Bài Viết Mới

Hiển thị các bài đăng có nhãn tịnh biên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tịnh biên. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

Đồng bào Khmer An Giang nói riêng, Nam Bộ nói chung, theo Phật giáo Nam Tông. Người Khmer An Giang tụ sinh ở vùng đất này từ rất lâu đời
Hiện nay, toàn tỉnh An Giang có khoảng 65 ngôi chùa Khmer, nhiều nhất ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn (60 chùa). Hầu hết các chùa lâu đời, giá trị kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc cao.
Do ảnh hưởng của ba dòng văn hóa, tín ngưỡng (văn hóa dân gian, Bà la môn giáo, Phật giáo) nên kiến trúc nghệ thuật chùa Khmer ở An Giang nói riêng, Nam Bộ nói chung là những công trình kiến trúc độc đáo. Có thể thấy, ngôi chùa là nơi tập trung các thể thức nghệ thuật tạo hình, hài hòa giữa kiến trúc và điêu khắc từ hình thức trang trí bên trong đến bày biện bên ngoài. Nhiều ngôi chùa Khmer ở An Giang được trùng tu, xây dựng lại nhiều lần nhưng vẫn giữ được kiến trúc cổ.
Phần lớn các cổng chùa được xây dựng theo hình thức ngọn tháp. Tùy theo giai đoạn, nhu cầu của phật tử, có chùa xây một, ba hoặc năm ngọn. Hai bên cổng thường có hai vị thần bảo hộ, tượng sư tử, hoặc đầu thần rắn Naga uốn lượn trên tường rào, đầu ngẩng lên trời với ý nghĩa nhằm bảo vệ những báu vật bên trong chùa. Cổng chùa có ba ngôi tháp tượng trưng cho Phật, Pháp, Tăng (Tam Bảo), tháp giữa thường cách điệu rất chi tiết, màu sắc sặc sỡ, tượng trưng cho đức Phật. Cổng chùa xây dựng theo quy cách năm ngôi tháp hình búp sen, phần dưới cách trang trí gần giống như nhau, nhưng phía trên năm ngôi tháp thì có một ngôi cao nhất, nhiều họa tiết hoa văn – năm ngọn tháp minh họa cho năm vị Phật, đỉnh cao nhất là cõi Niết Bàn.
Một số cổng, tường chùa được sơn son, thếp vàng lộng lẫy, mỗi một trụ tường, vách tường rào được khắc họa hình sư tử, tượng Phật, búp sen… Dọc theo sóng trên tường rào chạm khắc hình thần rắn Naga uốn lượn (đầu rắn nằm ở cổng chùa) rất uy nghi, tiềm ẩn một triết lý tinh túy, đó là sự hài hòa giữa thiên nhiên với con người, nhập thân giữa đời và đạo, kết chặt giữa thế giới này và thế giới khác.
Chánh điện và cổng chùa người Khmer An Giang luôn quay mặt về phía Đông, do ảnh hưởng quan niệm Phật pháp – Phật minh ngự ở phía Tây, nhìn về phía Đông để ban phúc cho chúng sinh. Đa số chùa được xây dựng theo một hình thức, quy cách nhất định: chánh điện xây dàn dọc theo hướng Đông – Tây tạo thành một chính thể trung tâm của ngôi chùa. Chiều dài ngôi chùa gấp hai lần khoảng rộng, chiều cao tương ứng với chiều dài. Ngôi chính điện có bốn cửa chính theo hai hướng Đông – Tây, với bảy – chín cửa sổ theo hai hướng Nam – Bắc, xung quanh tứ phương là một dãy hành lang rộng, thoáng.
Kết cấu chính điện ở chùa thường sử dụng bằng các loại gỗ quý và gạch ngói, đá tảng nhỏ. Hai hàng cột cái to, cao hai bên làm bệ đỡ giữa hai thân, góc. Tất cả sức nặng của ngôi chùa dồn về hàng cột và áp vào các đầu cột được đặt trên xà ngang nối giữa hai đầu cột cái, tạo thành bộ mái ở giữa chánh điện. Từ các cột cái, kèo và xà vách nối liền với tường xây bao quanh tạo lớp mái thứ hai và thứ ba thông ra hiên, hình thành thêm một chái che bên dãy hành lang. Nhìn từ bên ngoài vào, chính điện chùa Khmer là một bộ kiến trúc với ba lớp mái, dưới các góc mái được chạm lọng thần hình rắn Naga uốn lượn quấn quanh, hoặc hình nữ thần.
Chủ đề trang trí bên trong nội điện hay Sala ở các chùa Khmer An Giang vô cùng tinh xảo, mang đậm ảnh hưởng triết lý Phật giáo, Bà la môn giáo, tín ngưỡng dân gian. Những hình ảnh chạm, khắc, tiểu tiết hoa văn thường là những nội dung kể về cuộc đời tu đạo của Đức Phật, theo trình tự: cảnh đản sanh của Đức Phật ở thành Katỳlavệ, cảnh Đức Phật trong rừng Lâmtỳni dưới cây Sala, cảnh Đức Phật phát đạo dưới cội Bồ đề ở sông Nil, cảnh Phật nhập Niết Bàn; họa tiết hoa, lá, mây, nước… ca ngợi đời sống lao động sản xuất của cộng đồng người Khmer thời cổ xưa.
Chùa Khmer ở An Giang là nơi sinh hoạt văn hóa, lễ hội, tôn giáo. Người Khmer có câu “Sống vào chùa gửi thân, chết vào chùa gửi cốt”, hình ảnh ngôi chùa, sư sãi gắn bó sâu sắc đến cuộc sống hàng ngày của bà con.
Người Khmer An Giang có rất nhiều lễ hội trong năm: Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây, lễ Phật đản, lễ An cư Kiết hạ, lễ Chấm dứt mùa An cư Kiết hạ, lễ Ok-Om -Bok, lễ Rằm tháng Giêng âm lịch, lễ Dâng y. Mỗi lễ hội có những ý nghĩa khác nhau, nhiều nghi thức độc đáo diễn ra, và luôn lấy chùa làm trung tâm tổ chức nghi thức lễ hội. Đến ngày lễ hội, bà con Khmer quần tụ về chùa tụng Kinh niệm Phật và nghe giảng kinh, tổ chức vui chơi múa hát và trình diễn các loại hình nghệ thuật truyền thống chào mừng lễ hội. Gần đây, nhiều lễ hội của bà con Khmer An Giang, điển hình như lễ Ok-Om -Bok và hội Đua bò đã được nâng lên cấp khu vực, tạo không khí buổi lễ thêm phần náo nhiệt.
Ngoài lễ, Tết thường niên, hàng ngày người Khmer An Giang cũng đến chùa bái Phật, dâng cơm cho sư sãi; đám cưới, gả trong gia đình đến chùa mời sư sãi, à cha đến chứng giám… Người Khmer khi chết không địa táng như các dân tộc khác mà họ đem vào chùa hỏa táng. Sau đó lấy cốt gửi vào chùa phụng thờ, ngụ ý để vong hồn người chết sớm hôm nghe kinh Phật, kề cận bên ánh hào quang của Phật sớm được siêu thoát về cõi Niết Bàn.
Ngoài chức năng sinh hoạt văn hóa, chùa còn có chức năng giáo dục. Người Khmer có tập tục con trai lớn lên phải vào chùa tu. Thứ nhất để báo hiếu cho cha, mẹ, thứ hai là học kinh Phật, hiểu biết về những điều tốt, xấu nhằm trở thành người có ích. Sau thời gian tu học, hoàn tục về lại đời thường người con trai mang theo sự hiểu biết đã học nơi chùa mà phụ giúp gia đình, đền ơn công dưỡng dục của cha mẹ, phục vụ xã hội. Vì vậy từ lâu chùa đảm đương vai trò là ngôi trường dạy nhân cách, tri thức, đạo đức cho thanh, thiếu niên đáp ứng nhu cầu đời sống xã hội và phong tục. Gần đây, chùa còn dạy kiến thức phổ thông, dạy chữ Việt – Khmer, dạy nhạc ngũ âm lưu giữ loại hình văn hóa – nghệ thuật truyền thống của dân tộc.
Vai trò của chùa đối với người Khmer rất quan trọng, bao hàm nhiều góc độ từ văn hóa truyền thống, tín ngưỡng tôn giáo, giáo dục, giá trị nghệ thuật… 65 ngôi chùa Khmer ở An Giang có thể trở thành điểm tham quan của khách du lịch trong và ngoài nước. Trong tương lai nếu được xây dựng, trùng tu – những chùa Khmer ở Tịnh Biên, Tri Tôn sẽ trở thành một hệ thống quần thể kiến trúc đẹp, lộng lẫy thu hút khách tham quan tìm hiểu văn hóa, lịch sử ở các chùa. Ngành du lịch nên xây dựng một đội ngũ thuyết minh viên du lịch am hiểu chiều sâu về văn hóa lịch sử Khmer, kết hợp với du lịch làng nghề, du lịch vùng Thất Sơn, tạo động lực khai thác hết tiềm năng du lịch của địa phương, thu hút du khách trong và ngoài tỉnh.
văn hóa

Phật Giáo Nam Tông Trong Đời Sống Người Khmer An Giang

Tùng Phạm  |  at  22:25

Đồng bào Khmer An Giang nói riêng, Nam Bộ nói chung, theo Phật giáo Nam Tông. Người Khmer An Giang tụ sinh ở vùng đất này từ rất lâu đời
Hiện nay, toàn tỉnh An Giang có khoảng 65 ngôi chùa Khmer, nhiều nhất ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn (60 chùa). Hầu hết các chùa lâu đời, giá trị kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc cao.
Do ảnh hưởng của ba dòng văn hóa, tín ngưỡng (văn hóa dân gian, Bà la môn giáo, Phật giáo) nên kiến trúc nghệ thuật chùa Khmer ở An Giang nói riêng, Nam Bộ nói chung là những công trình kiến trúc độc đáo. Có thể thấy, ngôi chùa là nơi tập trung các thể thức nghệ thuật tạo hình, hài hòa giữa kiến trúc và điêu khắc từ hình thức trang trí bên trong đến bày biện bên ngoài. Nhiều ngôi chùa Khmer ở An Giang được trùng tu, xây dựng lại nhiều lần nhưng vẫn giữ được kiến trúc cổ.
Phần lớn các cổng chùa được xây dựng theo hình thức ngọn tháp. Tùy theo giai đoạn, nhu cầu của phật tử, có chùa xây một, ba hoặc năm ngọn. Hai bên cổng thường có hai vị thần bảo hộ, tượng sư tử, hoặc đầu thần rắn Naga uốn lượn trên tường rào, đầu ngẩng lên trời với ý nghĩa nhằm bảo vệ những báu vật bên trong chùa. Cổng chùa có ba ngôi tháp tượng trưng cho Phật, Pháp, Tăng (Tam Bảo), tháp giữa thường cách điệu rất chi tiết, màu sắc sặc sỡ, tượng trưng cho đức Phật. Cổng chùa xây dựng theo quy cách năm ngôi tháp hình búp sen, phần dưới cách trang trí gần giống như nhau, nhưng phía trên năm ngôi tháp thì có một ngôi cao nhất, nhiều họa tiết hoa văn – năm ngọn tháp minh họa cho năm vị Phật, đỉnh cao nhất là cõi Niết Bàn.
Một số cổng, tường chùa được sơn son, thếp vàng lộng lẫy, mỗi một trụ tường, vách tường rào được khắc họa hình sư tử, tượng Phật, búp sen… Dọc theo sóng trên tường rào chạm khắc hình thần rắn Naga uốn lượn (đầu rắn nằm ở cổng chùa) rất uy nghi, tiềm ẩn một triết lý tinh túy, đó là sự hài hòa giữa thiên nhiên với con người, nhập thân giữa đời và đạo, kết chặt giữa thế giới này và thế giới khác.
Chánh điện và cổng chùa người Khmer An Giang luôn quay mặt về phía Đông, do ảnh hưởng quan niệm Phật pháp – Phật minh ngự ở phía Tây, nhìn về phía Đông để ban phúc cho chúng sinh. Đa số chùa được xây dựng theo một hình thức, quy cách nhất định: chánh điện xây dàn dọc theo hướng Đông – Tây tạo thành một chính thể trung tâm của ngôi chùa. Chiều dài ngôi chùa gấp hai lần khoảng rộng, chiều cao tương ứng với chiều dài. Ngôi chính điện có bốn cửa chính theo hai hướng Đông – Tây, với bảy – chín cửa sổ theo hai hướng Nam – Bắc, xung quanh tứ phương là một dãy hành lang rộng, thoáng.
Kết cấu chính điện ở chùa thường sử dụng bằng các loại gỗ quý và gạch ngói, đá tảng nhỏ. Hai hàng cột cái to, cao hai bên làm bệ đỡ giữa hai thân, góc. Tất cả sức nặng của ngôi chùa dồn về hàng cột và áp vào các đầu cột được đặt trên xà ngang nối giữa hai đầu cột cái, tạo thành bộ mái ở giữa chánh điện. Từ các cột cái, kèo và xà vách nối liền với tường xây bao quanh tạo lớp mái thứ hai và thứ ba thông ra hiên, hình thành thêm một chái che bên dãy hành lang. Nhìn từ bên ngoài vào, chính điện chùa Khmer là một bộ kiến trúc với ba lớp mái, dưới các góc mái được chạm lọng thần hình rắn Naga uốn lượn quấn quanh, hoặc hình nữ thần.
Chủ đề trang trí bên trong nội điện hay Sala ở các chùa Khmer An Giang vô cùng tinh xảo, mang đậm ảnh hưởng triết lý Phật giáo, Bà la môn giáo, tín ngưỡng dân gian. Những hình ảnh chạm, khắc, tiểu tiết hoa văn thường là những nội dung kể về cuộc đời tu đạo của Đức Phật, theo trình tự: cảnh đản sanh của Đức Phật ở thành Katỳlavệ, cảnh Đức Phật trong rừng Lâmtỳni dưới cây Sala, cảnh Đức Phật phát đạo dưới cội Bồ đề ở sông Nil, cảnh Phật nhập Niết Bàn; họa tiết hoa, lá, mây, nước… ca ngợi đời sống lao động sản xuất của cộng đồng người Khmer thời cổ xưa.
Chùa Khmer ở An Giang là nơi sinh hoạt văn hóa, lễ hội, tôn giáo. Người Khmer có câu “Sống vào chùa gửi thân, chết vào chùa gửi cốt”, hình ảnh ngôi chùa, sư sãi gắn bó sâu sắc đến cuộc sống hàng ngày của bà con.
Người Khmer An Giang có rất nhiều lễ hội trong năm: Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây, lễ Phật đản, lễ An cư Kiết hạ, lễ Chấm dứt mùa An cư Kiết hạ, lễ Ok-Om -Bok, lễ Rằm tháng Giêng âm lịch, lễ Dâng y. Mỗi lễ hội có những ý nghĩa khác nhau, nhiều nghi thức độc đáo diễn ra, và luôn lấy chùa làm trung tâm tổ chức nghi thức lễ hội. Đến ngày lễ hội, bà con Khmer quần tụ về chùa tụng Kinh niệm Phật và nghe giảng kinh, tổ chức vui chơi múa hát và trình diễn các loại hình nghệ thuật truyền thống chào mừng lễ hội. Gần đây, nhiều lễ hội của bà con Khmer An Giang, điển hình như lễ Ok-Om -Bok và hội Đua bò đã được nâng lên cấp khu vực, tạo không khí buổi lễ thêm phần náo nhiệt.
Ngoài lễ, Tết thường niên, hàng ngày người Khmer An Giang cũng đến chùa bái Phật, dâng cơm cho sư sãi; đám cưới, gả trong gia đình đến chùa mời sư sãi, à cha đến chứng giám… Người Khmer khi chết không địa táng như các dân tộc khác mà họ đem vào chùa hỏa táng. Sau đó lấy cốt gửi vào chùa phụng thờ, ngụ ý để vong hồn người chết sớm hôm nghe kinh Phật, kề cận bên ánh hào quang của Phật sớm được siêu thoát về cõi Niết Bàn.
Ngoài chức năng sinh hoạt văn hóa, chùa còn có chức năng giáo dục. Người Khmer có tập tục con trai lớn lên phải vào chùa tu. Thứ nhất để báo hiếu cho cha, mẹ, thứ hai là học kinh Phật, hiểu biết về những điều tốt, xấu nhằm trở thành người có ích. Sau thời gian tu học, hoàn tục về lại đời thường người con trai mang theo sự hiểu biết đã học nơi chùa mà phụ giúp gia đình, đền ơn công dưỡng dục của cha mẹ, phục vụ xã hội. Vì vậy từ lâu chùa đảm đương vai trò là ngôi trường dạy nhân cách, tri thức, đạo đức cho thanh, thiếu niên đáp ứng nhu cầu đời sống xã hội và phong tục. Gần đây, chùa còn dạy kiến thức phổ thông, dạy chữ Việt – Khmer, dạy nhạc ngũ âm lưu giữ loại hình văn hóa – nghệ thuật truyền thống của dân tộc.
Vai trò của chùa đối với người Khmer rất quan trọng, bao hàm nhiều góc độ từ văn hóa truyền thống, tín ngưỡng tôn giáo, giáo dục, giá trị nghệ thuật… 65 ngôi chùa Khmer ở An Giang có thể trở thành điểm tham quan của khách du lịch trong và ngoài nước. Trong tương lai nếu được xây dựng, trùng tu – những chùa Khmer ở Tịnh Biên, Tri Tôn sẽ trở thành một hệ thống quần thể kiến trúc đẹp, lộng lẫy thu hút khách tham quan tìm hiểu văn hóa, lịch sử ở các chùa. Ngành du lịch nên xây dựng một đội ngũ thuyết minh viên du lịch am hiểu chiều sâu về văn hóa lịch sử Khmer, kết hợp với du lịch làng nghề, du lịch vùng Thất Sơn, tạo động lực khai thác hết tiềm năng du lịch của địa phương, thu hút du khách trong và ngoài tỉnh.

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Nhắc đến loài rắn hổ mây khổng lồ, không ít người cho rằng đó là chuyện tào lao của cư dân vùng đất bác Ba Phi. Tôi cũng tin như vậy.
Tuy nhiên, gặp gỡ hàng trăm người, ở nhiều tỉnh thành khác nhau, tôi đều được nghe những câu chuyện rất thật, rất giống nhau. Họ mô tả hình dạng, màu sắc, cách di chuyển, tính nết của loài rắn này trùng khớp một cách khó tin.
Một đạo sĩ kỳ lạ, đáng tôn kính, đã sống 100 năm trên cõi đời, trên quả núi Cấm linh thiêng nhất vùng Cửu Long như đạo sĩ Ba Lưới, thì không có lý do gì để bịa tạc những câu chuyện mua vui. Cả đời ông sống ẩn cư trong rừng, thì ông còn màng gì thế sự, còn ham hố gì việc kể chuyện tào lao cho nổi tiếng.
Tôi hỏi đạo sĩ Ba Lưới: “Thưa ông. Con từ Hà Nội vào đây, mang theo một câu hỏi mà bao năm nay con nghi ngờ mãi, đó là có rắn hổ mây khổng lồ hay không?”.
Đạo sĩ Ba Lưới tỏ ra bực dọc vì câu hỏi đó của tôi. Ông đã định không tiếp tôi nữa. “Tui lấy danh dự của người sắp xuống lỗ để khẳng định với anh rằng, rắn hổ mây khổng lồ là loài có thiệt, chứ không phải chuyện tào lao. Già như tui có giống kẻ bịa chuyện hay không?” – đạo sĩ Ba Lưới nói như vậy.
Theo đạo sĩ Ba Lưới, vùng Thất Sơn huyền bí không chỉ có rắn hổ mây khổng lồ, mà còn có những loài khác, cũng to khủng khiếp, ấy là con phướn, con rết.
Con phướn to lớn như hổ mây, nặng vài trăm ký. Nó chỉ khác rắn hổ mây ở cái thân hình màu đen, và đầu dẹp như cá trê. Con phướn phóng trên ngọn cây như giông bão. Khi nó săn mồi, cả cánh rừng rung bần bật, cỏ cây táp đi. Nhưng nó là loài rất nhát, nên ít người thấy nó ngoài các đạo sĩ ẩn tu lâu năm trong rừng.
Xưa kia, đạo sĩ Ba Lưới thi thoảng gặp con phướn, nhưng 50 năm trở lại đây thì nó biến đâu mất. Loài rết khổng lồ cũng to bằng bắp chân, có thể xơi tái gà, vịt. Các đạo sĩ trên núi cũng thường bắt rết xiên vào cây nướng trên than hồng làm món ăn. Thịt nó trắng và ngọt như thịt gà. Nhưng loài rết khổng lồ cũng biến mất từ lâu rồi.
Tiêu bản rắn hổ mây ở trại rắn Đồng Tâm
Để thông tin trung thực về cuộc chiến với rắn hổ mây khổng lồ ở núi Cấm, chúng tôi xin chép nguyên văn đoạn trao đổi với đạo sĩ Ba Lưới:
- PV: Thưa đạo sĩ, ông hãy kể cho độc giả, đặc biệt là những nhà nghiên cứu động vật được biết về rắn hổ mây.?
– Đạo sĩ Ba Lưới: Rắn hổ mây khổng lồ nhiều người nhìn thấy, thậm chí bắt được chứ không riêng gì tui. Tui thì gặp chúng thường xuyên, thậm chí ở cạnh chúng suốt, nên tui rất rõ về nó. Nó có thân màu vàng, hơi mốc. Màu vàng nhạt hơn trăn.
Loài hổ mây khác với trăn là khi săn mồi hoặc tránh thân cây đổ, mỏm đá, nó cất đầu rất cao, đến tận ngọn cây. Nó chạy rất nhanh khi ở trên cây, phóng từ cây nọ sang cây kia tạo ra tiếng ồn như gió lốc. Nó sống ở sâu trong rừng và lẩn trốn con người, nên ít người gặp được nó. Con hổ mây cỡ lớn hết vòng tay ôm, to bằng cột nhà, bằng cây thốt nốt. Nó dài 20 mét. Thậm chí dài hơn.
- PV: Nghe nói ông dùng võ giết rắn?
- Đạo sĩ Ba Lưới: Tui luôn nhớ lời dạy của thầy nên cả đời tu tâm dưỡng tánh, cứu người. Học võ cũng là học đạo, chứ không phải săn muông thú, diệt muông thú. Nếu tui giết muông thú, liệu tui có sống được trăm tuổi ở rừng già này không? Tui hại muông thú, tui sẽ bị thú ăn thịt lâu rồi. Việc tui giết rắn cũng là bất đắc dĩ, vì nó nổi điên đòi ăn thịt tui.
- PV: Ông kể chuyện giết hổ mây đi ạ?
- Đạo sĩ Ba Lưới: Tui giết con hổ mây đầu tiên là năm 1944, khi đó tui chừng 30 tuổi, đã tu luyện trên núi được 10 năm.
Lúc đó rừng rú hoang rậm lắm. Cả vùng núi, và đồng ruộng mênh mông không có bóng người, toàn cây cối, đầm nước, thú dữ. Cả vùng Bảy Núi chỉ có các đạo sĩ và học trò sinh sống, chứ không có dân cư. Chỉ những người tinh thông võ nghệ, biết thuốc trị rắn mới dám vào rừng ở. Trong rừng, rắn độc nhiều vô số, rắn khổng lồ, trăn khổng lồ vắt lủng liểng trên đọt cây.
Tuy nhiên, giới đạo sĩ chúng tui không giết rắn, không xâm phạm nơi ở của chúng, nên chúng cũng không làm hại con người. Rắn hổ mây có thể nuốt trâu, bò, sơn dương, lợn rừng. Nó bò ra mép sông nuốt cá sấu, nhưng tuyệt nhiên không dám tấn công các đạo sĩ.
Nhưng rồi, không hiểu sao, một con hổ mây ở cạnh nơi tôi tu luyện lại đổi tính nết, đòi ăn thịt tui.
Bình thường, các buổi trưa, tui vẫn thấy nó quấn trên hai ngọn cây, thả thân võng xuống đong đưa. Nhưng rồi đột nhiên, nó đi đâu mất, mấy tháng không thấy bóng dáng.
Tháng 4 cỏ cháy, rừng cháy, chiến tranh bom đạn, khí trời nóng ran. Có lẽ do trời nóng, nên con rắn thay đổi tính nết, từ hiền lành sang hung dữ. Cũng có thể do không kiếm được mồi, đói ăn, nên nó đòi ăn thịt tui.
Đầu giờ sáng, tui vác đòn gánh vào rừng hái thuốc. Chiếc đòn gánh ấy làm từ loại gỗ rất cứng, tròn, to bằng bắp chân, một đầu nhọn, một đầu tù. Tui thường buộc cây thuốc thành bó, xiên đòn vào tâm bó gánh về. Tui cũng dùng chiếc đòn gánh tới 200 ký đá để luyện công.
Đi nửa dốc, thì con hổ mây đó bò ra chặn đường. Bình thường thấy người hổ mây chạy mất dạng, đằng này nó lại bò ra giữa đường chặn tui. Chờ một lát, không thấy nó bỏ đi, mà ngóc đầu lên nhìn tui. Tui bực mình nhặt hòn đá ném về phía nó, nhưng nó không bỏ đi mà rùng rùng chuyển động, cất đầu cao đến 5 mét.
Cái đầu nó bạnh ra to đúng bằng cái nia, chiều ngang cỡ một mét. Đầu nó đu đưa, lưỡi thè ra, mắt dòm thẳng xuống tui. Nhìn thái độ của nó, tui biết là nó sẽ tìm cách nuốt chửng tui. Tui vung đòn gánh thủ thế tìm sơ hở của nó.
Sống ở rừng lâu năm, quá hiểu loài hổ mây, nên tui giữ tinh thần bình tĩnh. Nếu mất tinh thần là chỉ có làm mồi cho nó. Loài hổ mây phóng trên ngọn cây như giông bão thì con người làm sao chạy thoát được nó. Loài khỉ đu ào ào trên ngọn cây nó còn tóm được, nói gì con người chạy dưới đất.
Tui thủ thế đoán định hướng tấn công của nó, còn nó nhòm tui tìm sơ hở. Loài hổ mây tuy mạnh nhưng rất đốt. Nó nhòm về bên nào, thì sẽ tấn công bên đó. Loài cọp thì đập đuôi bên này, nhưng lại chụp về bên kia.
- PV: Trong hoàn cảnh con rắn ngáng đường, định tấn công, sao ông không tìm cách tránh nó?
-Đạo sĩ Ba Lưới: Loài hổ mây chạy như gió cuốn, bão giông, nên nó đã chí ăn thịt ai, thì người đó không thể thoát được. Nếu lúc đó tui không vững tâm, mà chạy trốn, thì nó sẽ phóng theo nuốt chửng. Tui chẳng còn cách nào ngoài việc đối mặt với nó.
- PV: Chắc rằng ông sử dụng thế võ mà ông hay gọi là Bình phong lạc nhạn?
-Đạo sĩ Ba Lưới: Khi tui thủ thế với chiếc đòn trong tay, nó chuyển động cái đầu, sàng qua sàng lại, rồi đột ngột há miệng chụp thẳng xuống đầu tui. Tui dùng thế Bình phong lạc nhạn tung người lên không trung vừa tránh cú chụp của nó, vừa vung đòn liên tiếp vụt vào sống lưng và cổ nó.
Các cụ bảo đánh rắn đánh vào sống lưng, nhưng con rắn hổ mây to quá, da dày, nên vụt vào sống lưng nó chẳng ăn thua gì. Trúng mấy cú đánh, con rắn càng hung dữ. Nó thu người, cất đầu lên cao, rồi chụp xuống liên tục. Lúc này tui mới hiểu được giá trị của thế võ Bình phong lạc nhạn mà thầy tui truyền cho. Với khả năng bật lên không trung, bay qua vồ (mỏm đá, mỏm núi), tui mới tránh được những cú mổ của con rắn khổng lồ.
Lúc đó, cả cảnh rừng như có giông bão. Cây cối rung bần bật. Con rắn càng đánh càng hăng. Tui dù khỏe thế, nhưng đối phó với nó mãi thì có dấu hiệu đuối sức. Khi đó tui nghĩ nếu không hạ được nó sớm, thì chắc chắn bị nó ăn thịt.
Sau cú mổ trượt, tui phi thân ra phía đuôi nó, để nó mất thời gian đổi hướng. Tui thủ thế, tập trung năng lượng tinh thần để ra đòn quyết định. Con rắn cũng cất đầu lên tận ngọn cây, từ từ hạ xuống cách đầu tui vài mét. Đôi mắt nó đỏ rực. Có vẻ như nó cũng sẽ ra đòn quyết định với tui.
Nó há cái miệng đỏ lòm, rồi chụp xuống rất mạnh. Tui lùi lại 3 bước tránh cú mổ của nó. Tui bật lên tận ngọn cây. Con rắn chụp trượt thì cất đầu lên tính chụp tiếp, còn tui từ trên không rơi xuống. Tui tung liên tiếp 3 cú đánh trúng đầu. Cú đánh cuối cùng khiến chiếc đòn gãy đôi.
Tui rơi xuống trong tư thế vững vàng, sẵn sàng tiếp tục chiến đấu, nhưng con rắn thì đổ oặt xuống đất. Đầu nó bất động, nhưng thân còn vùng vẫy mãi mới chịu thôi.
Tui phải ra liền 3 đòn, mới hạ được nó. Đòn thứ nhứt tui đập bể sọ nó, còn đòn thứ nhì, thứ ba, tui đập vỡ óc nó. Lúc đó, tui lại ngộ thêm ra được công năng đặc biệt của thế võ này. Do vậy, sau đó, tui càng tập luyện kỹ càng để hoàn thiện hơn.
Cặp rắn bằng bê-tông ông Sơn đắp ở núi Két để dọa rắn hổ mây.
- PVVậy khi đó có ai chứng kiến việc ông giết con rắn?
-Đạo sĩ Ba Lưới: Hạ con rắn rồi, tui xuống núi gọi người dân vào rừng xẻ thịt rắn mang về ăn. Chỉ có hơn chục người dám theo tui vào núi lấy thịt rắn. Phần lớn người dân sợ rắn trả thù, nên không dám vào xem.
Ngày xưa, người dân ở đây sợ rắn hổ mây lắm, họ gọi là ông rắn, ngài rắn, chứ không dám gọi con rắn đâu. Họ sợ ăn thịt hổ mây thì sẽ bị hổ mây đòi mạng. Một số người vào rừng xem con rắn giờ đã già lắm, nhưng hầu hết là chết rồi. Họ có thấy tui giết rắn, họ mới tin tui đánh nhau với hổ mây chứ. Ai ở vùng Bảy Núi này chẳng biết đạo sĩ Ba Lưới đánh hạ hổ mây khổng lồ.
- PV: Vậy cụ thể con rắn đó lớn như thế nào ạ?
-Đạo sĩ Ba Lưới: Ngày đó chuyện gặp rắn, trăn lớn và giết chúng rất bình thường, có ai để tâm tính toán hay đem cân đâu. Tuy nhiên, tui cùng những người xẻ thịt con rắn áng chừng nó dài hơn 20 mét, nặng cỡ 500 ký. Thân nó bằng cây thốt nốt già. Tui ôm thử hết một vòng tay.
Chuyện tui hạ rắn hổ mây khổng lồ ở vùng này ai chẳng biết. Cậu không tin thì cứ đi hỏi những người già quanh núi Cấm sẽ rõ.
- PV: Thế còn lần thứ 2 ông hạ rắn khổng lồ…
-Đạo sĩ Ba Lưới: Lần thứ hai vào năm 1960, lúc tui 50 tuổi. Ở cánh rừng chỗ tui ở có đàn khỉ đến cả trăm con. Bọn khỉ sống với tui chân tình lắm. Chúng mò vào lều tui xin ăn. Xin không được thì chúng ăn trộm. Tui trồng được bao nhiêu bắp, chúng bẻ trộm hết.
Thế nhưng, một ngày, con hổ mây tìm về khu rừng này. Cứ mỗi lần nghe tiếng ào ào như nổi cơn giông, thì biết ngay con rắn đang săn đàn khỉ. Đàn khỉ bị nó ăn vãn. Sợ con rắn, nên chúng kéo đi nơi khác. Không săn được mồi, con rắn quay sang ăn chó của tui. 10 con chó tui nuôi nó đều ăn hết.
Giống chó tui nuôi là chó săn, bắt được rắn hổ chúa, hổ hèo, nhưng thấy hổ mây thì không kêu nổi, cứ ngồi im run bần bật chờ nó mổ. Nhưng quy luật rừng xanh là thế, nên tui cũng chẳng thù oán gì nó. Chỉ có điều, ăn hết đàn chó, thì nó đòi ăn thịt tui.
Khi đó, công phu của tui đã hoàn thiện, nên coi thường rắn hổ mây lắm. Biết trước sau nó sẽ ăn thịt mình, nên đi đâu tui cũng mang quéo (dao phát rừng). Chiếc quéo này dài 2m, do tui tự rèn.
Bữa đó, đang vào rừng hái thuốc, thì nghe tiếng chạy re re từ xa. Tiếng xào xạc mỗi lúc một gần. Rồi con rắn hổ mây khổng lồ ấy bò đến trước mặt tui. Con rắn này rất hung dữ, lại đói mồi, nên không thèm cất đầu lên rồi mới chụp xuống, mà nó há miệng và nhắm thẳng tui phóng tới.
Trông cái cách tấn công hung hăng của nó, tui biết nó quá chủ quan. Không thể sống hòa bình với con rắn này nữa. Không ăn thịt được tui, thì nó cũng ăn thịt người khác, nên trong tích tắc tui quyết hạ nó.
Nó vừa phóng tới thì tui sử dụng thế võ Bình phong lạc nhạn, tung người lên không trung. Con rắn vồ hụt mồi, chưa kịp quay đầu lại, thì chiếc quéo tui cầm trên tay đã cắt đứt đầu nó.
Tui giết con rắn này quá dễ dàng, chỉ trong chưa đầy một giây. Con rắn này cũng không lớn bằng con đầu tiên tui giết, nhưng cũng phải dài cỡ 15 mét và nặng chừng 300 ký.
Theo đạo sĩ Ba Lưới, sau vụ giết con hổ mây thứ hai, ông ít gặp lại những con rắn khổng lồ như thế. Ông chỉ còn gặp những con hổ mây nặng cỡ 200 kg mà thôi.
Ông cũng cho biết, ông thường gặp chúng ẩn nấp ở hang Mây trên núi Cấm. Nơi đó ít người qua lại, vách đá hiểm trở, loài rắn hổ mây trú ngụ, nên các đạo sĩ mới gọi là hang Mây.
Tôi hỏi ông rằng, liệu bây giờ trên núi Cấm còn rắn hổ mây hay không, đạo sĩ Ba Lưới cho rằng, có thể vẫn còn hổ mây, nhưng con người chiếm hết môi trường sống, nên chúng lẩn sâu vào trong hang động, không dám ra ngoài. Cũng có thể chúng đã bỏ sang núi non bên Campuchia từ mấy chục năm trước.


tịnh biên

Cuộc Chiến Huyền Thoại Với Hổ Mây Khổng Lồ

Tùng Phạm  |  at  19:42

Nhắc đến loài rắn hổ mây khổng lồ, không ít người cho rằng đó là chuyện tào lao của cư dân vùng đất bác Ba Phi. Tôi cũng tin như vậy.
Tuy nhiên, gặp gỡ hàng trăm người, ở nhiều tỉnh thành khác nhau, tôi đều được nghe những câu chuyện rất thật, rất giống nhau. Họ mô tả hình dạng, màu sắc, cách di chuyển, tính nết của loài rắn này trùng khớp một cách khó tin.
Một đạo sĩ kỳ lạ, đáng tôn kính, đã sống 100 năm trên cõi đời, trên quả núi Cấm linh thiêng nhất vùng Cửu Long như đạo sĩ Ba Lưới, thì không có lý do gì để bịa tạc những câu chuyện mua vui. Cả đời ông sống ẩn cư trong rừng, thì ông còn màng gì thế sự, còn ham hố gì việc kể chuyện tào lao cho nổi tiếng.
Tôi hỏi đạo sĩ Ba Lưới: “Thưa ông. Con từ Hà Nội vào đây, mang theo một câu hỏi mà bao năm nay con nghi ngờ mãi, đó là có rắn hổ mây khổng lồ hay không?”.
Đạo sĩ Ba Lưới tỏ ra bực dọc vì câu hỏi đó của tôi. Ông đã định không tiếp tôi nữa. “Tui lấy danh dự của người sắp xuống lỗ để khẳng định với anh rằng, rắn hổ mây khổng lồ là loài có thiệt, chứ không phải chuyện tào lao. Già như tui có giống kẻ bịa chuyện hay không?” – đạo sĩ Ba Lưới nói như vậy.
Theo đạo sĩ Ba Lưới, vùng Thất Sơn huyền bí không chỉ có rắn hổ mây khổng lồ, mà còn có những loài khác, cũng to khủng khiếp, ấy là con phướn, con rết.
Con phướn to lớn như hổ mây, nặng vài trăm ký. Nó chỉ khác rắn hổ mây ở cái thân hình màu đen, và đầu dẹp như cá trê. Con phướn phóng trên ngọn cây như giông bão. Khi nó săn mồi, cả cánh rừng rung bần bật, cỏ cây táp đi. Nhưng nó là loài rất nhát, nên ít người thấy nó ngoài các đạo sĩ ẩn tu lâu năm trong rừng.
Xưa kia, đạo sĩ Ba Lưới thi thoảng gặp con phướn, nhưng 50 năm trở lại đây thì nó biến đâu mất. Loài rết khổng lồ cũng to bằng bắp chân, có thể xơi tái gà, vịt. Các đạo sĩ trên núi cũng thường bắt rết xiên vào cây nướng trên than hồng làm món ăn. Thịt nó trắng và ngọt như thịt gà. Nhưng loài rết khổng lồ cũng biến mất từ lâu rồi.
Tiêu bản rắn hổ mây ở trại rắn Đồng Tâm
Để thông tin trung thực về cuộc chiến với rắn hổ mây khổng lồ ở núi Cấm, chúng tôi xin chép nguyên văn đoạn trao đổi với đạo sĩ Ba Lưới:
- PV: Thưa đạo sĩ, ông hãy kể cho độc giả, đặc biệt là những nhà nghiên cứu động vật được biết về rắn hổ mây.?
– Đạo sĩ Ba Lưới: Rắn hổ mây khổng lồ nhiều người nhìn thấy, thậm chí bắt được chứ không riêng gì tui. Tui thì gặp chúng thường xuyên, thậm chí ở cạnh chúng suốt, nên tui rất rõ về nó. Nó có thân màu vàng, hơi mốc. Màu vàng nhạt hơn trăn.
Loài hổ mây khác với trăn là khi săn mồi hoặc tránh thân cây đổ, mỏm đá, nó cất đầu rất cao, đến tận ngọn cây. Nó chạy rất nhanh khi ở trên cây, phóng từ cây nọ sang cây kia tạo ra tiếng ồn như gió lốc. Nó sống ở sâu trong rừng và lẩn trốn con người, nên ít người gặp được nó. Con hổ mây cỡ lớn hết vòng tay ôm, to bằng cột nhà, bằng cây thốt nốt. Nó dài 20 mét. Thậm chí dài hơn.
- PV: Nghe nói ông dùng võ giết rắn?
- Đạo sĩ Ba Lưới: Tui luôn nhớ lời dạy của thầy nên cả đời tu tâm dưỡng tánh, cứu người. Học võ cũng là học đạo, chứ không phải săn muông thú, diệt muông thú. Nếu tui giết muông thú, liệu tui có sống được trăm tuổi ở rừng già này không? Tui hại muông thú, tui sẽ bị thú ăn thịt lâu rồi. Việc tui giết rắn cũng là bất đắc dĩ, vì nó nổi điên đòi ăn thịt tui.
- PV: Ông kể chuyện giết hổ mây đi ạ?
- Đạo sĩ Ba Lưới: Tui giết con hổ mây đầu tiên là năm 1944, khi đó tui chừng 30 tuổi, đã tu luyện trên núi được 10 năm.
Lúc đó rừng rú hoang rậm lắm. Cả vùng núi, và đồng ruộng mênh mông không có bóng người, toàn cây cối, đầm nước, thú dữ. Cả vùng Bảy Núi chỉ có các đạo sĩ và học trò sinh sống, chứ không có dân cư. Chỉ những người tinh thông võ nghệ, biết thuốc trị rắn mới dám vào rừng ở. Trong rừng, rắn độc nhiều vô số, rắn khổng lồ, trăn khổng lồ vắt lủng liểng trên đọt cây.
Tuy nhiên, giới đạo sĩ chúng tui không giết rắn, không xâm phạm nơi ở của chúng, nên chúng cũng không làm hại con người. Rắn hổ mây có thể nuốt trâu, bò, sơn dương, lợn rừng. Nó bò ra mép sông nuốt cá sấu, nhưng tuyệt nhiên không dám tấn công các đạo sĩ.
Nhưng rồi, không hiểu sao, một con hổ mây ở cạnh nơi tôi tu luyện lại đổi tính nết, đòi ăn thịt tui.
Bình thường, các buổi trưa, tui vẫn thấy nó quấn trên hai ngọn cây, thả thân võng xuống đong đưa. Nhưng rồi đột nhiên, nó đi đâu mất, mấy tháng không thấy bóng dáng.
Tháng 4 cỏ cháy, rừng cháy, chiến tranh bom đạn, khí trời nóng ran. Có lẽ do trời nóng, nên con rắn thay đổi tính nết, từ hiền lành sang hung dữ. Cũng có thể do không kiếm được mồi, đói ăn, nên nó đòi ăn thịt tui.
Đầu giờ sáng, tui vác đòn gánh vào rừng hái thuốc. Chiếc đòn gánh ấy làm từ loại gỗ rất cứng, tròn, to bằng bắp chân, một đầu nhọn, một đầu tù. Tui thường buộc cây thuốc thành bó, xiên đòn vào tâm bó gánh về. Tui cũng dùng chiếc đòn gánh tới 200 ký đá để luyện công.
Đi nửa dốc, thì con hổ mây đó bò ra chặn đường. Bình thường thấy người hổ mây chạy mất dạng, đằng này nó lại bò ra giữa đường chặn tui. Chờ một lát, không thấy nó bỏ đi, mà ngóc đầu lên nhìn tui. Tui bực mình nhặt hòn đá ném về phía nó, nhưng nó không bỏ đi mà rùng rùng chuyển động, cất đầu cao đến 5 mét.
Cái đầu nó bạnh ra to đúng bằng cái nia, chiều ngang cỡ một mét. Đầu nó đu đưa, lưỡi thè ra, mắt dòm thẳng xuống tui. Nhìn thái độ của nó, tui biết là nó sẽ tìm cách nuốt chửng tui. Tui vung đòn gánh thủ thế tìm sơ hở của nó.
Sống ở rừng lâu năm, quá hiểu loài hổ mây, nên tui giữ tinh thần bình tĩnh. Nếu mất tinh thần là chỉ có làm mồi cho nó. Loài hổ mây phóng trên ngọn cây như giông bão thì con người làm sao chạy thoát được nó. Loài khỉ đu ào ào trên ngọn cây nó còn tóm được, nói gì con người chạy dưới đất.
Tui thủ thế đoán định hướng tấn công của nó, còn nó nhòm tui tìm sơ hở. Loài hổ mây tuy mạnh nhưng rất đốt. Nó nhòm về bên nào, thì sẽ tấn công bên đó. Loài cọp thì đập đuôi bên này, nhưng lại chụp về bên kia.
- PV: Trong hoàn cảnh con rắn ngáng đường, định tấn công, sao ông không tìm cách tránh nó?
-Đạo sĩ Ba Lưới: Loài hổ mây chạy như gió cuốn, bão giông, nên nó đã chí ăn thịt ai, thì người đó không thể thoát được. Nếu lúc đó tui không vững tâm, mà chạy trốn, thì nó sẽ phóng theo nuốt chửng. Tui chẳng còn cách nào ngoài việc đối mặt với nó.
- PV: Chắc rằng ông sử dụng thế võ mà ông hay gọi là Bình phong lạc nhạn?
-Đạo sĩ Ba Lưới: Khi tui thủ thế với chiếc đòn trong tay, nó chuyển động cái đầu, sàng qua sàng lại, rồi đột ngột há miệng chụp thẳng xuống đầu tui. Tui dùng thế Bình phong lạc nhạn tung người lên không trung vừa tránh cú chụp của nó, vừa vung đòn liên tiếp vụt vào sống lưng và cổ nó.
Các cụ bảo đánh rắn đánh vào sống lưng, nhưng con rắn hổ mây to quá, da dày, nên vụt vào sống lưng nó chẳng ăn thua gì. Trúng mấy cú đánh, con rắn càng hung dữ. Nó thu người, cất đầu lên cao, rồi chụp xuống liên tục. Lúc này tui mới hiểu được giá trị của thế võ Bình phong lạc nhạn mà thầy tui truyền cho. Với khả năng bật lên không trung, bay qua vồ (mỏm đá, mỏm núi), tui mới tránh được những cú mổ của con rắn khổng lồ.
Lúc đó, cả cảnh rừng như có giông bão. Cây cối rung bần bật. Con rắn càng đánh càng hăng. Tui dù khỏe thế, nhưng đối phó với nó mãi thì có dấu hiệu đuối sức. Khi đó tui nghĩ nếu không hạ được nó sớm, thì chắc chắn bị nó ăn thịt.
Sau cú mổ trượt, tui phi thân ra phía đuôi nó, để nó mất thời gian đổi hướng. Tui thủ thế, tập trung năng lượng tinh thần để ra đòn quyết định. Con rắn cũng cất đầu lên tận ngọn cây, từ từ hạ xuống cách đầu tui vài mét. Đôi mắt nó đỏ rực. Có vẻ như nó cũng sẽ ra đòn quyết định với tui.
Nó há cái miệng đỏ lòm, rồi chụp xuống rất mạnh. Tui lùi lại 3 bước tránh cú mổ của nó. Tui bật lên tận ngọn cây. Con rắn chụp trượt thì cất đầu lên tính chụp tiếp, còn tui từ trên không rơi xuống. Tui tung liên tiếp 3 cú đánh trúng đầu. Cú đánh cuối cùng khiến chiếc đòn gãy đôi.
Tui rơi xuống trong tư thế vững vàng, sẵn sàng tiếp tục chiến đấu, nhưng con rắn thì đổ oặt xuống đất. Đầu nó bất động, nhưng thân còn vùng vẫy mãi mới chịu thôi.
Tui phải ra liền 3 đòn, mới hạ được nó. Đòn thứ nhứt tui đập bể sọ nó, còn đòn thứ nhì, thứ ba, tui đập vỡ óc nó. Lúc đó, tui lại ngộ thêm ra được công năng đặc biệt của thế võ này. Do vậy, sau đó, tui càng tập luyện kỹ càng để hoàn thiện hơn.
Cặp rắn bằng bê-tông ông Sơn đắp ở núi Két để dọa rắn hổ mây.
- PVVậy khi đó có ai chứng kiến việc ông giết con rắn?
-Đạo sĩ Ba Lưới: Hạ con rắn rồi, tui xuống núi gọi người dân vào rừng xẻ thịt rắn mang về ăn. Chỉ có hơn chục người dám theo tui vào núi lấy thịt rắn. Phần lớn người dân sợ rắn trả thù, nên không dám vào xem.
Ngày xưa, người dân ở đây sợ rắn hổ mây lắm, họ gọi là ông rắn, ngài rắn, chứ không dám gọi con rắn đâu. Họ sợ ăn thịt hổ mây thì sẽ bị hổ mây đòi mạng. Một số người vào rừng xem con rắn giờ đã già lắm, nhưng hầu hết là chết rồi. Họ có thấy tui giết rắn, họ mới tin tui đánh nhau với hổ mây chứ. Ai ở vùng Bảy Núi này chẳng biết đạo sĩ Ba Lưới đánh hạ hổ mây khổng lồ.
- PV: Vậy cụ thể con rắn đó lớn như thế nào ạ?
-Đạo sĩ Ba Lưới: Ngày đó chuyện gặp rắn, trăn lớn và giết chúng rất bình thường, có ai để tâm tính toán hay đem cân đâu. Tuy nhiên, tui cùng những người xẻ thịt con rắn áng chừng nó dài hơn 20 mét, nặng cỡ 500 ký. Thân nó bằng cây thốt nốt già. Tui ôm thử hết một vòng tay.
Chuyện tui hạ rắn hổ mây khổng lồ ở vùng này ai chẳng biết. Cậu không tin thì cứ đi hỏi những người già quanh núi Cấm sẽ rõ.
- PV: Thế còn lần thứ 2 ông hạ rắn khổng lồ…
-Đạo sĩ Ba Lưới: Lần thứ hai vào năm 1960, lúc tui 50 tuổi. Ở cánh rừng chỗ tui ở có đàn khỉ đến cả trăm con. Bọn khỉ sống với tui chân tình lắm. Chúng mò vào lều tui xin ăn. Xin không được thì chúng ăn trộm. Tui trồng được bao nhiêu bắp, chúng bẻ trộm hết.
Thế nhưng, một ngày, con hổ mây tìm về khu rừng này. Cứ mỗi lần nghe tiếng ào ào như nổi cơn giông, thì biết ngay con rắn đang săn đàn khỉ. Đàn khỉ bị nó ăn vãn. Sợ con rắn, nên chúng kéo đi nơi khác. Không săn được mồi, con rắn quay sang ăn chó của tui. 10 con chó tui nuôi nó đều ăn hết.
Giống chó tui nuôi là chó săn, bắt được rắn hổ chúa, hổ hèo, nhưng thấy hổ mây thì không kêu nổi, cứ ngồi im run bần bật chờ nó mổ. Nhưng quy luật rừng xanh là thế, nên tui cũng chẳng thù oán gì nó. Chỉ có điều, ăn hết đàn chó, thì nó đòi ăn thịt tui.
Khi đó, công phu của tui đã hoàn thiện, nên coi thường rắn hổ mây lắm. Biết trước sau nó sẽ ăn thịt mình, nên đi đâu tui cũng mang quéo (dao phát rừng). Chiếc quéo này dài 2m, do tui tự rèn.
Bữa đó, đang vào rừng hái thuốc, thì nghe tiếng chạy re re từ xa. Tiếng xào xạc mỗi lúc một gần. Rồi con rắn hổ mây khổng lồ ấy bò đến trước mặt tui. Con rắn này rất hung dữ, lại đói mồi, nên không thèm cất đầu lên rồi mới chụp xuống, mà nó há miệng và nhắm thẳng tui phóng tới.
Trông cái cách tấn công hung hăng của nó, tui biết nó quá chủ quan. Không thể sống hòa bình với con rắn này nữa. Không ăn thịt được tui, thì nó cũng ăn thịt người khác, nên trong tích tắc tui quyết hạ nó.
Nó vừa phóng tới thì tui sử dụng thế võ Bình phong lạc nhạn, tung người lên không trung. Con rắn vồ hụt mồi, chưa kịp quay đầu lại, thì chiếc quéo tui cầm trên tay đã cắt đứt đầu nó.
Tui giết con rắn này quá dễ dàng, chỉ trong chưa đầy một giây. Con rắn này cũng không lớn bằng con đầu tiên tui giết, nhưng cũng phải dài cỡ 15 mét và nặng chừng 300 ký.
Theo đạo sĩ Ba Lưới, sau vụ giết con hổ mây thứ hai, ông ít gặp lại những con rắn khổng lồ như thế. Ông chỉ còn gặp những con hổ mây nặng cỡ 200 kg mà thôi.
Ông cũng cho biết, ông thường gặp chúng ẩn nấp ở hang Mây trên núi Cấm. Nơi đó ít người qua lại, vách đá hiểm trở, loài rắn hổ mây trú ngụ, nên các đạo sĩ mới gọi là hang Mây.
Tôi hỏi ông rằng, liệu bây giờ trên núi Cấm còn rắn hổ mây hay không, đạo sĩ Ba Lưới cho rằng, có thể vẫn còn hổ mây, nhưng con người chiếm hết môi trường sống, nên chúng lẩn sâu vào trong hang động, không dám ra ngoài. Cũng có thể chúng đã bỏ sang núi non bên Campuchia từ mấy chục năm trước.


Bài Viết Cùng Chủ Đề

© 2015 Hai Lúa Miền Tây | Design by Tùng Phạm
| Design by Tùng Phạm.