Bài Viết Mới

Thứ Tư, 6 tháng 4, 2016

      Khi đặt chân đến vùng đất mới khai hoang lập nghiệp dựng nhà lập xóm, người dân Tây Nam Bộ hiểu hơn ai hết câu “tối lửa tắt đèn có nhau”. Tình làng nghĩa xóm bền chặt mới có thể giúp họ vượt qua biết bao thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên.

     Ông bà khuyên con cháu rằng bán anh em xa, mua láng giềng gần. Mua và bán ở đây chỉ mang nét nghĩa tượng trưng. Bản tính hào phóng lại cần có nhau chung lưng đấu cật để vượt qua khó khăn, hoạn nạn, nên chuyện mua, bán ở vùng đất này khá đặc biệt mà ngày nay ít nhiều vẫn còn lưu dấu ấn.
1. Chuyện cho, đổi ngày Tết
     Nhà quê, nuôi được chục vịt đẻ. Lượm trứng để dành, đến Tết, ngoài mớ nào để ăn, còn lại người ta mang cho hàng xóm, láng giềng. Nhà có trồng dưa hấu thì mang cho nhà kế bên cặp dưa chưng Tết. Nhà có cây mai vàng nở rực ngày Tết, thì chiều 30 mang sang bên kia sông cho nhà bà con để gia chủ trang trí cho bàn thờ rước ông bà thêm sắc xuân,... Vật phẩm đem cho cũng hết sức phong phú, từ dừa tươi, dưa khô, lon đậu, đến sấp lá chuối, bó lạt để gói bánh tét cũng được. Quan trọng là tấm lòng. Nhiều khi người ta còn cho cả túi nếp, thúng gạo để gói bánh, xay bột chuẩn bị đón năm mới. Họ nói với nhau một cách thật tình, thẳng thắn: Nhà có ít trứng vịt đem cho… ăn lấy thảo. Thảo theo Hán tự nghĩa là ngọt. Ăn để nhớ tấm lòng ngọt thơm của người mang cho. Dân gian miền quê cũng có câu bánh ít đi bánh quy lại. Nhận được của cho, người được cho sẽ mang đồ của nhà mình sang đáp lễ. Họ cũng không câu nệ về thời gian. Có thể họ cho lại ngay, cũng có khi mấy tháng sau cũng không ai để ý. Miễn sao đừng ăn không của người ta mà quên luôn thì kì cục lắm!
Hùn nhau làm bánh tét - một nếp sinh hoạt cộng đồng quen thuộc tại Nam Bộ.
      Gần với cho qua cho lại người miền quê còn dùng hình thức đổi cho nhau. Không có nếp thì mang gạo sang hàng xóm để đổi. Nhà ai có nếp sẵn sàng chia lại để láng giềng mình có cái vui ba ngày xuân, họ sẵn lòng. Tất nhiên, chỉ áng chừng và bên chủ động mang vật nhà mình đi đổi sẽ phải chịu thiệt đi chút đỉnh. Có khi nửa chục dừa khô đổi lấy quày chuối xiêm, hoặc vài lít đậu xanh đổi vài lít nếp,… đơn giản nhưng nghĩa cử đùm bọc mãi còn in dấu.
Ngày nay, chuyện cho qua cho lại này vẫn còn dư vị trong đời sống mà nền kinh tế thị trường đã ảnh hưởng lớn.
     2. Hùn tức là cùng nhau gom góp sức lực để làm một việc gì đó. Ở thôn quê chuyện hùn gói bánh tét, hùn quết bánh phồng diễn ra khá phổ biến vào thế kỷ trước. Nhà tá điền nghèo, một mình không thể lo nổi nhiều thứ, thế là năm ba nhà rủ nhau hùn. Người có nếp thì ra nếp, người có dừa khô thì mang đến, người có đường thì hùn vô. Người tay không thì xin góp công, góp sức. Lựa nhà kha khá đăng ký làm. 
Những sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người dân Nam Bộ giúp tình làng nghĩa xóm ngày càng bền chặt.
       Đến ngày hẹn, những ngườì hùn kéo đến. Người ngâm nếp, gút nếp, người xay bột, người lột dừa, nạo dừa, người rửa cây cán bánh, người chuẩn bị chiếu lát hay mê bồ mới để phơi bánh,… Tiếng quết bánh phồng giục giã theo nhịp chày của đám thanh niên. Các bà, các cô thì nhanh tay cán bánh, trẻ con mang bánh ra phơi,… Nhộn nhịp tiếng cười đùa, trò chuyện. Đây cũng là dịp để nam nữ phải lòng nhau bày tỏ cảm tình, là nơi các bà, các ông dò xét tình ý chọn dâu, kén rể hoặc làm mai mối cho con cháu,… Sản phẩm làm ra thì chia nhau để nhà nào cũng có cái trước cúng ông bà, tổ tiên sau cho con, cho cháu ăn… ba ngày Tết. Vị bánh phồng ngọt lịm ngày nay như còn phảng phất nét văn hóa tự ngày xưa ấy vọng về!
      3. Làng quê, kinh tế chủ yếu dựa vào đồng ruộng, việc đi chợ là chuyện trọng đại của người bình dân ngày trước. Thứ nhất do chợ xa, thứ hai do tiền bạc không dư dả gì. Bởi thế, khi ngày có đám tiệc hoặc Tết nhất người ta mới đi chợ. Còn thì có gì xài nấy, kiếm được cá tôm, hái cọng rau rừng, rau mọc hoang cũng qua bữa. Dư thì làm khô làm mắm để dành cho khi túng ngặt. Thịt heo ngày Tết thời ấy mà ra chợ thì vẫn còn là điều gì đó quá xa vời với nhiều gia đình tá điền, quanh năm chỉ biết bán mặt cho đất bán lưng cho trời để làm ra hột lúa. Với họ có lúa là có được nhiều thứ sinh hoạt khác. Tục làm heo chia Tết cũng bắt đầu từ những ngày đầu cư dân đến đây sinh cơ lập ấp. 
        Lối ngày hai bảy, hai tám Tết, trong xóm có nhà ai đó nuôi heo chừng trên dưới một tạ, họ sẽ rủ láng giềng tới chia thịt. Heo làm xong, ra thịt, thịt được chia cho mọi người. Mỡ để gói bánh tét, giò để hầm măng cúng ông bà ngày ba mươi, thịt đùi thì kho trứng vịt nước dừa. Nói là chia nhưng giá trị thịt, mỡ được tính bằng lúa, hoặc bằng công gặt, công cấy cho mùa vụ tới. Cái giò heo chừng hai ký tính bằng bốn giạ lúa. Miếng xương mông tính bằng một công tầm cấy (dân gian miệt này dùng khái niệm tầm điền tương đương 1.000 thước vuông, công tầm cấy còn gọi là tầm lớn tương đương 1.300 thước vuông!) Không có tiền thì đem sức lao động đi đổi. Nhà nghèo, cũng ráng sức làm để kiếm cho con nồi thịt kho, hoặc gói ít đòn bánh. Cực khổ quanh năm ăn chơi vài bữa ai tính toán làm gì, cứ xả láng, sa mưa hãy trả,…
           Ngoài việc chia thịt heo, người ta còn chia cặp vịt, con gà cũng theo cách tính áng chừng và quy ra lúa, ra công như vậy.
        Rõ ràng dấu ấn tự túc tự cấp in đậm trong các khái niệm cho, hùn, chia… ấy. Chúng ta dễ dàng nhận thấy, bên cạnh sự mua bán, tình thân giúp cho nhau vẫn hiện lên khá rõ qua cách nhắm chừng, bán mão,… ít ai tính toán chi ly như cách cân, đo, đong, đếm,… thời hiện đại.
văn hóa miền tây

Cho, chia, hùn, mượn... trong văn hóa Tết ở Tây Nam Bộ

Tùng Phạm  |  at  04:16

      Khi đặt chân đến vùng đất mới khai hoang lập nghiệp dựng nhà lập xóm, người dân Tây Nam Bộ hiểu hơn ai hết câu “tối lửa tắt đèn có nhau”. Tình làng nghĩa xóm bền chặt mới có thể giúp họ vượt qua biết bao thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên.

     Ông bà khuyên con cháu rằng bán anh em xa, mua láng giềng gần. Mua và bán ở đây chỉ mang nét nghĩa tượng trưng. Bản tính hào phóng lại cần có nhau chung lưng đấu cật để vượt qua khó khăn, hoạn nạn, nên chuyện mua, bán ở vùng đất này khá đặc biệt mà ngày nay ít nhiều vẫn còn lưu dấu ấn.
1. Chuyện cho, đổi ngày Tết
     Nhà quê, nuôi được chục vịt đẻ. Lượm trứng để dành, đến Tết, ngoài mớ nào để ăn, còn lại người ta mang cho hàng xóm, láng giềng. Nhà có trồng dưa hấu thì mang cho nhà kế bên cặp dưa chưng Tết. Nhà có cây mai vàng nở rực ngày Tết, thì chiều 30 mang sang bên kia sông cho nhà bà con để gia chủ trang trí cho bàn thờ rước ông bà thêm sắc xuân,... Vật phẩm đem cho cũng hết sức phong phú, từ dừa tươi, dưa khô, lon đậu, đến sấp lá chuối, bó lạt để gói bánh tét cũng được. Quan trọng là tấm lòng. Nhiều khi người ta còn cho cả túi nếp, thúng gạo để gói bánh, xay bột chuẩn bị đón năm mới. Họ nói với nhau một cách thật tình, thẳng thắn: Nhà có ít trứng vịt đem cho… ăn lấy thảo. Thảo theo Hán tự nghĩa là ngọt. Ăn để nhớ tấm lòng ngọt thơm của người mang cho. Dân gian miền quê cũng có câu bánh ít đi bánh quy lại. Nhận được của cho, người được cho sẽ mang đồ của nhà mình sang đáp lễ. Họ cũng không câu nệ về thời gian. Có thể họ cho lại ngay, cũng có khi mấy tháng sau cũng không ai để ý. Miễn sao đừng ăn không của người ta mà quên luôn thì kì cục lắm!
Hùn nhau làm bánh tét - một nếp sinh hoạt cộng đồng quen thuộc tại Nam Bộ.
      Gần với cho qua cho lại người miền quê còn dùng hình thức đổi cho nhau. Không có nếp thì mang gạo sang hàng xóm để đổi. Nhà ai có nếp sẵn sàng chia lại để láng giềng mình có cái vui ba ngày xuân, họ sẵn lòng. Tất nhiên, chỉ áng chừng và bên chủ động mang vật nhà mình đi đổi sẽ phải chịu thiệt đi chút đỉnh. Có khi nửa chục dừa khô đổi lấy quày chuối xiêm, hoặc vài lít đậu xanh đổi vài lít nếp,… đơn giản nhưng nghĩa cử đùm bọc mãi còn in dấu.
Ngày nay, chuyện cho qua cho lại này vẫn còn dư vị trong đời sống mà nền kinh tế thị trường đã ảnh hưởng lớn.
     2. Hùn tức là cùng nhau gom góp sức lực để làm một việc gì đó. Ở thôn quê chuyện hùn gói bánh tét, hùn quết bánh phồng diễn ra khá phổ biến vào thế kỷ trước. Nhà tá điền nghèo, một mình không thể lo nổi nhiều thứ, thế là năm ba nhà rủ nhau hùn. Người có nếp thì ra nếp, người có dừa khô thì mang đến, người có đường thì hùn vô. Người tay không thì xin góp công, góp sức. Lựa nhà kha khá đăng ký làm. 
Những sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người dân Nam Bộ giúp tình làng nghĩa xóm ngày càng bền chặt.
       Đến ngày hẹn, những ngườì hùn kéo đến. Người ngâm nếp, gút nếp, người xay bột, người lột dừa, nạo dừa, người rửa cây cán bánh, người chuẩn bị chiếu lát hay mê bồ mới để phơi bánh,… Tiếng quết bánh phồng giục giã theo nhịp chày của đám thanh niên. Các bà, các cô thì nhanh tay cán bánh, trẻ con mang bánh ra phơi,… Nhộn nhịp tiếng cười đùa, trò chuyện. Đây cũng là dịp để nam nữ phải lòng nhau bày tỏ cảm tình, là nơi các bà, các ông dò xét tình ý chọn dâu, kén rể hoặc làm mai mối cho con cháu,… Sản phẩm làm ra thì chia nhau để nhà nào cũng có cái trước cúng ông bà, tổ tiên sau cho con, cho cháu ăn… ba ngày Tết. Vị bánh phồng ngọt lịm ngày nay như còn phảng phất nét văn hóa tự ngày xưa ấy vọng về!
      3. Làng quê, kinh tế chủ yếu dựa vào đồng ruộng, việc đi chợ là chuyện trọng đại của người bình dân ngày trước. Thứ nhất do chợ xa, thứ hai do tiền bạc không dư dả gì. Bởi thế, khi ngày có đám tiệc hoặc Tết nhất người ta mới đi chợ. Còn thì có gì xài nấy, kiếm được cá tôm, hái cọng rau rừng, rau mọc hoang cũng qua bữa. Dư thì làm khô làm mắm để dành cho khi túng ngặt. Thịt heo ngày Tết thời ấy mà ra chợ thì vẫn còn là điều gì đó quá xa vời với nhiều gia đình tá điền, quanh năm chỉ biết bán mặt cho đất bán lưng cho trời để làm ra hột lúa. Với họ có lúa là có được nhiều thứ sinh hoạt khác. Tục làm heo chia Tết cũng bắt đầu từ những ngày đầu cư dân đến đây sinh cơ lập ấp. 
        Lối ngày hai bảy, hai tám Tết, trong xóm có nhà ai đó nuôi heo chừng trên dưới một tạ, họ sẽ rủ láng giềng tới chia thịt. Heo làm xong, ra thịt, thịt được chia cho mọi người. Mỡ để gói bánh tét, giò để hầm măng cúng ông bà ngày ba mươi, thịt đùi thì kho trứng vịt nước dừa. Nói là chia nhưng giá trị thịt, mỡ được tính bằng lúa, hoặc bằng công gặt, công cấy cho mùa vụ tới. Cái giò heo chừng hai ký tính bằng bốn giạ lúa. Miếng xương mông tính bằng một công tầm cấy (dân gian miệt này dùng khái niệm tầm điền tương đương 1.000 thước vuông, công tầm cấy còn gọi là tầm lớn tương đương 1.300 thước vuông!) Không có tiền thì đem sức lao động đi đổi. Nhà nghèo, cũng ráng sức làm để kiếm cho con nồi thịt kho, hoặc gói ít đòn bánh. Cực khổ quanh năm ăn chơi vài bữa ai tính toán làm gì, cứ xả láng, sa mưa hãy trả,…
           Ngoài việc chia thịt heo, người ta còn chia cặp vịt, con gà cũng theo cách tính áng chừng và quy ra lúa, ra công như vậy.
        Rõ ràng dấu ấn tự túc tự cấp in đậm trong các khái niệm cho, hùn, chia… ấy. Chúng ta dễ dàng nhận thấy, bên cạnh sự mua bán, tình thân giúp cho nhau vẫn hiện lên khá rõ qua cách nhắm chừng, bán mão,… ít ai tính toán chi ly như cách cân, đo, đong, đếm,… thời hiện đại.

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2016

Chợ rơm, chợ tro, chợ phân bò, chợ cỏ, chợ lục bình…ở miền Tây chuyên thu mua những thứ thậm chí là đồ bỏ đi nhưng lại khá sôi động mỗi khi họp
 Chợ phân rơm ở phường Tân Quy Tây, thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp đã có hơn 15 năm nay. Chợ này quy tụ mỗi ngày cả trăm chiếc ghe chở phân rơm về đây bán cho các hộ trồng cây kiểng.
Anh Nguyễn Văn Chiến, ở Cần Thơ làm nghề mua bán phân rơm cho biết, anh thường đi thu gom những đống phân rơm đã được chất nấm. Thường thì hầu hết các sản phẩm này anh Chiến đều được cho không. Anh đem về phơi 2 - 3 nắng rồi xúc đi bán cho người trồng cây kiểng hay người làm rẫy. 
Bình quân 1 tuần lễ người chở phân rơm mục có thể thu nhập 2 - 3 triệu đồng (tùy ghe lớn nhỏ)
Chợ rơm nằm ở xã Tân Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp đã hình thành gần 10 năm nay, nằm cập trên tuyến sông Bông Súng. Mỗi ngày có hàng chục ghe rơm tươi từ 25 đến 40 tấn tập trung về bán lại cho những hộ làm nấm rơm. 
Ông Nguyễn Văn Tám, chuyên chở rơm từ đồng về đây bán cho biết, ngày trước rơm ở vùng tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười nhiều vô kể. Sau mùa vụ, rơm đầy đồng, người ta đốt bỏ hoặc vứt đầy kênh rạch gây ô nhiễm. Thấy dân Tân Hòa mang ghe sang chở rơm, những người có rơm năn nỉ cho không rơm, chẳng lấy đồng nào.
Ở xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, An Giang,có một chợ khá độc đáo mà hàng hoá được mua bán duy nhất là cỏ. Thời điểm họp chợ cũng khá đặc biệt là vào buổi trưa hàng ngày. Chợ họp quanh năm, nhưng đông đúc nhất là vào mùa nước lũ.
Ông Chau Ty, Chủ tịch UBND xã Ô Lâm cho hay: “Việc cắt cỏ về bán ở Ô Lâm được xem như là mô hình làm ăn mùa nước nổi ở vùng đồng bào Khmer của huyện Tri Tôn. Đây cũng có thể xem là mô hình 'sống chung với lũ". 

  Anh Chau Nap (ấp Phước Lộc, xã Ô Lâm) chia sẻ, với chiếc tắc ráng nhỏ (tên 1 loại xuồng máy), vợ chồng anh thức dậy từ 3 - 4h sáng, tới những nơi có cỏ nhiều để cắt. Trung bình mỗi ngày cắt khoảng 80 bó cỏ, bán giá 2.500 đồng/bó, trừ tiền xăng, anh kiếm được trên dưới 150.000 đồng.
 
 Còn tại xã Cô Tô, huyện Tri Tôn, An Giang từ lâu đã hình thành chợ chuyên thu mua lá cây khô, để phục vụ nấu đường thốt nốt. Chợ hoạt động trong mùa nắng từ tháng 12 năm trước sang tháng 4 năm sau. 
Do nhu cầu chơi đồ gỗ ngày càng nhiều, xuất phát từ đó tại xã Vĩnh Trung, huyện Tịnh Biên, An Giang có nhiều cơ sở điêu khắc mỹ nghệ từ gỗ. Nhiều người cũng lên núi, vào rừng đào lên những gốc cây cổ thụ khô đem ra bán với giá từ vài trăm ngàn đến vài chục triệu đồng. Chợ gốc cây khô cũng hình thành từ đó.
Vào mùa lũ ở miền Tây, tại xã An Khánh, huyện Châu Thành, Đồng Tháp hình thành khu chợ chuyên thu mua lục bình của những người dân đi cắt bán. 
Lục bình là loại cây mọc hoang trên các sông rạch, không được chăm sóc nhưng lớn nhanh. Chợ bán lục bình giúp cho người dân nghèo ở miền Tây có công ăn việc làm ổn định và nguồn thu nhập từ 50.000 đến 150.000 đồng/ngày. Các cơ sở thu mua loại này về phơi khô làm hàng mỹ nghệ xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan...
Ở huyện Trà Cú, Trà Vinh hình thành rất nhiều khu chợ nhỏ chuyên thu mua bán phân bò để phục vụ trồng hoa màu và cây ăn trái. Giá bán sản phẩm phế thải này từ 15.000 đến 20.000 đồng/bao phân, vừa giúp làm sạch môi trường, vừa đem về thu nhập cho người dân. 
Cây bắp sau khi thu hoạch xong trái thường là bỏ đi, nhưng gần đây thân và cùi bắp đã trở thành sản phẩm xuất khẩu sang Đài Loan và Nhật Bản. Sau khi thu hoạch bắp, người dân chặt cây, ép thành viên để xuất bán. Ông Lê Tấn Tài, Giám đốc công ty TNHH nông nghiệp Tài Lộc CNB (Cần Thơ) chuyên thu mua sản phẩm nói trên, cho biết vừa cho ra đời sản phẩm củi ép viên bằng thân và cùi bắp. Sản phẩm củi ép nói trên vừa làm thức ăn gia súc và cả phục vụ làm củi đốt, đơn vị này đã xuất khẩu mẻ hàng đầu tiên với số lượng trên 500 tấn. 
Bình quân 1.000 kg thân bắp tươi và cùi sẽ cho ra 500 kg khô được ép thành viên. Giá xuất khẩu mặt hàng này từ 2 đến 2,5 triệu đồng/tấn. Hiện công ty Tài Lộc thu mua thân cây bắp với giá 400.000 đồng/công, còn cùi bắp thu mua giá 300 đồng/kg (thường 1 tấn bắp trái cho ra 250 kg cùi), giúp nông dân tăng nguồn thu nhập thêm. 
văn hóa

Những chợ bán đồ 'bỏ đi' độc đáo ở miền Tây

Tùng Phạm  |  at  19:30

Chợ rơm, chợ tro, chợ phân bò, chợ cỏ, chợ lục bình…ở miền Tây chuyên thu mua những thứ thậm chí là đồ bỏ đi nhưng lại khá sôi động mỗi khi họp
 Chợ phân rơm ở phường Tân Quy Tây, thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp đã có hơn 15 năm nay. Chợ này quy tụ mỗi ngày cả trăm chiếc ghe chở phân rơm về đây bán cho các hộ trồng cây kiểng.
Anh Nguyễn Văn Chiến, ở Cần Thơ làm nghề mua bán phân rơm cho biết, anh thường đi thu gom những đống phân rơm đã được chất nấm. Thường thì hầu hết các sản phẩm này anh Chiến đều được cho không. Anh đem về phơi 2 - 3 nắng rồi xúc đi bán cho người trồng cây kiểng hay người làm rẫy. 
Bình quân 1 tuần lễ người chở phân rơm mục có thể thu nhập 2 - 3 triệu đồng (tùy ghe lớn nhỏ)
Chợ rơm nằm ở xã Tân Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp đã hình thành gần 10 năm nay, nằm cập trên tuyến sông Bông Súng. Mỗi ngày có hàng chục ghe rơm tươi từ 25 đến 40 tấn tập trung về bán lại cho những hộ làm nấm rơm. 
Ông Nguyễn Văn Tám, chuyên chở rơm từ đồng về đây bán cho biết, ngày trước rơm ở vùng tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười nhiều vô kể. Sau mùa vụ, rơm đầy đồng, người ta đốt bỏ hoặc vứt đầy kênh rạch gây ô nhiễm. Thấy dân Tân Hòa mang ghe sang chở rơm, những người có rơm năn nỉ cho không rơm, chẳng lấy đồng nào.
Ở xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, An Giang,có một chợ khá độc đáo mà hàng hoá được mua bán duy nhất là cỏ. Thời điểm họp chợ cũng khá đặc biệt là vào buổi trưa hàng ngày. Chợ họp quanh năm, nhưng đông đúc nhất là vào mùa nước lũ.
Ông Chau Ty, Chủ tịch UBND xã Ô Lâm cho hay: “Việc cắt cỏ về bán ở Ô Lâm được xem như là mô hình làm ăn mùa nước nổi ở vùng đồng bào Khmer của huyện Tri Tôn. Đây cũng có thể xem là mô hình 'sống chung với lũ". 

  Anh Chau Nap (ấp Phước Lộc, xã Ô Lâm) chia sẻ, với chiếc tắc ráng nhỏ (tên 1 loại xuồng máy), vợ chồng anh thức dậy từ 3 - 4h sáng, tới những nơi có cỏ nhiều để cắt. Trung bình mỗi ngày cắt khoảng 80 bó cỏ, bán giá 2.500 đồng/bó, trừ tiền xăng, anh kiếm được trên dưới 150.000 đồng.
 
 Còn tại xã Cô Tô, huyện Tri Tôn, An Giang từ lâu đã hình thành chợ chuyên thu mua lá cây khô, để phục vụ nấu đường thốt nốt. Chợ hoạt động trong mùa nắng từ tháng 12 năm trước sang tháng 4 năm sau. 
Do nhu cầu chơi đồ gỗ ngày càng nhiều, xuất phát từ đó tại xã Vĩnh Trung, huyện Tịnh Biên, An Giang có nhiều cơ sở điêu khắc mỹ nghệ từ gỗ. Nhiều người cũng lên núi, vào rừng đào lên những gốc cây cổ thụ khô đem ra bán với giá từ vài trăm ngàn đến vài chục triệu đồng. Chợ gốc cây khô cũng hình thành từ đó.
Vào mùa lũ ở miền Tây, tại xã An Khánh, huyện Châu Thành, Đồng Tháp hình thành khu chợ chuyên thu mua lục bình của những người dân đi cắt bán. 
Lục bình là loại cây mọc hoang trên các sông rạch, không được chăm sóc nhưng lớn nhanh. Chợ bán lục bình giúp cho người dân nghèo ở miền Tây có công ăn việc làm ổn định và nguồn thu nhập từ 50.000 đến 150.000 đồng/ngày. Các cơ sở thu mua loại này về phơi khô làm hàng mỹ nghệ xuất khẩu sang Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan...
Ở huyện Trà Cú, Trà Vinh hình thành rất nhiều khu chợ nhỏ chuyên thu mua bán phân bò để phục vụ trồng hoa màu và cây ăn trái. Giá bán sản phẩm phế thải này từ 15.000 đến 20.000 đồng/bao phân, vừa giúp làm sạch môi trường, vừa đem về thu nhập cho người dân. 
Cây bắp sau khi thu hoạch xong trái thường là bỏ đi, nhưng gần đây thân và cùi bắp đã trở thành sản phẩm xuất khẩu sang Đài Loan và Nhật Bản. Sau khi thu hoạch bắp, người dân chặt cây, ép thành viên để xuất bán. Ông Lê Tấn Tài, Giám đốc công ty TNHH nông nghiệp Tài Lộc CNB (Cần Thơ) chuyên thu mua sản phẩm nói trên, cho biết vừa cho ra đời sản phẩm củi ép viên bằng thân và cùi bắp. Sản phẩm củi ép nói trên vừa làm thức ăn gia súc và cả phục vụ làm củi đốt, đơn vị này đã xuất khẩu mẻ hàng đầu tiên với số lượng trên 500 tấn. 
Bình quân 1.000 kg thân bắp tươi và cùi sẽ cho ra 500 kg khô được ép thành viên. Giá xuất khẩu mặt hàng này từ 2 đến 2,5 triệu đồng/tấn. Hiện công ty Tài Lộc thu mua thân cây bắp với giá 400.000 đồng/công, còn cùi bắp thu mua giá 300 đồng/kg (thường 1 tấn bắp trái cho ra 250 kg cùi), giúp nông dân tăng nguồn thu nhập thêm. 

Khi những cơn mưa đầu hạ bắt đầu lâm râm, dọc theo  trục lộ Tri Tôn không khó để bắt gặp hình ảnh những cây trâm đang mùa chín rộ, cho trái căng mọng…

Là món quà do thiên nhiên ban tặng, cây trâm mọc nhiều ở vùng đất núi. Cây có thân hình cao to và nhiều cành, sinh trưởng và phát triển tự nhiên khoảng vài năm thì cho trái. Thông thường mỗi năm cây trâm ra bông vào đầu mùa hè, rồi đậu kết trái thành từng chùm, khi chín trái có màu tím, to gần bằng đầu ngón tay.  


  

Không cần tốn công chăm sóc, vào mùa chín rộ, nhà nào có cây trâm chỉ cần leo lên cây hái từng chùm hoặc căn lưới bên dưới gốc,  rồi dùng cây chọc chọc cho trái rơi xuống.Trái trâm mới vừa hái xuống ăn ngọt lịm pha lẫn vị chua chan chát có mùi thơm dịu. Trái trâm có thể ăn nguyên chất, nhưng nhiều người rất thích trộn trâm với muối ớt giã nhỏ, ăn rất hấp dẫn.

Chị Néang Say, nhà ở Núi Tô cho biết: Mùa trâm cho rộ trái bắt đầu khoảng tháng 4 đến tháng 6 âm lịch. Với 4 gốc trâm cổ thụ sau vườn nhà, lúc chín rộ, mỗi ngày chị thu hoạch 30-40 kg trái, bán cho du khách từ 25.000 - 40.000 đồng/kg…

 Vào mùa trâm chín, du khách ở xa hay rủ về Bảy Núi mua hái trái mang về. Ngoài ra, cũng có không ít thương lái đến mua trâm giao cho các chợ trái cây để có thêm thu nhập.

Buổi trưa hè nhâm nhi trái trâm với muối ớt, nghe câu đồng giao“Trời mưa lâm râm, cây trâm có trái, con gái có duyên…”, bất giác lòng tôi nhớ quê da diết...
ký ức miền tây

Mùa trâm chín rộ

Tùng Phạm  |  at  19:17

Khi những cơn mưa đầu hạ bắt đầu lâm râm, dọc theo  trục lộ Tri Tôn không khó để bắt gặp hình ảnh những cây trâm đang mùa chín rộ, cho trái căng mọng…

Là món quà do thiên nhiên ban tặng, cây trâm mọc nhiều ở vùng đất núi. Cây có thân hình cao to và nhiều cành, sinh trưởng và phát triển tự nhiên khoảng vài năm thì cho trái. Thông thường mỗi năm cây trâm ra bông vào đầu mùa hè, rồi đậu kết trái thành từng chùm, khi chín trái có màu tím, to gần bằng đầu ngón tay.  


  

Không cần tốn công chăm sóc, vào mùa chín rộ, nhà nào có cây trâm chỉ cần leo lên cây hái từng chùm hoặc căn lưới bên dưới gốc,  rồi dùng cây chọc chọc cho trái rơi xuống.Trái trâm mới vừa hái xuống ăn ngọt lịm pha lẫn vị chua chan chát có mùi thơm dịu. Trái trâm có thể ăn nguyên chất, nhưng nhiều người rất thích trộn trâm với muối ớt giã nhỏ, ăn rất hấp dẫn.

Chị Néang Say, nhà ở Núi Tô cho biết: Mùa trâm cho rộ trái bắt đầu khoảng tháng 4 đến tháng 6 âm lịch. Với 4 gốc trâm cổ thụ sau vườn nhà, lúc chín rộ, mỗi ngày chị thu hoạch 30-40 kg trái, bán cho du khách từ 25.000 - 40.000 đồng/kg…

 Vào mùa trâm chín, du khách ở xa hay rủ về Bảy Núi mua hái trái mang về. Ngoài ra, cũng có không ít thương lái đến mua trâm giao cho các chợ trái cây để có thêm thu nhập.

Buổi trưa hè nhâm nhi trái trâm với muối ớt, nghe câu đồng giao“Trời mưa lâm râm, cây trâm có trái, con gái có duyên…”, bất giác lòng tôi nhớ quê da diết...

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2015

Tuy chỉ là một loại cỏ nhưng cỏ nến hay còn gọi là cây bồn bồn đã khẳng định được ví trí của mình trong đời sống và kinh tế của người dân Cà Mau, đặc biệt ĐBSCL.
Bồn bồn hiện được trồng nhiều ở Cà Mau
Bồn bồn là loại thực vật sống vùng đất ngập nước, phát triển trong ao hồ hoặc mé sông, nơi có dòng chảy chậm, có khả năng chịu phèn mặn, có khả năng chịu ngập sâu đến 1 m.Được xem là cây dại mọc hoang nhưng những năm gần đây người dân Hậu Giang, Sóc Trăng, Cà Mau và Bạc Liêu đã trồng bồn bồn trong ao nuôi tôm, cá nước ngọt.

Trước đây, ở Cái Nước, Cà Mau, cây bồn bồn khá hiếm vì toàn diện tích được trồng lúa hai vụ. Từ sau năm 2000, khi chuyển dịch sang nuôi tôm, loài cây này mới được trồng lại. Trong 6 tháng nước lợ, trên những vuông tôm là bạt ngàn bồn bồn. Cây bồn bồn chỉ hấp thụ dưỡng chất từ trong đất, không cần bón phân thuốc hoá học.
Loại cây này đã góp phần làm tăng thêm thu nhập cho nhiều hộ nông dân
Bắt đầu từ tháng 5, khi mùa mưa ở miền Tây bắt đầu thì bồn bồn tươi tốt. Từ thời điểm này đến hết mùa mưa, nông dân miền Tây chăm bón cho ruộng bồn bồn để thường xuyên thu hoạch cọng non.
Bồn bồn nổi tiếng với nhiều món ăn như dưa bồn bồn, bồn bồn nhúng lẩu, canh chua, bồn bồn xào tôm, làm gỏi, thậm chí có thể ăn sống.
Món ăn từ cây bồn bồn đã có mặt trong thực đơn nhà hàng, như một đặc sản Miền Tây
Bồn bồn nhổ từ ao đầm mang về chặt bỏ phần lá dài, giữ lại từ gốc lên khoảng 30-35cm rồi sau đó tách ra lấy lõi non bên trong. Ngâm nước vo gạo với ít muối, sau 1 tuần là ăn được. .
Dưa bồn bồn là loại đặc trưng đã làm nên thương hiệu của vùng đất Cà Mau, không lẫn vào các loại dưa khác.
Dưa bồn bồn là một món ăn có vị chua giòn, khá đưa cơm
Nếu bạn có dịp về Cà Mau, theo Quốc lộ 1, đoạn xã Tân Hưng Ðông, huyện Cái Nước sẽ thấy hai bên đường có những mái chòi bằng lá. Ðó là những căn chòi được người dân dựng lên để bán bồn bồn.
 Dưa bồn bồn ăn ngon khi kèm với mắm ruốc Cà Mau hay ăn cùng cá kho tộ hay thịt heo kho tàu, vị bồn bồn chua nhẹ, ngon giòn. Món ăn này hiện không thể thiếu trong các nhà hàng miền Tây vì được xem là đặc sản của vùng đất Nam Bộ.
hương vị miền tây

Cây bồn bồn – Đặc sản đất Cà Mau

Tùng Phạm  |  at  18:48

Tuy chỉ là một loại cỏ nhưng cỏ nến hay còn gọi là cây bồn bồn đã khẳng định được ví trí của mình trong đời sống và kinh tế của người dân Cà Mau, đặc biệt ĐBSCL.
Bồn bồn hiện được trồng nhiều ở Cà Mau
Bồn bồn là loại thực vật sống vùng đất ngập nước, phát triển trong ao hồ hoặc mé sông, nơi có dòng chảy chậm, có khả năng chịu phèn mặn, có khả năng chịu ngập sâu đến 1 m.Được xem là cây dại mọc hoang nhưng những năm gần đây người dân Hậu Giang, Sóc Trăng, Cà Mau và Bạc Liêu đã trồng bồn bồn trong ao nuôi tôm, cá nước ngọt.

Trước đây, ở Cái Nước, Cà Mau, cây bồn bồn khá hiếm vì toàn diện tích được trồng lúa hai vụ. Từ sau năm 2000, khi chuyển dịch sang nuôi tôm, loài cây này mới được trồng lại. Trong 6 tháng nước lợ, trên những vuông tôm là bạt ngàn bồn bồn. Cây bồn bồn chỉ hấp thụ dưỡng chất từ trong đất, không cần bón phân thuốc hoá học.
Loại cây này đã góp phần làm tăng thêm thu nhập cho nhiều hộ nông dân
Bắt đầu từ tháng 5, khi mùa mưa ở miền Tây bắt đầu thì bồn bồn tươi tốt. Từ thời điểm này đến hết mùa mưa, nông dân miền Tây chăm bón cho ruộng bồn bồn để thường xuyên thu hoạch cọng non.
Bồn bồn nổi tiếng với nhiều món ăn như dưa bồn bồn, bồn bồn nhúng lẩu, canh chua, bồn bồn xào tôm, làm gỏi, thậm chí có thể ăn sống.
Món ăn từ cây bồn bồn đã có mặt trong thực đơn nhà hàng, như một đặc sản Miền Tây
Bồn bồn nhổ từ ao đầm mang về chặt bỏ phần lá dài, giữ lại từ gốc lên khoảng 30-35cm rồi sau đó tách ra lấy lõi non bên trong. Ngâm nước vo gạo với ít muối, sau 1 tuần là ăn được. .
Dưa bồn bồn là loại đặc trưng đã làm nên thương hiệu của vùng đất Cà Mau, không lẫn vào các loại dưa khác.
Dưa bồn bồn là một món ăn có vị chua giòn, khá đưa cơm
Nếu bạn có dịp về Cà Mau, theo Quốc lộ 1, đoạn xã Tân Hưng Ðông, huyện Cái Nước sẽ thấy hai bên đường có những mái chòi bằng lá. Ðó là những căn chòi được người dân dựng lên để bán bồn bồn.
 Dưa bồn bồn ăn ngon khi kèm với mắm ruốc Cà Mau hay ăn cùng cá kho tộ hay thịt heo kho tàu, vị bồn bồn chua nhẹ, ngon giòn. Món ăn này hiện không thể thiếu trong các nhà hàng miền Tây vì được xem là đặc sản của vùng đất Nam Bộ.

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2015

Chẳng biết chiếc khăn rằn có từ bao giờ, chỉ biết chiếc khăn xuất phát từ khăn Krama của người Khmer gốc Campuchia. Rồi trong quá trình cộng cư ở Nam Bộ mà đến với các dân tộc khác. Chiếc khăn rằn cùng chiếc áo bà ba đã trở thành hình ảnh gần gũi với mọi người, như là một biểu tượng cho người phụ nữ đồng bằng sông Cửu Long cần cù, chịu khó.
Chiếc khăn rằn Nam Bộ

Về với Việt Nam, chiếc khăn qua sự giao thoa ngôn ngữ giữa người Việt và Khmer. Kể từ đấy, chiếc khăn rằn Nam Bộ ra đời. Người Việt học theo người Khmer làm khăn, ngâm sợi vải trong bột hồ 3 ngày 3 đêm sau đó mang đi dệt. Sợi vải ngâm trong bột hồ lúc đầu cứng, nhưng càng dùng khăn càng mềm, đó là một trong những đặc điểm vô cùng độc đáo của những chiếc khăn rằn này.

Chiếc khăn rằn thường có hai màu đen và trắng hoặc nâu và trắng. Hai màu này đan chéo nhau, tạo thành ô vuông nhỏ, trải dài khắp mặt khăn và có lẽ các lằn ngang dọc ấy là gốc gác của tên gọi khăn rằn. Chiếc khăn rằn có chiều dài khoảng 1,2m, rộng  40–50 cm, không cầu kỳ, sặc sỡ mà bình dị, đơn giản.
Những cô gái duyên dáng trong chiếc khăn rằn Nam Bộ
Trước đây, nó thường được dùng để làm đẹp thêm cho những bộ trang phục ngày hội, nhưng sau này chiếc khăn rằn đã trở nên gần gũi hơn với người dân lao động khi nó ngày càng được sử dụng phổ biến trong lao động, sản xuất.

Người nam thường quấn khăn rằn quanh trán khi làm việc để cản mồ hôi rơi xuống mắt. Người nữ hay quàng khăn vào cổ, hai tà để phía trước ngực áo dùng để lau mồ hôi. Đôi khi hai đầu khăn được buông xuôi xuống phía trước, đi với bộ quần áo bà ba làm nên nét đặc trưng rất duyên của cư dân Nam Bộ. Vì vậy, khăn rằn đã trở thành một vật dụng tiện lợi và thân thiết cho mọi người, mọi giới trong lao động, chiến đấu và sinh hoạt, để che cơn nắng, thấm dòng mồ hôi, chắn ngọn gió lốc, cả để lau khô dòng nước mắt hay giấu đi một nụ cười. Chiếc khăn rằn là nét đặc trưng riêng cho bản sắc văn hóa của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Ngày nay chiếc khăn rằn còn được sử dụng trong thiết kế thời trang
Nếu như những cô gái xứ Huế thướt tha trong tà áo dài tím mộng mơ, thì những cô thôn nữ Nam bộ lại dịu dàng, mộc mạc trong chiếc áo bà ba cùng chiếc khăn rằn quàng trên cổ.
Hình ảnh chiếc khăn rằn bình dị luôn xuất hiện với hình ảnh người dân miền Tây thật thà, chất phác. Không biết từ bao giờ mà nó đã gắn bó với con người, mảnh đất ấy. Không biết kể từ khi nào chiếc khăn rằn xuất hiện với hình ảnh chiếc áo bà ba, khăn rằn đã trở thành biểu tượng của cả một vùng miền, một văn hóa.
Và ngày nay, chúng không chỉ xuất hiện với hình ảnh người dân miền Tây Nam Bộ, những chiếc khăn rằn theo chân người trẻ thích phượt đến mọi miền tổ quốc. Khoác trên mình chiếc áo cờ đỏ sao vàng và quàng lên cổ tấm khăn rằn Nam Bộ… người trẻ chọn cho mình cách thể hiện tình yêu với quê hương, đất nước rất riêng.
Ngày nay, có lẽ đã có nhiều thay đổi trong văn hóa trang phục, nhưng chiếc khăn rằn Nam bộ trước sau vẫn mãi là một hình ảnh đẹp, một biểu trưng cho sự duyên dáng của những cô gái cũng như những tấm lòng chân tình, nồng hậu của con người đất phương Nam.
văn hóa

Giản dị với chiếc khăn rằn Nam Bộ

Tùng Phạm  |  at  19:04

Chẳng biết chiếc khăn rằn có từ bao giờ, chỉ biết chiếc khăn xuất phát từ khăn Krama của người Khmer gốc Campuchia. Rồi trong quá trình cộng cư ở Nam Bộ mà đến với các dân tộc khác. Chiếc khăn rằn cùng chiếc áo bà ba đã trở thành hình ảnh gần gũi với mọi người, như là một biểu tượng cho người phụ nữ đồng bằng sông Cửu Long cần cù, chịu khó.
Chiếc khăn rằn Nam Bộ

Về với Việt Nam, chiếc khăn qua sự giao thoa ngôn ngữ giữa người Việt và Khmer. Kể từ đấy, chiếc khăn rằn Nam Bộ ra đời. Người Việt học theo người Khmer làm khăn, ngâm sợi vải trong bột hồ 3 ngày 3 đêm sau đó mang đi dệt. Sợi vải ngâm trong bột hồ lúc đầu cứng, nhưng càng dùng khăn càng mềm, đó là một trong những đặc điểm vô cùng độc đáo của những chiếc khăn rằn này.

Chiếc khăn rằn thường có hai màu đen và trắng hoặc nâu và trắng. Hai màu này đan chéo nhau, tạo thành ô vuông nhỏ, trải dài khắp mặt khăn và có lẽ các lằn ngang dọc ấy là gốc gác của tên gọi khăn rằn. Chiếc khăn rằn có chiều dài khoảng 1,2m, rộng  40–50 cm, không cầu kỳ, sặc sỡ mà bình dị, đơn giản.
Những cô gái duyên dáng trong chiếc khăn rằn Nam Bộ
Trước đây, nó thường được dùng để làm đẹp thêm cho những bộ trang phục ngày hội, nhưng sau này chiếc khăn rằn đã trở nên gần gũi hơn với người dân lao động khi nó ngày càng được sử dụng phổ biến trong lao động, sản xuất.

Người nam thường quấn khăn rằn quanh trán khi làm việc để cản mồ hôi rơi xuống mắt. Người nữ hay quàng khăn vào cổ, hai tà để phía trước ngực áo dùng để lau mồ hôi. Đôi khi hai đầu khăn được buông xuôi xuống phía trước, đi với bộ quần áo bà ba làm nên nét đặc trưng rất duyên của cư dân Nam Bộ. Vì vậy, khăn rằn đã trở thành một vật dụng tiện lợi và thân thiết cho mọi người, mọi giới trong lao động, chiến đấu và sinh hoạt, để che cơn nắng, thấm dòng mồ hôi, chắn ngọn gió lốc, cả để lau khô dòng nước mắt hay giấu đi một nụ cười. Chiếc khăn rằn là nét đặc trưng riêng cho bản sắc văn hóa của người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Ngày nay chiếc khăn rằn còn được sử dụng trong thiết kế thời trang
Nếu như những cô gái xứ Huế thướt tha trong tà áo dài tím mộng mơ, thì những cô thôn nữ Nam bộ lại dịu dàng, mộc mạc trong chiếc áo bà ba cùng chiếc khăn rằn quàng trên cổ.
Hình ảnh chiếc khăn rằn bình dị luôn xuất hiện với hình ảnh người dân miền Tây thật thà, chất phác. Không biết từ bao giờ mà nó đã gắn bó với con người, mảnh đất ấy. Không biết kể từ khi nào chiếc khăn rằn xuất hiện với hình ảnh chiếc áo bà ba, khăn rằn đã trở thành biểu tượng của cả một vùng miền, một văn hóa.
Và ngày nay, chúng không chỉ xuất hiện với hình ảnh người dân miền Tây Nam Bộ, những chiếc khăn rằn theo chân người trẻ thích phượt đến mọi miền tổ quốc. Khoác trên mình chiếc áo cờ đỏ sao vàng và quàng lên cổ tấm khăn rằn Nam Bộ… người trẻ chọn cho mình cách thể hiện tình yêu với quê hương, đất nước rất riêng.
Ngày nay, có lẽ đã có nhiều thay đổi trong văn hóa trang phục, nhưng chiếc khăn rằn Nam bộ trước sau vẫn mãi là một hình ảnh đẹp, một biểu trưng cho sự duyên dáng của những cô gái cũng như những tấm lòng chân tình, nồng hậu của con người đất phương Nam.

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2015

 Chiếc cầu tre miệt vườn vẫn mãi in sâu trong ký ức người dân miền Tây Nam bộ như một nét văn hóa miệt vườn vùng sông nước. Chiếc cầu tre hay “cầu khỉ” bắc qua sông rạch kênh mương chằng chịt, là nét đẹp hết sức độc đáo về cảnh quan và sinh hoạt của người dân đồng bằng sông Cửu Long. 
Chiếc cầu khỉ là hình ảnh quen thuộc của bao thế hệ người dân miền tây
Trước kia, sông rạch là huyết mạch kinh tế của người dân nông thôn, ngày ấy, vùng quê còn nghèo, cây cầu tre đã chung tình với mảnh đất quê hương, quen thuộc với người dân nông thôn, khi chân bước lên cầu tre từ người lớn đến trẻ em dường như đã quen với “nhịp lắc” và cái gập ghềnh mỗi khi đến trường hay đi học về.
“Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi
Khó đi mẹ dắt con đi
Con đi trường học, mẹ đi trường đời”.
Có lẽ cái sợi đây gắn kết ấy đã có từ khi đứa trẻ ra đời, hình ảnh cây cầu tre đã theo lời ru của mẹ mà lớn lên theo năm tháng. Rồi dù ta có trưởng thành, đi xa hình ảnh cây cầu tre thuở bé vẫn theo chân mỗi người như hành trang quý báo, kết chặt nghĩa tình, gợi lên sự dịu dàng yêu thương.
Khi nhắc đến làng quê miền Tây Nam bộ, người ta nghĩ ngay đến vùng sông nước mênh mông trù phú, cùng với các chiếc cầu tre, chiếc xuồng ba lá chiếm một vị trí văn hóa quan trọng trong đời sống. Nếu hình ảnh cây cầu tre quen thuộc với người dân miệt vườn thì nó lại là nỗi sợ của người dân chốn thị thành, những bước chân run run khi bước nhẹ lên “chiếc lưng trần” của cây cầu giống đôi chân của một cụ già.

Mùa mưa, nước dâng ngập con mương, con rạch, cây cầu bị nước ngập lâu ngày, trở nên trơn trợt bởi bám rong, bùn. Lũ học trò mỗi lần đi học, một tay vịn thành cầu, tay kia cứ khư khư cặp chiếc cặp nhỏ bên hông, sợ chẳng may trượt chân rơi xuống nước làm ướt trang vở học trò.
Những em học sinh đến trường
Cầu tre miền quê là vậy, lúc nào cũng đơn sơ và giản dị. Với vài cây tre, năm ba cây gáo, cây bần, cây cau, cây dừa, cây sao, cây sến và thêm một mớ dây cổ rùa, dây mây rừng, dây choại là cây cầu đã có mặt bên dòng đời nơi thôn dã miền sông nước quê mùa. Không cầu kỳ, cũng chẳng cao sang, cây cầu đã “hòa mình” vào cuộc sống ở kênh rạch, nối liền hai bờ cho mọi người qua lại giao hòa cùng nhau, mỗi ngày như mọi ngày mang đến niềm vui hạnh ngộ đôi bờ cho con rạch làng quê..
Cây cầu lắt lẻo đã tô thêm nét đẹp cho làng quê khi những con đường bị dòng sông, kênh rạch ngăn đôi. Dòng nước cạn, con rạch nhỏ, thân cầu tre gọn gàng nối bên này bên kia bằng khúc gỗ gòn gọn gàng. Dòng nước sâu, con sông rộng, cầu tre cũng nối dài thêm nhiều nhịp thành cây cầu lắt lẻo trên dòng nước bao mùa… Những cầu tre dài có từ ba nhịp, năm nhịp, bảy nhịp là những cây cầu qua những con rạch có bờ bến xa vời.
Cây cầu tre luôn có những nhịp lẻ vì người đời muốn dành nhịp giữa ngay giữa dòng nước sâu cho ghe xuồng chở nặng tiện đường qua lại, nên cầu tre chia dòng sông làm hai phần đều nhau. Ở trong kinh, trong rạch, nên cầu tre mang trên mình cái nét riêng của con kinh hiền hòa, của con rạch bùn lầy, của xứ sở quê mùa… Không có bùn trên lưng, không có nắng trên tay vịn, không có mưa trên đầu, không có nước làm đung đưa chân cầu như chân cụ già, có lẽ, đã không còn là cây cầu tre lắt lẻo miền quê. Từng đoạn của cây cầu tre như những mảnh ghép của năm tháng đã qua, để lại màu nâu xỉn in hằn những dấu chân đi về.
Cầu tre duyên dáng tình quê
Những cây cầu đúc bằng xi măng dần dần xuất hiện rải rác hết khúc sông này đến đầu sông nọ, cây cầu tre cũng mất dần trên những con rạch, những dòng kinh đào khắp miền đồng bằng này… Giờ đây, không còn dễ dàng để có thể bắt gặp hình ảnh đứa trẻ bắt đầu tự đi qua cầu bằng cách ngồi lên cầu và nhích từng chút một trước khi có thể bước đi thành thạo trên cây cầu tre quê hương.
Nhớ quá những cây cầu tre gập ghềnh ngày nào qua câu ca dao mộc mạc, quê mùa như khúc hát ân tình, nhớ đêm trăng sáng vằng vặc nơi miền quê, những thanh niên nông thôn ngồi vắt vẻo trên cầu đong đưa thả chân xuống nước, đá những trảng lục bình hờ hững trôi ngang, gió hiu hiu thổi thấy quê hương yên bình quá đỗi.
Giờ đây, quê tôi đang từng ngày thay đổi với nhiều chiếc cầu mới khang trang mọc lên thay thế cho những chiếc cầu khỉ nối nhịp đôi bờ. Nhưng về sâu trong từng ngõ ngách thôn xóm, ta vẫn bắt gặp đâu đó vài chiếc cầu tre vẫn đang vươn mình nối nhịp cho bà con đi lại. Có thể nói, cầu tre như là một biểu tượng cho vùng đất và con người miền Tây mộc mạc nhưng ấm áp, nghĩa tình.
văn hóa

Cầu tre duyên dáng tình quê

Tùng Phạm  |  at  18:13

 Chiếc cầu tre miệt vườn vẫn mãi in sâu trong ký ức người dân miền Tây Nam bộ như một nét văn hóa miệt vườn vùng sông nước. Chiếc cầu tre hay “cầu khỉ” bắc qua sông rạch kênh mương chằng chịt, là nét đẹp hết sức độc đáo về cảnh quan và sinh hoạt của người dân đồng bằng sông Cửu Long. 
Chiếc cầu khỉ là hình ảnh quen thuộc của bao thế hệ người dân miền tây
Trước kia, sông rạch là huyết mạch kinh tế của người dân nông thôn, ngày ấy, vùng quê còn nghèo, cây cầu tre đã chung tình với mảnh đất quê hương, quen thuộc với người dân nông thôn, khi chân bước lên cầu tre từ người lớn đến trẻ em dường như đã quen với “nhịp lắc” và cái gập ghềnh mỗi khi đến trường hay đi học về.
“Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi
Khó đi mẹ dắt con đi
Con đi trường học, mẹ đi trường đời”.
Có lẽ cái sợi đây gắn kết ấy đã có từ khi đứa trẻ ra đời, hình ảnh cây cầu tre đã theo lời ru của mẹ mà lớn lên theo năm tháng. Rồi dù ta có trưởng thành, đi xa hình ảnh cây cầu tre thuở bé vẫn theo chân mỗi người như hành trang quý báo, kết chặt nghĩa tình, gợi lên sự dịu dàng yêu thương.
Khi nhắc đến làng quê miền Tây Nam bộ, người ta nghĩ ngay đến vùng sông nước mênh mông trù phú, cùng với các chiếc cầu tre, chiếc xuồng ba lá chiếm một vị trí văn hóa quan trọng trong đời sống. Nếu hình ảnh cây cầu tre quen thuộc với người dân miệt vườn thì nó lại là nỗi sợ của người dân chốn thị thành, những bước chân run run khi bước nhẹ lên “chiếc lưng trần” của cây cầu giống đôi chân của một cụ già.

Mùa mưa, nước dâng ngập con mương, con rạch, cây cầu bị nước ngập lâu ngày, trở nên trơn trợt bởi bám rong, bùn. Lũ học trò mỗi lần đi học, một tay vịn thành cầu, tay kia cứ khư khư cặp chiếc cặp nhỏ bên hông, sợ chẳng may trượt chân rơi xuống nước làm ướt trang vở học trò.
Những em học sinh đến trường
Cầu tre miền quê là vậy, lúc nào cũng đơn sơ và giản dị. Với vài cây tre, năm ba cây gáo, cây bần, cây cau, cây dừa, cây sao, cây sến và thêm một mớ dây cổ rùa, dây mây rừng, dây choại là cây cầu đã có mặt bên dòng đời nơi thôn dã miền sông nước quê mùa. Không cầu kỳ, cũng chẳng cao sang, cây cầu đã “hòa mình” vào cuộc sống ở kênh rạch, nối liền hai bờ cho mọi người qua lại giao hòa cùng nhau, mỗi ngày như mọi ngày mang đến niềm vui hạnh ngộ đôi bờ cho con rạch làng quê..
Cây cầu lắt lẻo đã tô thêm nét đẹp cho làng quê khi những con đường bị dòng sông, kênh rạch ngăn đôi. Dòng nước cạn, con rạch nhỏ, thân cầu tre gọn gàng nối bên này bên kia bằng khúc gỗ gòn gọn gàng. Dòng nước sâu, con sông rộng, cầu tre cũng nối dài thêm nhiều nhịp thành cây cầu lắt lẻo trên dòng nước bao mùa… Những cầu tre dài có từ ba nhịp, năm nhịp, bảy nhịp là những cây cầu qua những con rạch có bờ bến xa vời.
Cây cầu tre luôn có những nhịp lẻ vì người đời muốn dành nhịp giữa ngay giữa dòng nước sâu cho ghe xuồng chở nặng tiện đường qua lại, nên cầu tre chia dòng sông làm hai phần đều nhau. Ở trong kinh, trong rạch, nên cầu tre mang trên mình cái nét riêng của con kinh hiền hòa, của con rạch bùn lầy, của xứ sở quê mùa… Không có bùn trên lưng, không có nắng trên tay vịn, không có mưa trên đầu, không có nước làm đung đưa chân cầu như chân cụ già, có lẽ, đã không còn là cây cầu tre lắt lẻo miền quê. Từng đoạn của cây cầu tre như những mảnh ghép của năm tháng đã qua, để lại màu nâu xỉn in hằn những dấu chân đi về.
Cầu tre duyên dáng tình quê
Những cây cầu đúc bằng xi măng dần dần xuất hiện rải rác hết khúc sông này đến đầu sông nọ, cây cầu tre cũng mất dần trên những con rạch, những dòng kinh đào khắp miền đồng bằng này… Giờ đây, không còn dễ dàng để có thể bắt gặp hình ảnh đứa trẻ bắt đầu tự đi qua cầu bằng cách ngồi lên cầu và nhích từng chút một trước khi có thể bước đi thành thạo trên cây cầu tre quê hương.
Nhớ quá những cây cầu tre gập ghềnh ngày nào qua câu ca dao mộc mạc, quê mùa như khúc hát ân tình, nhớ đêm trăng sáng vằng vặc nơi miền quê, những thanh niên nông thôn ngồi vắt vẻo trên cầu đong đưa thả chân xuống nước, đá những trảng lục bình hờ hững trôi ngang, gió hiu hiu thổi thấy quê hương yên bình quá đỗi.
Giờ đây, quê tôi đang từng ngày thay đổi với nhiều chiếc cầu mới khang trang mọc lên thay thế cho những chiếc cầu khỉ nối nhịp đôi bờ. Nhưng về sâu trong từng ngõ ngách thôn xóm, ta vẫn bắt gặp đâu đó vài chiếc cầu tre vẫn đang vươn mình nối nhịp cho bà con đi lại. Có thể nói, cầu tre như là một biểu tượng cho vùng đất và con người miền Tây mộc mạc nhưng ấm áp, nghĩa tình.

Không khí rộn ràng những ngày giáp xuân, cùng cảnh sắc thiên nhiên độc đáo của làng hoa kiểng Cái Mơn sẽ đem cho bạn những trải nghiệm khó quên.
Nụ cười hạnh phúc khi hoa được mùa
Về đây, bạn như ôm trọn cả không gian văn hoá “miệt vườn” với những dấu xưa miền “Nam kỳ lục tỉnh” (hay “lục tỉnh”) từng được tái hiện trong các tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh, với nếp nhà lá thân thương, chiếc xuồng ba lá xuôi ngược trên sông nước, mùi khói đốt đồng và câu hò xao xác trời chiều…
Làng hoa kiểng Cái Mơn ( thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, Bến Tre), quê hương Trương Vĩnh Ký, nơi từ lâu không chỉ nổi tiếng  cây lành, trái ngọt mà còn hoa kiểng. Nhiều người vươn lên thành tỉ phú với vỏn vẹn 2 công đất nhờ cây giống, hoa kiểng. Nhà nhà nối nhau làm hoa kiểng.
Tết, không gì thú vị bằng những ngày trước Tết, nhất là ở miền quê – nơi còn lưu giữ phong vị văn hóa cổ truyền đậm nét. Đây chính là lúc những đứa con xa quê hương đến tận nhà dân xem gói, nấu bánh tét và thử các món ăn ngày Tết đậm chất dân dã của người địa phương.
Làng hoa Cái Mơn
Trong khung cảnh làng quê Nam bộ thanh bình, cả gia đình ngồi quây quần bên những chiếc nong, nia đựng đầy gạo, thịt và lá chuối xanh cùng làn khói bếp từ nồi bánh tét bốc lên mang theo cả tâm trạng nao nao với hình ảnh báo hiệu Tết đã đến gần.
Du khách cũng có đi sâu trong miệt vườn ở vùng đất phương Nam để ngắm những loài hoa chân phương như cúc, dã yến thảo, lan, huệ, hồng tỷ muội… ở làng hoa Sa Đéc, Gò Công, làng hoa kiểng Cái Mơn (Chợ Lách, Bến Tre) hay thăm vườn kiểng của nghệ nhân Năm Công – nghệ sĩ xứ miệt vườn đã sáng tạo nên những mẫu kiểng từng được đưa vào công viên Gardens by the Bay và công viên Bách Thảo Singapore…
Từ 20 tháng chạp cũng là lúc các phiên chợ nổi ở Cái Bè (Tiền Giang), Cái Răng (Cần Thơ)… bước vào mùa hội nhộn nhịp nhất trong năm. Nơi đây biến thành chợ đầu mối quy tụ mọi sản vật, hoa trái của cả vùng đồng bằng châu thổ trù phú Cửu Long. Đến đây vào dịp này, bạn sẽ có cơ hội chứng kiến quang cảnh buôn bán tấp nập “trên bến dưới thuyền”, không khí khẩn trương vận chuyển hàng hóa mang Tết đi khắp nơi, tiếng gọi bạn í ới làm xao động cả khúc sông quê.
Hoa mai là hoa chủ đạo của Cái Mơn
Xứ sở miền “lục tỉnh” còn ban tặng cho con người nhiều sản vật thơm ngọt, mát lành. Chuyến du ngoạn miền Tây trước Tết của bạn sẽ đong đầy cảm xúc với quà mang về là những trái vú sữa, quýt hồng Lai Vung mơn mởn sắc vàng cam, mứt dừa Bến Tre hay các món khô Châu Đốc…

văn hóa

Làng hoa kiểng Cái Mơn

Tùng Phạm  |  at  10:40

Không khí rộn ràng những ngày giáp xuân, cùng cảnh sắc thiên nhiên độc đáo của làng hoa kiểng Cái Mơn sẽ đem cho bạn những trải nghiệm khó quên.
Nụ cười hạnh phúc khi hoa được mùa
Về đây, bạn như ôm trọn cả không gian văn hoá “miệt vườn” với những dấu xưa miền “Nam kỳ lục tỉnh” (hay “lục tỉnh”) từng được tái hiện trong các tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh, với nếp nhà lá thân thương, chiếc xuồng ba lá xuôi ngược trên sông nước, mùi khói đốt đồng và câu hò xao xác trời chiều…
Làng hoa kiểng Cái Mơn ( thuộc xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, Bến Tre), quê hương Trương Vĩnh Ký, nơi từ lâu không chỉ nổi tiếng  cây lành, trái ngọt mà còn hoa kiểng. Nhiều người vươn lên thành tỉ phú với vỏn vẹn 2 công đất nhờ cây giống, hoa kiểng. Nhà nhà nối nhau làm hoa kiểng.
Tết, không gì thú vị bằng những ngày trước Tết, nhất là ở miền quê – nơi còn lưu giữ phong vị văn hóa cổ truyền đậm nét. Đây chính là lúc những đứa con xa quê hương đến tận nhà dân xem gói, nấu bánh tét và thử các món ăn ngày Tết đậm chất dân dã của người địa phương.
Làng hoa Cái Mơn
Trong khung cảnh làng quê Nam bộ thanh bình, cả gia đình ngồi quây quần bên những chiếc nong, nia đựng đầy gạo, thịt và lá chuối xanh cùng làn khói bếp từ nồi bánh tét bốc lên mang theo cả tâm trạng nao nao với hình ảnh báo hiệu Tết đã đến gần.
Du khách cũng có đi sâu trong miệt vườn ở vùng đất phương Nam để ngắm những loài hoa chân phương như cúc, dã yến thảo, lan, huệ, hồng tỷ muội… ở làng hoa Sa Đéc, Gò Công, làng hoa kiểng Cái Mơn (Chợ Lách, Bến Tre) hay thăm vườn kiểng của nghệ nhân Năm Công – nghệ sĩ xứ miệt vườn đã sáng tạo nên những mẫu kiểng từng được đưa vào công viên Gardens by the Bay và công viên Bách Thảo Singapore…
Từ 20 tháng chạp cũng là lúc các phiên chợ nổi ở Cái Bè (Tiền Giang), Cái Răng (Cần Thơ)… bước vào mùa hội nhộn nhịp nhất trong năm. Nơi đây biến thành chợ đầu mối quy tụ mọi sản vật, hoa trái của cả vùng đồng bằng châu thổ trù phú Cửu Long. Đến đây vào dịp này, bạn sẽ có cơ hội chứng kiến quang cảnh buôn bán tấp nập “trên bến dưới thuyền”, không khí khẩn trương vận chuyển hàng hóa mang Tết đi khắp nơi, tiếng gọi bạn í ới làm xao động cả khúc sông quê.
Hoa mai là hoa chủ đạo của Cái Mơn
Xứ sở miền “lục tỉnh” còn ban tặng cho con người nhiều sản vật thơm ngọt, mát lành. Chuyến du ngoạn miền Tây trước Tết của bạn sẽ đong đầy cảm xúc với quà mang về là những trái vú sữa, quýt hồng Lai Vung mơn mởn sắc vàng cam, mứt dừa Bến Tre hay các món khô Châu Đốc…

Bài Viết Cùng Chủ Đề

© 2015 Hai Lúa Miền Tây | Design by Tùng Phạm
| Design by Tùng Phạm.