Bài Viết Mới

Hiển thị các bài đăng có nhãn truyền thuyết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn truyền thuyết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

Cư dân Nam Bộ bao đời nay đã phải vất vả, gian lao trong công cuộc chinh phục thiên nhiên, biến rừng hoang cỏ rậm thành đồng ruộng bao la thẳng cánh cò bay, với vườn cây trái trĩu quả, tôm cá đầy sông… Đó là những con người dũng cảm, gan dạ, dám xuống sông hốt trứng sấu, lên rừng xỉa răng cọp, chống lại rắn rít, muỗi mòng, ma thiên nước độc…
Truyền thuyết ở Nam Bộ tuy ra đời muộn nhưng phản ánh khá đầy đủ quá trình chinh phục tự nhiên, đấu tranh xã hội của con người nơi đây. Trong đó truyền thuyết về các anh hùng thời mở đất là một ví dụ điển hình.
Đây là hệ thống truyện kể đặc sắc nhất trong truyện kể dân gian góp phần biểu dương những nhân vật anh hùng thời khai phá mà ký ức dân gian đã dành cho họ một tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc.
Để sinh tồn, những lưu dân Nam bộ ngoài việc phải chống lại thời tiết khắc nghiệt, còn phải chống lại với rất nhiều ác thú. Trong các loài ác thú mà những lưu dân thời khẩn hoang phải đương đầu và chống chọi với chúng nhiều nhất có lẽ là cọp và sấu. Đây là hai loài vật nguy hiểm nhất và được truyền miệng trong dân gian qua nhiều câu chuyện li kỳ nhất. Xin trích dẫn hai câu chuyện về sấu và cọp để thấy rõ hơn sự trí dũng của cha ông ta thời xưa.
“Trấn (Vĩnh Thanh) ấy lại có nhiều cá sấu và cọp dữ. Dân địa phương sống quen nên chẳng hề sợ. Đờn bà con nít có khi cầm dao cắt cỏ hay cầm cây đòn xóc gánh mạ cũng có thể đánh cọp và bắt đặng cọp.
Năm trước trong khúc sông Tiên (Sa Đéc) có con cá sấu mình lớn năm vây, dài đến sáu trượng, hằng ngày đón chận ghe qua, đánh lắc cho văng người xuống, hoặc đánh lật úp ghe rồi nhảy vọt lên táp nuốt. Người ta gọi tên con sấu ấy là “ông luồng” và đã dùng hết cách để trừ nó mà rốt lại cũng chẳng đặng.
Bấy giờ có người thợ câu nhà nghề dùng một lưỡi câu sấu thật to, móc chặt một con vịt sống, rồi dùng dây mây cũng to, xỏ qua lỗ hậu lưỡi câu dính liền với thân con vịt, đoạn anh nhảy ùm xuống nước, bơi lội nhử mồi.
Sấu nghe hơi liền nổi lên rượt đuổi.
Người thợ câu lành nghề kia biết sấu không có mang tai, không tài nào hả họng trong nước đặng; còn cái đuôi sấu thì dẫu có cựa quậy cũng chẳng có chỗ hại gì. Nhân vậy mới trêu đùa với sấu và đợi đến lúc nó tấn gần sát lại bên mình, cất lên mặt nước toan táp, anh mới thừa cơ ném vịt tới miệng nó.
Trong lúc sấu lo nuốt vịt thời anh thợ câu hụp xuống nước, lặn ngầm vào bờ, hô nhau kéo riết dây câu vô rồi cùng với dân làng bốn bề ập lại, đâm chết tươi con sấu.
Mối hại từ đó mới tiệt. Tài năng của anh thợ câu nhà nghề ấy chẳng những người trong nước mà ngay cả đến người các nước nghe đến cũng phải giựt mình, lấy làm lạ lùng.”(1)
Câu chuyện đã mô tả cách bắt sấu của người xưa. Nó thể hiện được sự thông minh, tài trí và sự dũng cảm của cha ông ta thuở khai hoang mở cõi. Còn chuyện đánh nhau với cọp dữ: tuy con người hạ được cọp, nhưng cũng phải hy sinh tính mạng.
“Đời chúa Duệ Tông, vào ngày 25 tháng giêng năm Canh Dần (1770), sau lúc mọi người yên nghỉ, chợt có con mãnh hổ chạy tuông vào nhà một người dân ở phía nam chợ (Tân Kiểng), lung lăng gầm rống làm quần chúng địa phương hoảng kinh. Họ chạy báo với dinh đồn gần đó và đặng phái binh đuổi bắt. Người ta phải phá hủy nhiều phòng ốc, làm rào khại nhiều lớp để bủa vây, nhưng gặp nhằm con cọp quá dữ dằn nên không ai dám xáp gần để đánh bắt nó.
Trải ba ngày như vậy, có một nhà sư trên đường du phương đạo hiệu Hồng Ân cùng đồ đệ là Trí Năng, đến tình nguyện đánh bắt mãnh hổ. Sư Hồng Ân cùng với cọp đấu chiến. Hồi lâu, cọp bị gậy đánh đau, phải chạy trốn vào lùm tre. Sư Hồng Ân rượt nà theo cọp. Cọp nột quá phải quày lại chống cự. Bấy giờ nhà sự bước trái, rủi trật chưn té rớt xuống mương, bị cọp phủ, gây thương tích nặng. Đồ đệ Trí Năng đến tiếp viện cho thầy. Dùng miếng độc bổ vào đầu cọp. Cọp chết ngay dưới gậy. Nhưng sư Hồng Ân đã bị trọng thương, nên ngay lúc đó cũng trút hơi thở cuối.
Người trong chợ cho sư Hồng Ân là bực nghĩa khí, nên đem chôn cất tại đó, có xây tháp tử tế.”2
Ngoài hai loài ác thú trên, các lưu dân còn phải chống chọi với heo rừng, các loại rắn… đủ thấy cha ông ta thời khẩn hoang phải chịu vất vả biết nhường nào.
Nhiều truyền thuyết anh hùng khai phá đất mới thường đi vào tín ngưỡng thờ phụng tiền hiền, hậu hiền nơi đình làng. Đó là một cơ chế tinh thần để củng cố sức mạnh cố kết của loại cộng đồng thôn ấp phương Nam (vốn có phần chưa kịp bện kết chặt chẽ). “Sức mạnh xã hội và sức mạnh thẩm mỹ của hiện tượng này quan trọng tới mức nhà nước phong kiến phải dùng cách sắc phong cho các vị đó là thành hoàng, với hy vọng cấy được uy tín của vương triều vào đời sống thôn ấp.”(3) Điều này góp phần tôn vinh các bậc tiền nhân trong quá trình khai phá, đã đặt những nhát rựa đầu tiên lên những lùm mây rậm, những vạt rừng thiêng của xứ này. Công cuộc chinh phục tập thể đối với một thiên nhiên dữ dội, nhất là đối với thú dữ, đã được găm lại trong ký ức thẩm mỹ dân gian dưới dạng các truyền thuyết về Đầu Sấu, Cái Răng, Ông Chưởng, Cù Lao Trâu, Vàm Bà Bầy… Truyền thuyết về Đầu Sấu, Cái Răng kể rằng: “Ngày xưa, ở Vàm sông Cần Thơ, nơi giáp giới giữa hai làng Thường Thạnh và Tân An, tương truyền rằng có một con sấu rất lớn và hung dữ. Khi sấu nổi lên nó to bằng chiếc xuồng ba lá, dài 5-6 thước, có hai hàng đèn sáng rực trên lưng. Nhiều người đi qua khúc sông này bằng xuồng, ghe đã bị con sấu nổi lên quật chìm và cắp đi mất xác.
Điều lạ là con sấu rất mê xem hát bội. Những lần đình làng tổ chức cúng lễ thượng điền, hạ điền có mời gánh hát bội về diễn, con sấu đều trườn lên bãi nằm xem. Đám đông đang xem hát trên sân đình hoảng loạn, bỏ chạy tứ phía. Nhưng thấy con sấu chẳng làm hại ai, chỉ nổi lên xem hát bội nên người ta quay lại, chẳng còn sợ hãi nữa. Ông xã trưởng còn sai người làng ném đồ cúng xuống cho sấu ăn. Dân làng quen dần với việc sấu xem hát bội cúng đình hàng năm.
Chung quanh sấu coi hát bội cũng có câu chuyện: Năm đó, trong làng có một người lực điền yêu và làm đám cưới với một cô thôn nữ ở làng bên. Đám rước dâu có hàng chục xuồng, ghe, có dàn nhạc lễ, trống kèn… vui như ngày hội. Khi đám rước đi ngang khúc sông nọ, bất thần con sấu nổi lên, nó quật đuôi thật mạnh làm chìm 3-4 chiếc xuồng, ghe. Những người đi trong đám rước ném bỏ lễ vật, cố chèo chống, bơi lội thoát thân. Khi đã lên được trên bờ, điểm mặt từng người lại thì thấy mất tích cô dâu. Chú rể đau đớn, vật vã…
Anh ta về rắp tâm giết cho bằng được con sấu, trả mối hận mất vợ. Anh gom góp hết vốn liếng, gia sản đi mời cho bằng được 3 gánh hát bội nổi tiếng trong vùng và vận động trai tráng ở các làng hợp sức với anh.
Đêm đó, gánh hát bội đầu tiên dựng rạp hát phía trong vàm rạch từ rất sớm. Con sấu nghe tiếng trống, tiếng đàn, nổi lên bơi vào xem. Khi gánh hát đầu tiên hạ màn, thì cách đó không xa, đi sâu vào con rạch, gánh hát bội thứ hai bắt đầu khai diễn. Trong khi đó, hàng trăm trai làng lặng lẽ, thay phiên nhau đốn gỗ, xóc trụ, đào đất đắp một con đập to ngoài đầu vàm. Khi con sấu xem xong gánh hát bội thứ ba ở sâu trong ngọn rạch thì trời cũng vừa ửng sáng, nước đang ròng chỉ còn khoảng một phần ba sông, con đập cũng vừa hoàn thành.
Con sấu uể oải bơi ra sông cái sau một đêm trắng xem hát. Nhưng không còn kịp nữa, nó bị chặn lại bằng con đập khi ra đến đầu vàm. Từ trên bờ, hàng ngàn mũi lao bằng gốc tầm vông già vạt nhọn, những mũi chĩa đinh ba… nhắm ngay con sấu phóng tới. Tiếng hò hét vang động… Chàng lực điền giành phần phanh da, xả thịt con sấu.
Mặc dù có chung cội nguồn với văn hóa truyền thống, nhưng văn hóa Nam Bộ lại chịu sự quy định của điều kiện môi trường địa lý nên văn hóa ở đây vẫn có những nét khu biệt cao so với văn hóa cội nguồn. Cơ chế làng ở Nam Bộ là cơ chế mở chứ không khép kín nên những khó khăn vất vả hiểm nguy về con người thời khai hoang mở cõi, vật lộn với muỗi mòng, rắn rít, đấu tranh với thiên nhiên, với thú dữ… đã được thể hiện bằng các truyền thuyết anh hùng.
văn hóa

Một Số Truyền Thuyết Về Các Anh Hùng Thời Mở Đất Phương Nam

Tùng Phạm  |  at  00:51

Cư dân Nam Bộ bao đời nay đã phải vất vả, gian lao trong công cuộc chinh phục thiên nhiên, biến rừng hoang cỏ rậm thành đồng ruộng bao la thẳng cánh cò bay, với vườn cây trái trĩu quả, tôm cá đầy sông… Đó là những con người dũng cảm, gan dạ, dám xuống sông hốt trứng sấu, lên rừng xỉa răng cọp, chống lại rắn rít, muỗi mòng, ma thiên nước độc…
Truyền thuyết ở Nam Bộ tuy ra đời muộn nhưng phản ánh khá đầy đủ quá trình chinh phục tự nhiên, đấu tranh xã hội của con người nơi đây. Trong đó truyền thuyết về các anh hùng thời mở đất là một ví dụ điển hình.
Đây là hệ thống truyện kể đặc sắc nhất trong truyện kể dân gian góp phần biểu dương những nhân vật anh hùng thời khai phá mà ký ức dân gian đã dành cho họ một tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc.
Để sinh tồn, những lưu dân Nam bộ ngoài việc phải chống lại thời tiết khắc nghiệt, còn phải chống lại với rất nhiều ác thú. Trong các loài ác thú mà những lưu dân thời khẩn hoang phải đương đầu và chống chọi với chúng nhiều nhất có lẽ là cọp và sấu. Đây là hai loài vật nguy hiểm nhất và được truyền miệng trong dân gian qua nhiều câu chuyện li kỳ nhất. Xin trích dẫn hai câu chuyện về sấu và cọp để thấy rõ hơn sự trí dũng của cha ông ta thời xưa.
“Trấn (Vĩnh Thanh) ấy lại có nhiều cá sấu và cọp dữ. Dân địa phương sống quen nên chẳng hề sợ. Đờn bà con nít có khi cầm dao cắt cỏ hay cầm cây đòn xóc gánh mạ cũng có thể đánh cọp và bắt đặng cọp.
Năm trước trong khúc sông Tiên (Sa Đéc) có con cá sấu mình lớn năm vây, dài đến sáu trượng, hằng ngày đón chận ghe qua, đánh lắc cho văng người xuống, hoặc đánh lật úp ghe rồi nhảy vọt lên táp nuốt. Người ta gọi tên con sấu ấy là “ông luồng” và đã dùng hết cách để trừ nó mà rốt lại cũng chẳng đặng.
Bấy giờ có người thợ câu nhà nghề dùng một lưỡi câu sấu thật to, móc chặt một con vịt sống, rồi dùng dây mây cũng to, xỏ qua lỗ hậu lưỡi câu dính liền với thân con vịt, đoạn anh nhảy ùm xuống nước, bơi lội nhử mồi.
Sấu nghe hơi liền nổi lên rượt đuổi.
Người thợ câu lành nghề kia biết sấu không có mang tai, không tài nào hả họng trong nước đặng; còn cái đuôi sấu thì dẫu có cựa quậy cũng chẳng có chỗ hại gì. Nhân vậy mới trêu đùa với sấu và đợi đến lúc nó tấn gần sát lại bên mình, cất lên mặt nước toan táp, anh mới thừa cơ ném vịt tới miệng nó.
Trong lúc sấu lo nuốt vịt thời anh thợ câu hụp xuống nước, lặn ngầm vào bờ, hô nhau kéo riết dây câu vô rồi cùng với dân làng bốn bề ập lại, đâm chết tươi con sấu.
Mối hại từ đó mới tiệt. Tài năng của anh thợ câu nhà nghề ấy chẳng những người trong nước mà ngay cả đến người các nước nghe đến cũng phải giựt mình, lấy làm lạ lùng.”(1)
Câu chuyện đã mô tả cách bắt sấu của người xưa. Nó thể hiện được sự thông minh, tài trí và sự dũng cảm của cha ông ta thuở khai hoang mở cõi. Còn chuyện đánh nhau với cọp dữ: tuy con người hạ được cọp, nhưng cũng phải hy sinh tính mạng.
“Đời chúa Duệ Tông, vào ngày 25 tháng giêng năm Canh Dần (1770), sau lúc mọi người yên nghỉ, chợt có con mãnh hổ chạy tuông vào nhà một người dân ở phía nam chợ (Tân Kiểng), lung lăng gầm rống làm quần chúng địa phương hoảng kinh. Họ chạy báo với dinh đồn gần đó và đặng phái binh đuổi bắt. Người ta phải phá hủy nhiều phòng ốc, làm rào khại nhiều lớp để bủa vây, nhưng gặp nhằm con cọp quá dữ dằn nên không ai dám xáp gần để đánh bắt nó.
Trải ba ngày như vậy, có một nhà sư trên đường du phương đạo hiệu Hồng Ân cùng đồ đệ là Trí Năng, đến tình nguyện đánh bắt mãnh hổ. Sư Hồng Ân cùng với cọp đấu chiến. Hồi lâu, cọp bị gậy đánh đau, phải chạy trốn vào lùm tre. Sư Hồng Ân rượt nà theo cọp. Cọp nột quá phải quày lại chống cự. Bấy giờ nhà sự bước trái, rủi trật chưn té rớt xuống mương, bị cọp phủ, gây thương tích nặng. Đồ đệ Trí Năng đến tiếp viện cho thầy. Dùng miếng độc bổ vào đầu cọp. Cọp chết ngay dưới gậy. Nhưng sư Hồng Ân đã bị trọng thương, nên ngay lúc đó cũng trút hơi thở cuối.
Người trong chợ cho sư Hồng Ân là bực nghĩa khí, nên đem chôn cất tại đó, có xây tháp tử tế.”2
Ngoài hai loài ác thú trên, các lưu dân còn phải chống chọi với heo rừng, các loại rắn… đủ thấy cha ông ta thời khẩn hoang phải chịu vất vả biết nhường nào.
Nhiều truyền thuyết anh hùng khai phá đất mới thường đi vào tín ngưỡng thờ phụng tiền hiền, hậu hiền nơi đình làng. Đó là một cơ chế tinh thần để củng cố sức mạnh cố kết của loại cộng đồng thôn ấp phương Nam (vốn có phần chưa kịp bện kết chặt chẽ). “Sức mạnh xã hội và sức mạnh thẩm mỹ của hiện tượng này quan trọng tới mức nhà nước phong kiến phải dùng cách sắc phong cho các vị đó là thành hoàng, với hy vọng cấy được uy tín của vương triều vào đời sống thôn ấp.”(3) Điều này góp phần tôn vinh các bậc tiền nhân trong quá trình khai phá, đã đặt những nhát rựa đầu tiên lên những lùm mây rậm, những vạt rừng thiêng của xứ này. Công cuộc chinh phục tập thể đối với một thiên nhiên dữ dội, nhất là đối với thú dữ, đã được găm lại trong ký ức thẩm mỹ dân gian dưới dạng các truyền thuyết về Đầu Sấu, Cái Răng, Ông Chưởng, Cù Lao Trâu, Vàm Bà Bầy… Truyền thuyết về Đầu Sấu, Cái Răng kể rằng: “Ngày xưa, ở Vàm sông Cần Thơ, nơi giáp giới giữa hai làng Thường Thạnh và Tân An, tương truyền rằng có một con sấu rất lớn và hung dữ. Khi sấu nổi lên nó to bằng chiếc xuồng ba lá, dài 5-6 thước, có hai hàng đèn sáng rực trên lưng. Nhiều người đi qua khúc sông này bằng xuồng, ghe đã bị con sấu nổi lên quật chìm và cắp đi mất xác.
Điều lạ là con sấu rất mê xem hát bội. Những lần đình làng tổ chức cúng lễ thượng điền, hạ điền có mời gánh hát bội về diễn, con sấu đều trườn lên bãi nằm xem. Đám đông đang xem hát trên sân đình hoảng loạn, bỏ chạy tứ phía. Nhưng thấy con sấu chẳng làm hại ai, chỉ nổi lên xem hát bội nên người ta quay lại, chẳng còn sợ hãi nữa. Ông xã trưởng còn sai người làng ném đồ cúng xuống cho sấu ăn. Dân làng quen dần với việc sấu xem hát bội cúng đình hàng năm.
Chung quanh sấu coi hát bội cũng có câu chuyện: Năm đó, trong làng có một người lực điền yêu và làm đám cưới với một cô thôn nữ ở làng bên. Đám rước dâu có hàng chục xuồng, ghe, có dàn nhạc lễ, trống kèn… vui như ngày hội. Khi đám rước đi ngang khúc sông nọ, bất thần con sấu nổi lên, nó quật đuôi thật mạnh làm chìm 3-4 chiếc xuồng, ghe. Những người đi trong đám rước ném bỏ lễ vật, cố chèo chống, bơi lội thoát thân. Khi đã lên được trên bờ, điểm mặt từng người lại thì thấy mất tích cô dâu. Chú rể đau đớn, vật vã…
Anh ta về rắp tâm giết cho bằng được con sấu, trả mối hận mất vợ. Anh gom góp hết vốn liếng, gia sản đi mời cho bằng được 3 gánh hát bội nổi tiếng trong vùng và vận động trai tráng ở các làng hợp sức với anh.
Đêm đó, gánh hát bội đầu tiên dựng rạp hát phía trong vàm rạch từ rất sớm. Con sấu nghe tiếng trống, tiếng đàn, nổi lên bơi vào xem. Khi gánh hát đầu tiên hạ màn, thì cách đó không xa, đi sâu vào con rạch, gánh hát bội thứ hai bắt đầu khai diễn. Trong khi đó, hàng trăm trai làng lặng lẽ, thay phiên nhau đốn gỗ, xóc trụ, đào đất đắp một con đập to ngoài đầu vàm. Khi con sấu xem xong gánh hát bội thứ ba ở sâu trong ngọn rạch thì trời cũng vừa ửng sáng, nước đang ròng chỉ còn khoảng một phần ba sông, con đập cũng vừa hoàn thành.
Con sấu uể oải bơi ra sông cái sau một đêm trắng xem hát. Nhưng không còn kịp nữa, nó bị chặn lại bằng con đập khi ra đến đầu vàm. Từ trên bờ, hàng ngàn mũi lao bằng gốc tầm vông già vạt nhọn, những mũi chĩa đinh ba… nhắm ngay con sấu phóng tới. Tiếng hò hét vang động… Chàng lực điền giành phần phanh da, xả thịt con sấu.
Mặc dù có chung cội nguồn với văn hóa truyền thống, nhưng văn hóa Nam Bộ lại chịu sự quy định của điều kiện môi trường địa lý nên văn hóa ở đây vẫn có những nét khu biệt cao so với văn hóa cội nguồn. Cơ chế làng ở Nam Bộ là cơ chế mở chứ không khép kín nên những khó khăn vất vả hiểm nguy về con người thời khai hoang mở cõi, vật lộn với muỗi mòng, rắn rít, đấu tranh với thiên nhiên, với thú dữ… đã được thể hiện bằng các truyền thuyết anh hùng.

Vùng đất Thất Sơn (An Giang) luôn ẩn chứa những huyền thoại, đặc biệt là dấu ấn của những vị đạo sĩ, bậc chơn tu. Câu chuyện lưu truyền về vị đạo sĩ nuôi sấu thần Năm Chân (Năm Chèo) luôn cuốn hút khách thập phương. Chúng tôi làm một chuyến hành trình về Bảy Núi tìm sự thật, nơi bắt nguồn của những huyền thoại “ông Năm Chèo” và “bảo bối” được dòng họ lưu giữ.
Câu chuyện về “ông Năm Chèo” được truyền miệng khắp vùng với nhiều tình tiết ly kỳ. Để hiểu rõ thực hư, chúng tôi tìm gặp hậu duệ của người nuôi con sấu lạ năm xưa. Đó là bà Hồ Thị Cưng, cháu ngoại đời thứ tư của ông Đình Tây (đạo sĩ Bùi Văn Tây, đệ tử thứ ba của Đức Phật Thầy). Bà Cưng đang trông coi nơi thờ tự ông Đình cũng như năm bảo bối mà Đức Phật Thầy giao cho bắt sấu Năm Chèo.
Dựa theo những câu chuyện lưu truyền trong gia tộc, bà Cưng kể rằng, vâng lời Đức Phật Thầy, ông Đình Tây chuẩn bị chuyến đi hành thiện. Khi ông tới vùng láng (Láng Linh), biết được trong căn chòi lụp xụp kia có một phụ nữ chuyển bụng sắp sinh con, gia cảnh đáng thương. Người chồng hàng ngày lặn lội bắt cua, rùa, rắn đổi gạo, thường khi anh về sớm nhưng hôm đó anh không về kịp. Ông Đình Tây xông xáo cùng mọi người làm vách che, lợp lại mái dột ngăn mưa gió. Người phụ nữ sắp sinh nhưng chiếc giường mới kê được ba chân, ông không ngại kề vai làm chân giường giúp bà mụ đỡ đẻ nhanh chóng. Mọi việc xong xuôi thì anh Xinh, chồng người phụ nữ về tới, rất cảm kích về sự giúp đỡ của mọi người. Anh khoe với ông Đình Tây hai giỏ cá vừa bắt được để lo cho vợ vượt cạn, rồi móc từ túi bên hông ra một con vật nhỏ. Đó là con sấu rất kỳ lạ, da nó trơn bóng chứ không sần sùi, chót mũi có màu đỏ rực, đặc biệt con sấu có thêm bàn chân mọc ra từ chân bình thường (móng đeo). Ông Đình thấy hình dạng con sấu kỳ lạ nên thích thú, anh Xinh liền tặng con sấu này. Ông về trình với Đức Phật Thầy những việc hành thiện và cho ngài xem con sấu lạ. Vừa nhìn thấy, ngài thở dài và bảo ông Đình không nên nuôi con ngặc ngư này, nó là loài nghiệt thú sẽ làm điều hại bá tánh. Nhưng ông Đình thương xót không nỡ, sau đó lui về đình Thới Sơn, lén nuôi sấu nhỏ ở góc hồ sen trước sân đình. Thấy sấu lớn nhanh, ông lấy dây cột chân nó lại. Càng lớn con sấu càng có tính khí hung bạo, ông liền thay bằng sợi dây xích bằng sắt để nó không thoát được.
Một đêm trời đổ mưa to, gió quất mạnh, cây cối ngả nghiêng, sấm chớp liên hồi. Rạng sáng ông Đình giật mình phát hiện: con sấu bỏ đi! Ông lội xung quanh nhưng không tìm thấy, trở lại kiểm tra sợi xích, thấy vẫn còn nguyên. Ông lần theo sợi dây xuống hồ, bất ngờ nhìn thấy một bàn chân sấu bỏ lại cùng với sợi xích. Nó cắn bỏ một bàn chân để thoát thân. Ông Đình lập tức bẩm báo Đức Phật Thầy. Ngài điềm nhiên như tiên đoán trước điều gì, không quở trách mà còn trao cho ông Đình năm món bảo bối gồm hai cây lao, một cây mun cổ phụng, một lưỡi câu và một đường dây băng. Đồng thời, ông Đình còn được truyền “khẩu quyết biệt truyền” để thu phục ngặc ngư.
Rồi một ngày tin dữ lan truyền, con sấu mũi đỏ khổng lồ xuất hiện nơi anh Xinh đã bắt nó khi xưa. Nó to như một chiếc ghe lớn, nổi lên tạo những cơn sóng lớn nhấn chìm xuồng ghe của những người xuôi ngược trên sông. Có lúc nó lên bờ bắt heo, gà nuôi trong chuồng của dân, lúc sát hại người, gây biết bao nỗi kinh hoàng. Ông Đình vội vã gặp Đức Phật Thầy xin thu phục con nghiệt thú, nhưng khi ông đến nơi là sấu lặn mất. Cứ thế nhiều lần, hễ ông về thì sấu lại nổi lên quấy phá làm kinh hồn dân làng. Có người thấy sấu nổi lên liền gọi thất thanh tên ông Đình thì sấu tháo chạy. Một lần, ông Đình quyết tâm ở lại chờ bắt sấu cho bằng được nhưng ngày qua vẫn không thấy sấu xuất hiện. Ông đứng giữa vùng láng kêu lớn: “Hỡi loài ngặc ngư, nếu thiên cơ được định, ngươi nên nằm yên sám hối tu hành, còn nếu số ngươi đã tận thì mau nổi lên theo ta về”.
Ông Đình chờ đến ba ngày vẫn không thấy bóng dáng con sấu đâu, nhưng mãi từ đó về sau, không nghe ai kể sấu nổi lên quấy phá dân làng nữa. 58 năm sau, đến ngày ông Đình viên tịch (1914), năm món bảo bối vẫn chưa được sử dụng. Đến nay, trải qua 96 lần lễ giỗ ông Đình, những bảo bối ấy vẫn còn cất giữ.
Bà Cưng cho chúng tôi xem năm bảo bối được Đức Phật Thầy giao cho ông Đình năm xưa, được lộng vào khung kiếng, thờ cúng trang nghiêm. Bà Cưng kể thêm, bảo bối này dòng họ cất giữ cẩn thận qua mấy cuộc chiến tranh, tất cả còn khá nguyên vẹn, riêng sợi dây băng (xe bằng tơ), ngày trước ông nội bà lấy sợi dây này ra kéo quanh nhà, sau đó chạy giặc, trở về thấy nhà cửa cháy rụi, riêng sợi dây chỉ ám khói chứ không cháy. Có người kể rằng, khi Đức Cố Quản Trần Văn Thành bại trận tại vùng Bảy Thưa, nhằm mùa nước nổi, quân Pháp bao vây bắn phá, trước mặt lau sậy dày đặc ghe chống đi không được. Lúc ấy, sấu khổng lồ bỗng nhiên lao tới, rẽ đường rạp sậy cho quân lính chống xuồng thoát thân.
Tại đình Thới Sơn, ông Lê Văn Nhưng, phó ban quản lý đình, khẳng định với chúng tôi ông Đình Tây từng ở đình này, tên thật là Bùi Văn Tây, quê ở Năng Gù (nay là xã Bình Mỹ, huyện Châu Phú, An Giang). Ông được giao quản lý đình nên dân quen gọi là Đình Tây. Ông Nhưng dẫn chúng tôi ra xem hồ sen, nơi trước đây ông Đình Tây đã thả nuôi “sấu thần”. Hồ khá rộng, nay đã được xây bờ kè kiên cố, xung quanh cây cối mát mẻ.
Hơn 100 năm qua nhưng dân gian vẫn truyền nhau những câu chuyện thực hư về “ông Năm Chèo”. Họ cho rằng, “sấu thần” đang ẩn mình trên sông Vàm Nao (nối liền sông Tiền và sông Hậu, dài khoảng 7 km). Sông này có nhiều vực sâu, búng lớn, nước xoáy mạnh. Nơi đây được xem là ngư trường khai thác thủy sản quan trọng, là nơi thường xuyên xuất hiện các loài cá khổng lồ.
Có lẽ không có gì lạ khi những huyền thoại như thu phục mãnh hổ và nuôi cá sấu năm chèo vẫn còn sống động ở vùng sông nước Cửu Long, nơi vùng đất mới hoang sơ mà những con người đặt chân khai phá và sinh sống ở đây luôn mang ước vọng phải chinh phục muôn loài để khẳng định cái vị thế làm chủ đất trời của mình.
văn hóa

Truyền Thuyết “Ông Năm Chèo” ở Miền Tây

Tùng Phạm  |  at  00:46

Vùng đất Thất Sơn (An Giang) luôn ẩn chứa những huyền thoại, đặc biệt là dấu ấn của những vị đạo sĩ, bậc chơn tu. Câu chuyện lưu truyền về vị đạo sĩ nuôi sấu thần Năm Chân (Năm Chèo) luôn cuốn hút khách thập phương. Chúng tôi làm một chuyến hành trình về Bảy Núi tìm sự thật, nơi bắt nguồn của những huyền thoại “ông Năm Chèo” và “bảo bối” được dòng họ lưu giữ.
Câu chuyện về “ông Năm Chèo” được truyền miệng khắp vùng với nhiều tình tiết ly kỳ. Để hiểu rõ thực hư, chúng tôi tìm gặp hậu duệ của người nuôi con sấu lạ năm xưa. Đó là bà Hồ Thị Cưng, cháu ngoại đời thứ tư của ông Đình Tây (đạo sĩ Bùi Văn Tây, đệ tử thứ ba của Đức Phật Thầy). Bà Cưng đang trông coi nơi thờ tự ông Đình cũng như năm bảo bối mà Đức Phật Thầy giao cho bắt sấu Năm Chèo.
Dựa theo những câu chuyện lưu truyền trong gia tộc, bà Cưng kể rằng, vâng lời Đức Phật Thầy, ông Đình Tây chuẩn bị chuyến đi hành thiện. Khi ông tới vùng láng (Láng Linh), biết được trong căn chòi lụp xụp kia có một phụ nữ chuyển bụng sắp sinh con, gia cảnh đáng thương. Người chồng hàng ngày lặn lội bắt cua, rùa, rắn đổi gạo, thường khi anh về sớm nhưng hôm đó anh không về kịp. Ông Đình Tây xông xáo cùng mọi người làm vách che, lợp lại mái dột ngăn mưa gió. Người phụ nữ sắp sinh nhưng chiếc giường mới kê được ba chân, ông không ngại kề vai làm chân giường giúp bà mụ đỡ đẻ nhanh chóng. Mọi việc xong xuôi thì anh Xinh, chồng người phụ nữ về tới, rất cảm kích về sự giúp đỡ của mọi người. Anh khoe với ông Đình Tây hai giỏ cá vừa bắt được để lo cho vợ vượt cạn, rồi móc từ túi bên hông ra một con vật nhỏ. Đó là con sấu rất kỳ lạ, da nó trơn bóng chứ không sần sùi, chót mũi có màu đỏ rực, đặc biệt con sấu có thêm bàn chân mọc ra từ chân bình thường (móng đeo). Ông Đình thấy hình dạng con sấu kỳ lạ nên thích thú, anh Xinh liền tặng con sấu này. Ông về trình với Đức Phật Thầy những việc hành thiện và cho ngài xem con sấu lạ. Vừa nhìn thấy, ngài thở dài và bảo ông Đình không nên nuôi con ngặc ngư này, nó là loài nghiệt thú sẽ làm điều hại bá tánh. Nhưng ông Đình thương xót không nỡ, sau đó lui về đình Thới Sơn, lén nuôi sấu nhỏ ở góc hồ sen trước sân đình. Thấy sấu lớn nhanh, ông lấy dây cột chân nó lại. Càng lớn con sấu càng có tính khí hung bạo, ông liền thay bằng sợi dây xích bằng sắt để nó không thoát được.
Một đêm trời đổ mưa to, gió quất mạnh, cây cối ngả nghiêng, sấm chớp liên hồi. Rạng sáng ông Đình giật mình phát hiện: con sấu bỏ đi! Ông lội xung quanh nhưng không tìm thấy, trở lại kiểm tra sợi xích, thấy vẫn còn nguyên. Ông lần theo sợi dây xuống hồ, bất ngờ nhìn thấy một bàn chân sấu bỏ lại cùng với sợi xích. Nó cắn bỏ một bàn chân để thoát thân. Ông Đình lập tức bẩm báo Đức Phật Thầy. Ngài điềm nhiên như tiên đoán trước điều gì, không quở trách mà còn trao cho ông Đình năm món bảo bối gồm hai cây lao, một cây mun cổ phụng, một lưỡi câu và một đường dây băng. Đồng thời, ông Đình còn được truyền “khẩu quyết biệt truyền” để thu phục ngặc ngư.
Rồi một ngày tin dữ lan truyền, con sấu mũi đỏ khổng lồ xuất hiện nơi anh Xinh đã bắt nó khi xưa. Nó to như một chiếc ghe lớn, nổi lên tạo những cơn sóng lớn nhấn chìm xuồng ghe của những người xuôi ngược trên sông. Có lúc nó lên bờ bắt heo, gà nuôi trong chuồng của dân, lúc sát hại người, gây biết bao nỗi kinh hoàng. Ông Đình vội vã gặp Đức Phật Thầy xin thu phục con nghiệt thú, nhưng khi ông đến nơi là sấu lặn mất. Cứ thế nhiều lần, hễ ông về thì sấu lại nổi lên quấy phá làm kinh hồn dân làng. Có người thấy sấu nổi lên liền gọi thất thanh tên ông Đình thì sấu tháo chạy. Một lần, ông Đình quyết tâm ở lại chờ bắt sấu cho bằng được nhưng ngày qua vẫn không thấy sấu xuất hiện. Ông đứng giữa vùng láng kêu lớn: “Hỡi loài ngặc ngư, nếu thiên cơ được định, ngươi nên nằm yên sám hối tu hành, còn nếu số ngươi đã tận thì mau nổi lên theo ta về”.
Ông Đình chờ đến ba ngày vẫn không thấy bóng dáng con sấu đâu, nhưng mãi từ đó về sau, không nghe ai kể sấu nổi lên quấy phá dân làng nữa. 58 năm sau, đến ngày ông Đình viên tịch (1914), năm món bảo bối vẫn chưa được sử dụng. Đến nay, trải qua 96 lần lễ giỗ ông Đình, những bảo bối ấy vẫn còn cất giữ.
Bà Cưng cho chúng tôi xem năm bảo bối được Đức Phật Thầy giao cho ông Đình năm xưa, được lộng vào khung kiếng, thờ cúng trang nghiêm. Bà Cưng kể thêm, bảo bối này dòng họ cất giữ cẩn thận qua mấy cuộc chiến tranh, tất cả còn khá nguyên vẹn, riêng sợi dây băng (xe bằng tơ), ngày trước ông nội bà lấy sợi dây này ra kéo quanh nhà, sau đó chạy giặc, trở về thấy nhà cửa cháy rụi, riêng sợi dây chỉ ám khói chứ không cháy. Có người kể rằng, khi Đức Cố Quản Trần Văn Thành bại trận tại vùng Bảy Thưa, nhằm mùa nước nổi, quân Pháp bao vây bắn phá, trước mặt lau sậy dày đặc ghe chống đi không được. Lúc ấy, sấu khổng lồ bỗng nhiên lao tới, rẽ đường rạp sậy cho quân lính chống xuồng thoát thân.
Tại đình Thới Sơn, ông Lê Văn Nhưng, phó ban quản lý đình, khẳng định với chúng tôi ông Đình Tây từng ở đình này, tên thật là Bùi Văn Tây, quê ở Năng Gù (nay là xã Bình Mỹ, huyện Châu Phú, An Giang). Ông được giao quản lý đình nên dân quen gọi là Đình Tây. Ông Nhưng dẫn chúng tôi ra xem hồ sen, nơi trước đây ông Đình Tây đã thả nuôi “sấu thần”. Hồ khá rộng, nay đã được xây bờ kè kiên cố, xung quanh cây cối mát mẻ.
Hơn 100 năm qua nhưng dân gian vẫn truyền nhau những câu chuyện thực hư về “ông Năm Chèo”. Họ cho rằng, “sấu thần” đang ẩn mình trên sông Vàm Nao (nối liền sông Tiền và sông Hậu, dài khoảng 7 km). Sông này có nhiều vực sâu, búng lớn, nước xoáy mạnh. Nơi đây được xem là ngư trường khai thác thủy sản quan trọng, là nơi thường xuyên xuất hiện các loài cá khổng lồ.
Có lẽ không có gì lạ khi những huyền thoại như thu phục mãnh hổ và nuôi cá sấu năm chèo vẫn còn sống động ở vùng sông nước Cửu Long, nơi vùng đất mới hoang sơ mà những con người đặt chân khai phá và sinh sống ở đây luôn mang ước vọng phải chinh phục muôn loài để khẳng định cái vị thế làm chủ đất trời của mình.

Bài Viết Cùng Chủ Đề

© 2015 Hai Lúa Miền Tây | Design by Tùng Phạm
| Design by Tùng Phạm.