón tay. Để đàn với bậc hò là Sol mà không có cảm giác phải ca “lòn” đối với giọng nữ, người ta nghĩ đến việc thu nhỏ kích thước cây guitar phím lõm lại. Vì vậy, khoảng năm 1938-1939 một kiểu đàn mới ra đời, cây đàn này nhỏ hơn guitar nhưng lớn hơn mandolin và người ta đặt cho nó tên gọi là “ghi-ta măng-đô”. Điều đáng chú ý là cây đàn này có có bàn phím dày và độ lõm cũng được khoét sâu hơn. Âm sắc lạ và cả nam lẫn nữ đều ca chung trên một bậc hò nên được nhiều người ưa thích. Theo ông Giáo Thinh, sở dĩ cây đàn này sau được gọi là octavina, có lẽ do viết tắt từ 2 chữ: octave (quãng 8 ) và Việt Nam mà ra.
-Dây Tháp Mười (dây hò đậy)
Ở thời điểm này, dây đàn guitar phím lõm cũng như octavina dùng dây số 1 và 2 có tiết diện tương đối lớn nên độ căng của dây khá cứng, gây khó khăn trong diễn tấu. Để khắc phục tình trạng này, khoảng năm 1941-1942, các nghệ nhân vùng Tháp Mười đã hạ thấp cao độ dây xuống (thường là quãng 4 đúng) để dây chùng, bấm nhẹ tay hơn. Vì dây chùng thấp xuống nên khi đờn, các bậc hò phải tăng cao lên, bậc hò là Sol trước đây đờn ở ngăn thứ 5 thì bây giờ phải đờn ở ngăn thứ 10. Do đó, các bậc hò không rơi vào dây buông mà rơi vào ngón bấm, người ta gọi hệ thống dây này là “dây hò đậy” (“đậy” có nghĩa che lại, chỉ các ngón bấm). “Dây Tháp Mười” có ưu điểm là dây mềm, dễ nhấn nhá nhưng thế tay phải bấm liên tục, trên thực tế ít người sử dụng và không phổ biến lắm.
-Dây tứ nguyệt
Các dây “Sài Gòn”, “Rạch Giá” không đáp ứng được bậc hò cho giọng nữ, đàn octavina cũng chỉ là một biện pháp tình thế mang tính chất thay đổi âm sắc, dây “Tháp Mười” chỉ là vấn đề kỹ thuật. Bản chất việc giải quyết bậc hò cho giọng nữ cho đến thời điểm này vẫn chưa được giải quyết. Vào khoảng năm 1942-1943, hệ thống dây dành cho giọng nữ ca được ra đời gọi là “dây tứ nguyệt”.
Giải thích về chữ “tứ nguyệt” có người cho rằng đó là một cách gọi văn hoa như kiểu “dây tố lan” trong đàn nguyệt, song cũng có người giải thích rằng: “tứ” là bốn (4 dây), “nguyệt” là đàn nguyệt (mắc dây theo cách mắc dây đàn nguyệt). Một thời gian ngắn sau đó người ta thêm vào “dây tứ nguyệt” một dây số 5 nữa, đó là dây Ré như sự mở rộng bồi thêm một quãng 8 dưới của dây số 3 (Ré). Với tầm âm phù hợp với giọng hát, “dây tứ nguyệt” đàn bài vọng cổ nghe ngọt ngào, mùi mẫn, và nó có thể đàn được tất cả các bài bản tài tử cải lương một cách thoải mái. Thế là guitar phím lõm giành lại vị trí quan trọng trong dàn nhạc mà một thời gian ngắn vừa qua rơi vào octavina. Giai đoạn này nổi lên nhiều danh cầm guitar phím lõm như: Sáu Lời, Ba Lích, Tư Long, Văn Vĩ…
-Dây lai – thử nghiệm có giá trị cao cho tới ngày nay
“Dây tứ nguyệt” tuy có nhiều ưu điểm hơn so với tất cả các thử nghiệm, song khi đàn bậc hò Sol cho nam ca thì thế tay vẫn chưa thuận tiện. Vào khoảng năm 1948-1949, để đáp ứng sự đa dạng trong ca diễn của sân khấu cải lương với nhiều loại bài bản và nhiều bậc hò khác nhau, các nghệ sĩ cải lương đã cải tiến “dây tứ nguyệt” thành một loại dây mới gọi là “dây lai”, sự thay đổi của “dây lai” từ “dây tứ nguyệt” đó là dây số 4 – dây Xề (nốt La) được hạ xuống thành Xàng (nốt Sol). “Dây lai” có cấu tạo:
“Dây lai” là sự kế thừa các loại dây Sài Gòn, Rạch Giá, Xề bóp và Tứ nguyệt như sau:
– Bốn dây số 5, 3, 2, 1: lai “dây tứ nguyệt”
– Ba dây số: 4, 3, 2: lai “dây Rạch Giá”
– Ba dây số: 4, 3, 1: lai “dây Sài Gòn”
– Hai dây số: 4, 1: lai “dây xề bóp”
“Dây lai” có thể xem như hệ thống dây tương đối hoàn chỉnh, nó có khả năng chơi tất cả các bài bản cổ cũng như các bài bản mới, đặc biệt trong sân khấu cải lương, nó có thể đánh hợp âm đệm cho các sáng tác mới như guitar. Sau hệ thống “dây lai”, tuy có nhiều thử nghiệm như “dây Ngân giang”, “dây Bảo Chánh”, “dây bán Ngân giang”, hoặc một số thử nghiệm mắc hệ thống 6 dây, 8 dây – tuy nhiên cho đến nay, đã hơn nửa thế kỷ qua, chưa có một thử nghiệm nào chứng minh là ưu việt hơn “dây lai”. Thời gian dài này cũng là thời gian đã xuất hiện nhiều tay đờn trứ danh của nhạc tài từ cải lương như: Năm Cơ, Bảy Bá, Văn Vĩ, Tư A, Văn Còn, Hai Thơm… Trong đó, nghệ sĩ Văn Vĩ được xem như là “đệ nhất danh cầm guitar phím lõm miền Nam” và các nghệ sĩ Văn Vĩ, Năm Cơ, Bảy Bá được xem là “tam hùng”.

văn vĩ

Guitar Phím Lõm Trong Âm Nhạc Tài Tử Cải Lương

Tùng Phạm  |  at  20:43

Ngày nay trong tất cả các ban nhạc tài tử cải lương, đàn guitar phím lõm phím lõm đóng một vai trò quan trọng và là nhạc cụ không thể thiếu của ban nhạc. Chúng ta không phủ nhận vai trò của các nhạc cụ khác như: tranh, nguyệt, nhị… nhưng có thể nói rằng guitar phím lõm là linh hồn của ban nhạc tài tử cải lương.
Guitar phím lõm còn có các tên gọi khác như: guitar vọng cổ, guitar cải lương, lục huyền cầm. Đó là loại nhạc cụ độc đáo của Việt Nam được biến cải dựa trên cây đàn guitar của phương Tây trong quá trình phát triển của loại hình âm nhạc tài tử và cải lương ở Nam bộ.
Để có được cây đàn guitar phím lõm như hôm nay, đó là cả một quá trình thử nghiệm, chọn lọc với nhiều nhạc cụ phương Tây khác nhau và chính ngay cây guitar phím lõm tự nó cũng đã là một quá trình điều chỉnh, cải biến để phù hợp với loại hình âm nhạc đòi hỏi những khả năng biểu hiện tình cảm, kỹ thuật đa dạng và phong phú. Đầu thập niên 30 của thế kỷ trước, guitar xuất hiện trong nhạc tài tử cải lương rồi chìm vào quên lãng, mãi đến những năm cuối thập niên 30, khi nó được các tay đờn lão luyện của âm nhạc tài tử cải lương khoét lõm phím và thổi vào nó những “chữ đờn” mê hoặc lòng người, giới tài tử cải lương mới công nhận rằng nó là nhạc cụ không thể thiếu trong các ban nhạc của mình và guitar phím lõm được sủng ái từ đó…
Câu hỏi “Tại sao phải đi thử nghiệm các loại nhạc cụ Tây phương để bổ sung cho dàn nhạc tài tử?” vẫn còn một lời giải đáp ẩn. Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào trả lời câu hỏi đó. Các nhạc cụ dân tộc của chúng ta không chuyển tải hết nội dung của âm nhạc tài tử cải lương buộc các nghệ nhân phải tìm những nhạc cụ khác để bổ khuyết hay đó chỉ là một sự thử nghiệm với tính chất hiếu kỳ? Mặc dù ngày nay, guitar phím lõm không còn xa lạ gì với người dân Việt Nam, nhất là đối với khán thính giả cải lương. Song hiểu thấu đáo cội nguồn của cây đàn này không phải là điều đơn giản. Cho đến nay còn rất ít sách vở nói về lai lịch của nó.
Trong một số sách chuyên khảo về nhạc cải lương như: Tìm hiểu âm nhạc cải lương (Đắc Nhẫn), Sân khấu cải lương (Gs. Hoàng Như Mai) không thấy đề cập nhiều đến cây đàn ghi-ta phím lõm. Trong Nhạc khí dân tộc Việt (Võ Thanh Tùng), phần nhạc khí guitar phím lõm chỉ đi vào khía cạnh tính năng nhạc cụ… Chỉ có tài liệu duy nhất tương đối đầy đủ (tuy chưa có điều kiện phổ biến rộng rãi) đó là công trình nghiên cứu dày hơn 100 trang của nhạc sĩ Kiều Tấn với tựa đề “Tìm hiểu cây đàn ghi-ta phím lõm trong âm nhạc tài tử và cải lương” (luận văn tốt nghiệp đại học khoa Lý luận âm nhạc – Nhạc viện Tp.HCM 1991-1992). Những điều trình bày dưới đây chủ yếu dựa trên tư liệu nghiên cứu của nhạc sĩ Kiều Tấn để viết lại cho phù hợp với tính chất của một chủ đề.
-Violoncello, violin và piano thử chơi nhạc tài tử cải lương
Năm 1927, tại Sài Gòn có ông Jean Tịnh rồi ông Sáu Hiệu thử dùng violoncello để chơi một số bài bản tài tử cải lương nhưng không thành công do âm vực đàn quá trầm.
Sau đó ông Jean Tịnh tiếp tục thử nghiệm với cây đàn violin, có khi có sự phụ họa piano của một người bạn Pháp. Cùng thời điểm này, ở Sóc Trăng có các ông Sáu Tài, Bảy Cảnh cũng dùng violin để chơi nhạc tài tử. Âm thanh violin mềm mại, truyền cảm, gần với giọng hát, có thể chơi được các bài bản hơi Nam và hơi Bắc. Vì vậy một số nghệ nhân đàn cò nổi tiếng thời bấy giờ đã dùng violin để chơi nhạc tài tử cải lương. Sự thành công bước đầu đó thúc giục giới nhạc công nhạc tài tử cải lương tiếp tục những thể nghiệm với những nhạc cụ khác của phương Tây.
Mandolin vào cuộc – “dây xề bóp” và “dây xề buông”ra đời
Vào khoảng năm 1930 ở Rạch Giá có các ông Giáo Tiên, Bảy Thông, Ba Lạc, Năm Lắm… rất nổi tiếng trong việc dùng mandolin để chơi nhạc tài tử, cải lương. Song đứng về góc độ của một nhạc công, họ cũng chưa hài lòng lắm vì mandolin âm thanh sáng, trong trẻo nhưng với hệ thống phím điều hòa, nó chỉ đàn được những bản hơi Bắc, còn các bản hơi Nam thì không xử lý được và nhất là thiếu sự trầm ấm gần gũi với giọng hát. Cũng chính vì nhược điểm này mà một số người chuyển qua dùng guitar. Tuy nhiên, có lẽ do người thử nghiệm đàn guitar không phải là những tay đờn cự phách và guitar vẫn chưa được khoét phím lõm nên không lưu lại ấn tượng gì trong giới nhạc tài tử cải lương, để rồi guitar chìm vào trong quên lãng.
Để chơi được các bản hơi Nam, các nhạc công đã liên tưởng đến cây đàn nguyệt với những phím sâu dùng để nhấn ngón, thế là người ta khoét lõm phím đàn của mandolin, và mandolin phím lõm ra đời.
Vào khoảng năm 1934-1935 các ông Hai Nén và Hai Nhành là những người đầu tiên sử dụng mandolin phím lõm.
Mandolin phím lõm mắc dây đơn (thay cho dây đôi) và dùng hệ thống dây: Sol, Do, Sol, Ré thay cho hệ thống dây: Sol, Ré, La, Mi. Trong giới nhạc lúc bấy giờ gọi là “dây xề bóp” (vì phải bấm nốt Xề trên dây Xàng – “bấm” gọi nôm na là “bóp”).
Không lâu sau, người ta thấy rằng, nốt Xề với nốt bấm không hiệu quả bằng nốt Xề dùng trên dây buông. Vì vậy, người ta lên dây Xàng (nốt Do) cao hơn 1 cung để thành dây Xề (nốt Ré). Hệ thống dây bây giờ đổi lại là : Sol, Ré, Sol, Ré. Hệ thống dây này được gọi là “dây xề buông”.
Guitar phím lõm – ông hoàng của dàn nhạc tài tử cải lương xuất hiện
Mandolin phím lõm ra đời, tuy đã giải quyết được vấn đề trình tấu những bài bản thuộc hơi Nam, nhưng kỹ thuật diễn tấu đã gây nhiều khó khăn cho nhạc công. Đầu tiên, độ căng cứng của dây đàn mandolin làm cho nhạc công quá đau tay với những ngón nhấn, phím đàn quá hẹp khó nhấn sâu, không phù hợp cho việc đệm bài Dạ cổ hoài lang giọng nam ca. Trong lúc này, bài Dạ cổ hoài lang đã chuyển qua nhịp 8 và là bài bản chủ đạo đang tung hoành trên các sân khấu cải lương. Thêm vào đó, âm vực không trầm ấm, không mềm mại khó tạo được sự “mùi mẫn”. Mandolin phím lõm chưa đáp ứng được hết những đòi hỏi của nhạc tài tử cải lương.
Trong lúc mandolin phím lõm chưa chinh phục được giới nhạc tài tử cải lương và chưa kịp đặt cho mình một cái tên thì năm 1937 đàn guitar “tái xuất giang hồ”. Nhưng lần này, guitar mang diện mạo khác, đó là các phím đàn được khoét lõm như mandolin phím lõm. Người thực hiện khoét lõm cây đàn guitar và thay những dây nylon bằng dây kim loại có thể là ông Trần Bửu Lương (Mười Út) – một nghệ nhân đồng thời là một thợ làm đàn guitar ở Sài Gòn.
Ông Chín Hòa được xem là người đầu tiên sử dụng guitar phím lõm để đàn vọng cổ với đĩa hát Asia thu bài Dạ cổ hoài lang nhịp 8 Nặng gánh nợ đời do nghệ sĩ Năm Nghĩa ca. Và cũng từ đó, mandolin phím lõm nhường bước trước sự phát triển và không ngừng hoàn thiện của guitar phím lõm.
Đầu tiên đàn guitar phím lõm ra đời được mang tên là “lục huyền cầm” tuy nó chỉ có 4 dây. Cho đến ngày nay, nó được sử dụng phổ biến với hệ thống gồm 5 dây, đó là cả một quá trình cải biến, điều chỉnh với sự đóng góp của nhiều nghệ nhân danh tiếng trong làng nhạc tài tử cải lương.
Những bước phát triển để hoàn thiện của guitar phím lõm
Dây Sài Gòn
Ông Chín Hòa là người đầu tiên đờn bài vọng cổ bằng guitar phím lõm để thu âm, nhưng tiếng đờn của ông chưa được mượt mà, êm ái, vì ông là người chơi đàn nguyệt. Để mọi người thật sự thích thú, say mê tiếng guitar phím lõm phải kể đến công lao và tài nghệ của hai ông Ba Kéo và Armand Thiều ở Sài Gòn. Hai ông đã tạo nên một phong cách chơi đàn được giới tài tử cải lương Nam bộ tôn trọng như một “trường phái” của Sài Gòn. Cũng từ đó, tuy hệ thống dây các ông đang dùng là hệ thống “dây xề buông” nhưng được mọi người hâm mộ và gọi là “dây Sài Gòn”.
Dây Rạch Giá
Khoảng năm 1938, xuất hiện một lối đánh vọng cổ nghe khác hẳn “dây Sài Gòn”, đầu tiên được ông Trần Bửu Lương (Mười Út) chơi và sau đó là các ông Mười Còn, Bảy Hàm… Hệ thống dây này là hệ thống dây đàn mà ông Giáo Tiên ở Rạch Giá đã thử nghiệm trên đàn mandolin vào khoảng năm 1930 như đã nói trên, nên người ta gọi là “dây Rạch Giá”. Người đầu tiên sáng tạo ra các chữ đàn vọng cổ trên “dây Rạch Giá” cho guitar phím lõm là ông Mười Út.
-Đàn octavina
“Dây Sài Gòn” và “dây Rạch Giá” chỉ thuận tiện cho thế bấm ngón tay khi bậc hò là Sol (giọng nam), còn khi bậc hò là Ré (giọng nữ) thì bị tréo ngón tay. Để đàn với bậc hò là Sol mà không có cảm giác phải ca “lòn” đối với giọng nữ, người ta nghĩ đến việc thu nhỏ kích thước cây guitar phím lõm lại. Vì vậy, khoảng năm 1938-1939 một kiểu đàn mới ra đời, cây đàn này nhỏ hơn guitar nhưng lớn hơn mandolin và người ta đặt cho nó tên gọi là “ghi-ta măng-đô”. Điều đáng chú ý là cây đàn này có có bàn phím dày và độ lõm cũng được khoét sâu hơn. Âm sắc lạ và cả nam lẫn nữ đều ca chung trên một bậc hò nên được nhiều người ưa thích. Theo ông Giáo Thinh, sở dĩ cây đàn này sau được gọi là octavina, có lẽ do viết tắt từ 2 chữ: octave (quãng 8 ) và Việt Nam mà ra.
-Dây Tháp Mười (dây hò đậy)
Ở thời điểm này, dây đàn guitar phím lõm cũng như octavina dùng dây số 1 và 2 có tiết diện tương đối lớn nên độ căng của dây khá cứng, gây khó khăn trong diễn tấu. Để khắc phục tình trạng này, khoảng năm 1941-1942, các nghệ nhân vùng Tháp Mười đã hạ thấp cao độ dây xuống (thường là quãng 4 đúng) để dây chùng, bấm nhẹ tay hơn. Vì dây chùng thấp xuống nên khi đờn, các bậc hò phải tăng cao lên, bậc hò là Sol trước đây đờn ở ngăn thứ 5 thì bây giờ phải đờn ở ngăn thứ 10. Do đó, các bậc hò không rơi vào dây buông mà rơi vào ngón bấm, người ta gọi hệ thống dây này là “dây hò đậy” (“đậy” có nghĩa che lại, chỉ các ngón bấm). “Dây Tháp Mười” có ưu điểm là dây mềm, dễ nhấn nhá nhưng thế tay phải bấm liên tục, trên thực tế ít người sử dụng và không phổ biến lắm.
-Dây tứ nguyệt
Các dây “Sài Gòn”, “Rạch Giá” không đáp ứng được bậc hò cho giọng nữ, đàn octavina cũng chỉ là một biện pháp tình thế mang tính chất thay đổi âm sắc, dây “Tháp Mười” chỉ là vấn đề kỹ thuật. Bản chất việc giải quyết bậc hò cho giọng nữ cho đến thời điểm này vẫn chưa được giải quyết. Vào khoảng năm 1942-1943, hệ thống dây dành cho giọng nữ ca được ra đời gọi là “dây tứ nguyệt”.
Giải thích về chữ “tứ nguyệt” có người cho rằng đó là một cách gọi văn hoa như kiểu “dây tố lan” trong đàn nguyệt, song cũng có người giải thích rằng: “tứ” là bốn (4 dây), “nguyệt” là đàn nguyệt (mắc dây theo cách mắc dây đàn nguyệt). Một thời gian ngắn sau đó người ta thêm vào “dây tứ nguyệt” một dây số 5 nữa, đó là dây Ré như sự mở rộng bồi thêm một quãng 8 dưới của dây số 3 (Ré). Với tầm âm phù hợp với giọng hát, “dây tứ nguyệt” đàn bài vọng cổ nghe ngọt ngào, mùi mẫn, và nó có thể đàn được tất cả các bài bản tài tử cải lương một cách thoải mái. Thế là guitar phím lõm giành lại vị trí quan trọng trong dàn nhạc mà một thời gian ngắn vừa qua rơi vào octavina. Giai đoạn này nổi lên nhiều danh cầm guitar phím lõm như: Sáu Lời, Ba Lích, Tư Long, Văn Vĩ…
-Dây lai – thử nghiệm có giá trị cao cho tới ngày nay
“Dây tứ nguyệt” tuy có nhiều ưu điểm hơn so với tất cả các thử nghiệm, song khi đàn bậc hò Sol cho nam ca thì thế tay vẫn chưa thuận tiện. Vào khoảng năm 1948-1949, để đáp ứng sự đa dạng trong ca diễn của sân khấu cải lương với nhiều loại bài bản và nhiều bậc hò khác nhau, các nghệ sĩ cải lương đã cải tiến “dây tứ nguyệt” thành một loại dây mới gọi là “dây lai”, sự thay đổi của “dây lai” từ “dây tứ nguyệt” đó là dây số 4 – dây Xề (nốt La) được hạ xuống thành Xàng (nốt Sol). “Dây lai” có cấu tạo:
“Dây lai” là sự kế thừa các loại dây Sài Gòn, Rạch Giá, Xề bóp và Tứ nguyệt như sau:
– Bốn dây số 5, 3, 2, 1: lai “dây tứ nguyệt”
– Ba dây số: 4, 3, 2: lai “dây Rạch Giá”
– Ba dây số: 4, 3, 1: lai “dây Sài Gòn”
– Hai dây số: 4, 1: lai “dây xề bóp”
“Dây lai” có thể xem như hệ thống dây tương đối hoàn chỉnh, nó có khả năng chơi tất cả các bài bản cổ cũng như các bài bản mới, đặc biệt trong sân khấu cải lương, nó có thể đánh hợp âm đệm cho các sáng tác mới như guitar. Sau hệ thống “dây lai”, tuy có nhiều thử nghiệm như “dây Ngân giang”, “dây Bảo Chánh”, “dây bán Ngân giang”, hoặc một số thử nghiệm mắc hệ thống 6 dây, 8 dây – tuy nhiên cho đến nay, đã hơn nửa thế kỷ qua, chưa có một thử nghiệm nào chứng minh là ưu việt hơn “dây lai”. Thời gian dài này cũng là thời gian đã xuất hiện nhiều tay đờn trứ danh của nhạc tài từ cải lương như: Năm Cơ, Bảy Bá, Văn Vĩ, Tư A, Văn Còn, Hai Thơm… Trong đó, nghệ sĩ Văn Vĩ được xem như là “đệ nhất danh cầm guitar phím lõm miền Nam” và các nghệ sĩ Văn Vĩ, Năm Cơ, Bảy Bá được xem là “tam hùng”.

Bài Viết Cùng Chủ Đề

© 2015 Hai Lúa Miền Tây | Design by Tùng Phạm
| Design by Tùng Phạm.