Bài Viết Mới

Hiển thị các bài đăng có nhãn chợ mới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chợ mới. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Đạo sĩ Ba Lưới tên thật là Nguyễn Văn Y, sinh ra ở miền sông nước miệt cù lao Giêng (xã Tấn Mỹ,H.Chợ Mới- An Giang), người đã hành nghề thầy thuốc trị bệnh cứu người lâu nhất ở núi Cấm (hơn 70 năm) và người đã hai lần chém xà tinh trừ hại cho dân.
Tuổi thơ ông thường bơi ghe ngang dọc khắp các sông rạch vùng Cái Tàu, Vàm Nao, Ông Chưởng… để chài lưới kiếm cá đổi gạo. Không biết cơ duyên nào đưa tới, khoảng đầu thập niên 1930, khi sắp tuổi 20, ông lén nhà vác theo mấy tay lưới, hỏi đường đi bộ suốt hai ngày lên tới Thất Sơn, rồi lần hồi vẹt rừng lần lên tới đỉnh núi Thiên Cấm Sơn (núi Cấm) và đi đâu ông cũng dắt manh lưới bên mình vì vậy các bậc ân nhân, tiền bối thấy ngộ, nên gọi ông là Ba Lưới. Cũng từ đó, chẳng ai nhớ đến cái tên Nguyễn Văn Y của ông nữa.
Những năm 1930 vùng Thất Sơn trong đó núi Thiên Cấm Sơn là nơi rừng rú hoang rậm, cọp beo đi thành đàn, rắn độc, đặc biệt là rắn khổng lồ bò lổm ngổm trong rừng và chỉ có những đạo sĩ ẩn danh tu luyện, những cao nhân muốn lẩn trốn thế sự, cũng có thể là những chí sĩ tạm thời ẩn thân trong rừng chờ thời cơ. Hàng ngày, các đạo sĩ trồng trọt, hái thuốc, đêm xuống luyện võ nghệ và tu học.Tu là tu thân để làm điều lành, tránh cái ác; học là theo điều đức hạnh, chứ không theo đạo giáo nào. Tu ở đây không có sư phụ, đệ tử, chỉ người đi trước dạy cho người đi sau, cứ nghĩ đến điều tốt đẹp mà làm. Những người sống trên núi lúc đó ai cũng phải rèn luyện võ công. Không có võ thì không tồn tại nổi ở chốn rừng thiêng nước độc này”.
Là người có sức khỏe, trí thông minh, lại chăm chỉ học hỏi, nên chàng trai Ba Lưới được nhiều đạo sĩ dạy dỗ, đào tạo. Có đạo sĩ dạy ông cách luyện khí công, đạo sĩ dạy thuốc, đạo sĩ dạy võ… Không biết có phải nhờ dày công luyện tập các bí kíp của môn võ lâm Thất Sơn và thái cực quyền mà ở tuổi 100 (tính đến năm 2012), lão đạo sĩ Ba Lưới vẫn giữ được thân pháp nhẹ nhàng, giọng nói trầm ấm, thi thoảng lại pha vào những tràng cười hỉ hả đầy sảng khoái.
Suốt mấy chục năm trời miệt mài phát rừng làm rẫy để có cái ăn, rồi lần dò tìm thầy học võ để phòng thân, thêm nghề bốc thuốc cứu người. Trong hành trình tu thân học đạo, ông Ba Lưới không ít lần giáp mặt với thú dữ. Nhờ những thế võ Thất Sơn bí truyền học được từ các đạo sĩ tiền bối, ông đã hai lần hạ gục rắn hổ mây to hàng chục ký với thế “Bình Phong Lạc Nhạn”. Ông theo học rất nhiều sư phụ, nhưng môn phái ông theo học chánh tông là Đường Phong. Có thể nói ông là đệ tử chân truyền đời thứ 9 của Cử Đa, người sáng lập ra môn phái võ Đường Phong trên đỉnh Cấm Sơn.
Ông cũng được ông Năm Sanh (Trần Văn Sanh) – một đạo sĩ ẩn tu tại núi Tà Lơn (Campuchia) nhận làm đồ đệ, truyền dạy những bài thuốc bí truyền. Giữa chốn núi rừng thâm u, đầy rẫy rắn độc, những bài thuốc trị bệnh, chữa nọc rắn của thầy dạy ông ngày xưa trở nên vô cùng hữu dụng và cần thiết. Vì thế ông cũng bắt tay phục dược, cứu chữa bệnh cho người dân quanh núi. Những loài thuốc quý trên núi ông đều biết cả, được dùng để trị bệnh cứu người. Bởi vậy, nhiều người còn gọi ông là “Thần y” trên núi Cấm.
Tính đến năm 2013, thế hệ những đạo sĩ cuối cùng ở miệt Thất Sơn từng vang danh như Năm Cao, Ba Sánh, Đức Minh, Thiện Tài, Năm Sanh, Ba Tiêu, Thiện Quang, Mười Thiệt, Sáu Hột, Mười Phu… kẻ trước người sau lần lượt tạ thế, có lẽ chỉ còn lại nhà sư Thiện Huệ (87 tuổi, quê quán ở xã Phước Hưng, huyện An Phú, An Giang), trụ trì chùa Bình Sơn (ấp Thiên Tuế) và đạo sĩ Ba Lưới. Hai ông được xem như “pho sử sống” của miệt Thất Sơn.
Sau 1975 cuộc sống trên núi Cấm cũng thay đổi dần. Những cư sĩ ẩn tu lần lượt xuất sơn, chọn nơi khác lập nghiệp. Năm 1976, ông Ba Lưới tìm đến vườn đá ở hang Long Hổ Hội dựng chòi sinh sống. Theo ông, nơi đây từng là nơi họp mặt của hổ và rắn vào những dịp trăng tròn. Thời gian này, ông gặp bà Huỳnh Thị Quang, ở Tân Châu, đi viếng núi. Như duyên tiền định, ông bà gá nghĩa với nhau và ở đây sinh sống đến giờ, sinh được bốn người con.
Người dân địa phương còn nhắc nhiều đến ông Ba Lưới với tượng Phật Di Lặc cao 33,6 m bằng bê tông cốt thép trên đỉnh núi Cấm trị giá tiền tỉ mà ông đã góp công xây dựng. Nay ở vào tuổi xế chiều, song ông Ba Lưới còn một tâm nguyện là hoàn thành công trình chùa Phật Lớn trên đỉnh núi Cấm.
Nay chỉ còn riêng Ba Lưới nguyện sống hết cuộc đời mình để giữ lại tán rừng, hang đá. Bởi vậy người ta gọi ông là lão kỳ nhân đạo sĩ cuối cùng của đỉnh Cấm Sơn.
thất sơn huyền bí

Vị Đạo Sĩ Cuối Cùng Trên Đỉnh Cấm Sơn

Tùng Phạm  |  at  19:46

Đạo sĩ Ba Lưới tên thật là Nguyễn Văn Y, sinh ra ở miền sông nước miệt cù lao Giêng (xã Tấn Mỹ,H.Chợ Mới- An Giang), người đã hành nghề thầy thuốc trị bệnh cứu người lâu nhất ở núi Cấm (hơn 70 năm) và người đã hai lần chém xà tinh trừ hại cho dân.
Tuổi thơ ông thường bơi ghe ngang dọc khắp các sông rạch vùng Cái Tàu, Vàm Nao, Ông Chưởng… để chài lưới kiếm cá đổi gạo. Không biết cơ duyên nào đưa tới, khoảng đầu thập niên 1930, khi sắp tuổi 20, ông lén nhà vác theo mấy tay lưới, hỏi đường đi bộ suốt hai ngày lên tới Thất Sơn, rồi lần hồi vẹt rừng lần lên tới đỉnh núi Thiên Cấm Sơn (núi Cấm) và đi đâu ông cũng dắt manh lưới bên mình vì vậy các bậc ân nhân, tiền bối thấy ngộ, nên gọi ông là Ba Lưới. Cũng từ đó, chẳng ai nhớ đến cái tên Nguyễn Văn Y của ông nữa.
Những năm 1930 vùng Thất Sơn trong đó núi Thiên Cấm Sơn là nơi rừng rú hoang rậm, cọp beo đi thành đàn, rắn độc, đặc biệt là rắn khổng lồ bò lổm ngổm trong rừng và chỉ có những đạo sĩ ẩn danh tu luyện, những cao nhân muốn lẩn trốn thế sự, cũng có thể là những chí sĩ tạm thời ẩn thân trong rừng chờ thời cơ. Hàng ngày, các đạo sĩ trồng trọt, hái thuốc, đêm xuống luyện võ nghệ và tu học.Tu là tu thân để làm điều lành, tránh cái ác; học là theo điều đức hạnh, chứ không theo đạo giáo nào. Tu ở đây không có sư phụ, đệ tử, chỉ người đi trước dạy cho người đi sau, cứ nghĩ đến điều tốt đẹp mà làm. Những người sống trên núi lúc đó ai cũng phải rèn luyện võ công. Không có võ thì không tồn tại nổi ở chốn rừng thiêng nước độc này”.
Là người có sức khỏe, trí thông minh, lại chăm chỉ học hỏi, nên chàng trai Ba Lưới được nhiều đạo sĩ dạy dỗ, đào tạo. Có đạo sĩ dạy ông cách luyện khí công, đạo sĩ dạy thuốc, đạo sĩ dạy võ… Không biết có phải nhờ dày công luyện tập các bí kíp của môn võ lâm Thất Sơn và thái cực quyền mà ở tuổi 100 (tính đến năm 2012), lão đạo sĩ Ba Lưới vẫn giữ được thân pháp nhẹ nhàng, giọng nói trầm ấm, thi thoảng lại pha vào những tràng cười hỉ hả đầy sảng khoái.
Suốt mấy chục năm trời miệt mài phát rừng làm rẫy để có cái ăn, rồi lần dò tìm thầy học võ để phòng thân, thêm nghề bốc thuốc cứu người. Trong hành trình tu thân học đạo, ông Ba Lưới không ít lần giáp mặt với thú dữ. Nhờ những thế võ Thất Sơn bí truyền học được từ các đạo sĩ tiền bối, ông đã hai lần hạ gục rắn hổ mây to hàng chục ký với thế “Bình Phong Lạc Nhạn”. Ông theo học rất nhiều sư phụ, nhưng môn phái ông theo học chánh tông là Đường Phong. Có thể nói ông là đệ tử chân truyền đời thứ 9 của Cử Đa, người sáng lập ra môn phái võ Đường Phong trên đỉnh Cấm Sơn.
Ông cũng được ông Năm Sanh (Trần Văn Sanh) – một đạo sĩ ẩn tu tại núi Tà Lơn (Campuchia) nhận làm đồ đệ, truyền dạy những bài thuốc bí truyền. Giữa chốn núi rừng thâm u, đầy rẫy rắn độc, những bài thuốc trị bệnh, chữa nọc rắn của thầy dạy ông ngày xưa trở nên vô cùng hữu dụng và cần thiết. Vì thế ông cũng bắt tay phục dược, cứu chữa bệnh cho người dân quanh núi. Những loài thuốc quý trên núi ông đều biết cả, được dùng để trị bệnh cứu người. Bởi vậy, nhiều người còn gọi ông là “Thần y” trên núi Cấm.
Tính đến năm 2013, thế hệ những đạo sĩ cuối cùng ở miệt Thất Sơn từng vang danh như Năm Cao, Ba Sánh, Đức Minh, Thiện Tài, Năm Sanh, Ba Tiêu, Thiện Quang, Mười Thiệt, Sáu Hột, Mười Phu… kẻ trước người sau lần lượt tạ thế, có lẽ chỉ còn lại nhà sư Thiện Huệ (87 tuổi, quê quán ở xã Phước Hưng, huyện An Phú, An Giang), trụ trì chùa Bình Sơn (ấp Thiên Tuế) và đạo sĩ Ba Lưới. Hai ông được xem như “pho sử sống” của miệt Thất Sơn.
Sau 1975 cuộc sống trên núi Cấm cũng thay đổi dần. Những cư sĩ ẩn tu lần lượt xuất sơn, chọn nơi khác lập nghiệp. Năm 1976, ông Ba Lưới tìm đến vườn đá ở hang Long Hổ Hội dựng chòi sinh sống. Theo ông, nơi đây từng là nơi họp mặt của hổ và rắn vào những dịp trăng tròn. Thời gian này, ông gặp bà Huỳnh Thị Quang, ở Tân Châu, đi viếng núi. Như duyên tiền định, ông bà gá nghĩa với nhau và ở đây sinh sống đến giờ, sinh được bốn người con.
Người dân địa phương còn nhắc nhiều đến ông Ba Lưới với tượng Phật Di Lặc cao 33,6 m bằng bê tông cốt thép trên đỉnh núi Cấm trị giá tiền tỉ mà ông đã góp công xây dựng. Nay ở vào tuổi xế chiều, song ông Ba Lưới còn một tâm nguyện là hoàn thành công trình chùa Phật Lớn trên đỉnh núi Cấm.
Nay chỉ còn riêng Ba Lưới nguyện sống hết cuộc đời mình để giữ lại tán rừng, hang đá. Bởi vậy người ta gọi ông là lão kỳ nhân đạo sĩ cuối cùng của đỉnh Cấm Sơn.

Đồng hành với những nhát cuốc, luống cày, khai phá vùng hoang vu đồng bằng Nam bộ, lưu dân ở đây cũng đã gieo những khúc hát ca ngợi tình yêu quê hương, đôi lứa… Trước bát ngát ruộng đồng, cò bay mỏi cánh, nên dù là khúc ca được biến bẻ từ lời cũ, hay mới sáng tác, bằng vào làn hơi và giọng điệu chơn chất đặc trưng của mình.
Nhắc đến dân ca Nam bộ thì không thể bỏ qua hò – điệu hát bình dân đồng quê, được thể hiện bởi âm tiết đơn giản, làn điệu dìu dặt, nhẹ nhàng, truyền cảm. Hò diễn ra trong nhiều trường hợp. Nếu hò lẻ một mình gọi hò rơi. Đây không phải là cuộc hò (hò hội, hò kết) mà là ngẫu hứng tự nhiên. Người ta hò lên cốt để vui miệng, vui tai, gọi là hò buông rơi. Câu hò rất “vô tư”, không có ý bỏ, gài, nên không chờ ai bắt, gỡ. Tuy nhiên, có khi ai đó nghe được, cảm thấy “trúng hệ”, họ không thể không cất tiếng hò nối theo. Cứ thế mà luân phiên suốt, y như một sự hàn huyên của những người bạn thân tâm đầu ý hợp lâu ngày mới gặp lại. Nếu họ hò đối đáp xung quanh một chủ đề, cũng có thể kể là cuộc hò.

Ta thử dõi theo một cuộc hò khá gay cấn giữa chàng trai “Hai Huyện” của An Giang và cô gái Mỹ Hiệp (Chợ Mới-An Giang). Mở đầu là những câu hò rao, hay hò dạo, nội dung chào mời, thăm hỏi, mừng bạn. Họ rào đón từ tốn. Giọng điệu, lời lẽ khiêm nhường nhằm ngầm tìm hiểu, dò dẫm tình ý, tài nghệ. Để không phải đợi chờ lâu, mở đầu là vài câu “mồi” cũng là “đưa ra thể lệ”:
Hò ơ… Một đàn cò trắng bay chung.
Bên nam bên nữ ta đồng cất lên
Cất lên một tiếng linh đình
Cho loan sánh phụng, ờ…
Hò ơ… Cho loan sánh phụng, cho mình sánh ta, ơ…
Hò ơ… Cất lên một tiếng la đà.
Đàn ông hát trước đàn bà hát sau, ơ…
Thấy đã “có không khí”, từ đám đông một anh chàng khá dễ thương cất cao giọng:
Hò ơ… Tôi xin mở lời chào,
Chào hết nội gia
Bên hữu đàn bà bên tả đàn ông
Đông tây tôi chào hết một vòng
Tôi mời cô nào son rỗi, ờ…
Hò ơ… Cô nào son rỗi thì xông vô hò, ơ…
Ngay lúc đó, một cô thôn nữ được các bạn gái đẩy đẩy vào, dạn dĩ:
Hò ơ… Tới đây không hát không hò thì cô bác cho là quê
Mà hò mà hát thì sợ cô bác cho là tôi mê người tình, ờ…
Một bà cụ bỏm bẻm “khích tướng”:
Hò ơ… Tới đây không hát thời hò,
Không phải con cò ngóng cổ mà nghe ơ…
Hò ơ… Con cò nó ở ngọn tre.
Mà nó còn xuống đất đặng chờ nghe cô hò đó cô ơi…”
Nàng đưa vội ánh mắt về phía chàng rồi:
Hò ơ… Áo đen tra nút cũng đen,
Tôi hò với người lạ chớ người quen tôi hổng hò, ờ…
Phớt nhìn nhan sắc mặn mòi và qua giọng hò, chàng lại nghĩ ngay là gái Mỹ Hiệp! Chàng không bỏ lỡ cơ hội bằng vàng, xắn ngay liền:
Hò ơ… xứ không quen, người thời cũng lạ,
Muốn cất tiếng hò trong dạ hoài nghi,
Cô em có chồng chưa nói thiệt ra đi!
Bữa sau anh cậy mai đến nói, ờ…
Hò ơ… Anh cậy mai đến nói, sẵn biết đường đi khỏi tìm, ờ…
Đâu đó có vài tiếng cười khúc khích… Nàng không vội gì “nói thiệt”, cất tiếng “tìm hiểu” một cách khá… “ngây thơ”:
Hò ơ… Áo trắng không vắn không dài
Sao anh không bận ờ…
Hò ơ… Sao anh không bận, bận hoài áo đen ơ…
Chàng hò đáp rất dễ thương:
Hò ơ… Tui ở cho cô bác người ta khen
Áo trắng xếp cất ờ…
Hò ơ… Áo trắng xếp cất, áo đen đi mần ơ…
Nàng tiếp tục “tấn công”, nhưng cũng trong tinh thần “tìm hiểu”:
Hò ơ… Gặp anh đây giữa đường giữa sá,
Em hỏi anh ở nhà ngói hay nhà lá,
Cửa khóa hay cửa gài,
Trâu anh được mấy đôi,
Ruộng anh thời mấy mẫu, ờ…
Hò ơ… Ruộng anh thời mấy mẫu, mà bạc anh dư xài hay tạm đỡ của ai ơ…
Chàng vẫn rất tự tin “chỉnh nhẹ”:
Hò ơ…Cô em ơi, cô em đừng có thấy người ta giàu mà bưng mà bợ
Cô em đừng có tưởng anh đây nghèo mà sợ mà khinh
Nhà người ta cột căm xe nền đúc ờ…
Ờ… ơ… Nhà cột căm xe nền đúc (mà) còn đứt chưn… nhãn… ớ… tiền ờ… ơ…
Rồi được trớn, hò luôn:
Hò ơ… Phụ mẫu anh nghèo, dòng họ anh đông,
Mỗi người một đồng cũng cưới được em! ơ…
Nói nghèo mà khoe dòng họ đông, theo quan niệm xưa, rõ ràng chàng gián tiếp để lộ phần nào đặc điểm con nhà gia thế. Nàng hò đáp:
Hò ơ… Anh về tìm vảy con cá trê,
Tìm gan con tôm sú, tìm mề con lươn, ơ…
Ơ ơ… Anh tìm con bướm có xương ơ… ơ…
Ờ ơ… Dây tơ hồng có rễ (mà) đạo cang thường, ờ…
Hò ơ… Đạo cang thường chịu anh ơ…
Đến lúc này anh chàng mới té ngửa ra rằng hoa kia đã có chủ! Hèn nào nãy giờ vẫn cứ văng vẳng giọng cười tinh nghịch! Cụt hứng, chàng vừa đi riết xuống bến vừa nhổ sào vừa lịch sự hò kiếu một câu làm nức lòng người dự khán:
Hò ơ… Anh đi anh nhớ Tháp Mười,
Nhớ câu hò Mỹ Hiệp, ờ…
Hò ơ… Nhớ câu hò Mỹ Hiệp, nhớ giọng cười Mỹ Long, ơ…
Tương truyền chàng trai về lại quê nhà, miệt Cù lao Ông Chưởng. Một thời gian sau, có chút danh phận chi đó, để kỷ niệm cuộc hò ấn tượng năm xưa, “chàng trai Hai Huyện” đã đề nghị với các hương chức (và được chấp thuận) đặt tên hai làng quê đẹp ở xứ mình là Mỹ Hiệp và Mỹ Long (sau gọi trại là Mỹ Luông).
Tóm lại, dù là như hò lẻ hay hò kết, hò môi (hò mép hay hò bắt quàng), hò văn (hay hò sách), hò thơ, hò truyện (truyện Tàu), hò tuồng, hò tiểu thuyết, hò thầy chùa, hò quốc sự…thì cấu trúc của một giọng (điệu) hò đều chia làm 3 giai đoạn. Trước hết là cất cao giọng lấy hơi (Hò ơ…- dài hay ngắn, liên tục hay đứt khúc là do trình độ biểu diễn của nghệ nhân). Kế đó là là lời kể (trình bày nội dung, nêu lên một hay nhiều vấn đề, tùy ý. Nếu dài thì tự phân ngắt để nghỉ hơi ơ, ờ…; thường thì lúc hò tiếp, người ta lặp lại câu khi nghỉ lúc nãy để người nghe dễ dàng cảm nhận được tính liên tục). Sau hết là giọng ngân (ngân dài ra theo âm của tiếng cuối câu chót, như lúc nghỉ hơi, nhưng ngân dài hơn), nếu hụt hơi thì coi như thua, “đứt” về mặt nghệ thuật.
Tuy nhiên điệu hò ở Đồng Tháp có khác đôi chút. Những tiếng “hò ơ” hay “hò hơ” được thay bằng “hòa ơ” hoặc “hòa hơ”… Làn hơi phải mượt mà và tròn tiếng, đặc biệt nhất là sự luyến láy sao cho thật ngọt tai. Có thể nói, tất cả những câu (bài) ca dao thuộc loại trữ tình đều biểu diễn được dưới dạng “hò”. Nghệ nhân chỉ cần bắt đầu bằng những tiếng Hò hơ (hay Hòa ơ…), và thêm tiếng đưa hơi “ờ” ở giữa câu cuối (để lấy hơi), xong, lại bắt đầu bằng tiếng “Hò ơ” khi ngâm câu cuối, và tất nhiên tiếng cuối của câu cuối ấy cũng có tiếng “ơ”. Vậy là nghệ nhân đã hoàn tất một câu hò, để nhường lời cho đối tượng đang hò đối đáp với mình. Ông Nguyễn Hiến Lê có ghi nhận một cuộc hò Ghen vì hò trong sách Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười. Xin trích vài câu nam và nữ đối đáp. Bên nam cất tiếng:
Hò o o ớ ớ… Mù u bông trắng lá thắm nhụy vàng ơ ơ ơ…
Anh đi khắp xứ, tới đây mới được gặp nàng ơ ơ ơ… thật là dễ thương ơ ơ…
Hò o o ớ ớ… Nghe giọng nàng, anh vẫn vơ vẩn vấn vương,
Sống cùng nhau chẳng được, cho anh phải mơ màng chiêm bao…
Bên nữ đáp lại:
Hò o o ớ ớ… Lửng da trời bay lượn con chim hồng,
Gặp nhau sao quá trễ cho tấm lòng này xót xa,
Đêm nằm em luống những thở ra,
Đôi ta chẳng…
Tới tiếng “đôi ta” , mắt cô gái sáng lên, đắm đuối trong ánh trăng và giọng hơi lơi lả, khiến người chồng đi ngang nổi cơn ghen…
Rõ ràng “hò Nam Bộ” mỗi vùng miền mỗi khác, chứ phải đâu “hò nào cũng là hò”!
Tài liệu tham khảo:
- Nguyễn Hiến Lê, Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười. Nxb. Nguyễn Hiến Lê, S., 1954.
– Thơ văn Đồng Tháp trước 1945, Gs. Lê Trí Viễn (chủ nhiệm). Nxb. Tổng hợp Đồng Tháp, 1986.
văn hóa nam bộ

Nhớ Câu Hò Miền Tây

Tùng Phạm  |  at  09:41

Đồng hành với những nhát cuốc, luống cày, khai phá vùng hoang vu đồng bằng Nam bộ, lưu dân ở đây cũng đã gieo những khúc hát ca ngợi tình yêu quê hương, đôi lứa… Trước bát ngát ruộng đồng, cò bay mỏi cánh, nên dù là khúc ca được biến bẻ từ lời cũ, hay mới sáng tác, bằng vào làn hơi và giọng điệu chơn chất đặc trưng của mình.
Nhắc đến dân ca Nam bộ thì không thể bỏ qua hò – điệu hát bình dân đồng quê, được thể hiện bởi âm tiết đơn giản, làn điệu dìu dặt, nhẹ nhàng, truyền cảm. Hò diễn ra trong nhiều trường hợp. Nếu hò lẻ một mình gọi hò rơi. Đây không phải là cuộc hò (hò hội, hò kết) mà là ngẫu hứng tự nhiên. Người ta hò lên cốt để vui miệng, vui tai, gọi là hò buông rơi. Câu hò rất “vô tư”, không có ý bỏ, gài, nên không chờ ai bắt, gỡ. Tuy nhiên, có khi ai đó nghe được, cảm thấy “trúng hệ”, họ không thể không cất tiếng hò nối theo. Cứ thế mà luân phiên suốt, y như một sự hàn huyên của những người bạn thân tâm đầu ý hợp lâu ngày mới gặp lại. Nếu họ hò đối đáp xung quanh một chủ đề, cũng có thể kể là cuộc hò.

Ta thử dõi theo một cuộc hò khá gay cấn giữa chàng trai “Hai Huyện” của An Giang và cô gái Mỹ Hiệp (Chợ Mới-An Giang). Mở đầu là những câu hò rao, hay hò dạo, nội dung chào mời, thăm hỏi, mừng bạn. Họ rào đón từ tốn. Giọng điệu, lời lẽ khiêm nhường nhằm ngầm tìm hiểu, dò dẫm tình ý, tài nghệ. Để không phải đợi chờ lâu, mở đầu là vài câu “mồi” cũng là “đưa ra thể lệ”:
Hò ơ… Một đàn cò trắng bay chung.
Bên nam bên nữ ta đồng cất lên
Cất lên một tiếng linh đình
Cho loan sánh phụng, ờ…
Hò ơ… Cho loan sánh phụng, cho mình sánh ta, ơ…
Hò ơ… Cất lên một tiếng la đà.
Đàn ông hát trước đàn bà hát sau, ơ…
Thấy đã “có không khí”, từ đám đông một anh chàng khá dễ thương cất cao giọng:
Hò ơ… Tôi xin mở lời chào,
Chào hết nội gia
Bên hữu đàn bà bên tả đàn ông
Đông tây tôi chào hết một vòng
Tôi mời cô nào son rỗi, ờ…
Hò ơ… Cô nào son rỗi thì xông vô hò, ơ…
Ngay lúc đó, một cô thôn nữ được các bạn gái đẩy đẩy vào, dạn dĩ:
Hò ơ… Tới đây không hát không hò thì cô bác cho là quê
Mà hò mà hát thì sợ cô bác cho là tôi mê người tình, ờ…
Một bà cụ bỏm bẻm “khích tướng”:
Hò ơ… Tới đây không hát thời hò,
Không phải con cò ngóng cổ mà nghe ơ…
Hò ơ… Con cò nó ở ngọn tre.
Mà nó còn xuống đất đặng chờ nghe cô hò đó cô ơi…”
Nàng đưa vội ánh mắt về phía chàng rồi:
Hò ơ… Áo đen tra nút cũng đen,
Tôi hò với người lạ chớ người quen tôi hổng hò, ờ…
Phớt nhìn nhan sắc mặn mòi và qua giọng hò, chàng lại nghĩ ngay là gái Mỹ Hiệp! Chàng không bỏ lỡ cơ hội bằng vàng, xắn ngay liền:
Hò ơ… xứ không quen, người thời cũng lạ,
Muốn cất tiếng hò trong dạ hoài nghi,
Cô em có chồng chưa nói thiệt ra đi!
Bữa sau anh cậy mai đến nói, ờ…
Hò ơ… Anh cậy mai đến nói, sẵn biết đường đi khỏi tìm, ờ…
Đâu đó có vài tiếng cười khúc khích… Nàng không vội gì “nói thiệt”, cất tiếng “tìm hiểu” một cách khá… “ngây thơ”:
Hò ơ… Áo trắng không vắn không dài
Sao anh không bận ờ…
Hò ơ… Sao anh không bận, bận hoài áo đen ơ…
Chàng hò đáp rất dễ thương:
Hò ơ… Tui ở cho cô bác người ta khen
Áo trắng xếp cất ờ…
Hò ơ… Áo trắng xếp cất, áo đen đi mần ơ…
Nàng tiếp tục “tấn công”, nhưng cũng trong tinh thần “tìm hiểu”:
Hò ơ… Gặp anh đây giữa đường giữa sá,
Em hỏi anh ở nhà ngói hay nhà lá,
Cửa khóa hay cửa gài,
Trâu anh được mấy đôi,
Ruộng anh thời mấy mẫu, ờ…
Hò ơ… Ruộng anh thời mấy mẫu, mà bạc anh dư xài hay tạm đỡ của ai ơ…
Chàng vẫn rất tự tin “chỉnh nhẹ”:
Hò ơ…Cô em ơi, cô em đừng có thấy người ta giàu mà bưng mà bợ
Cô em đừng có tưởng anh đây nghèo mà sợ mà khinh
Nhà người ta cột căm xe nền đúc ờ…
Ờ… ơ… Nhà cột căm xe nền đúc (mà) còn đứt chưn… nhãn… ớ… tiền ờ… ơ…
Rồi được trớn, hò luôn:
Hò ơ… Phụ mẫu anh nghèo, dòng họ anh đông,
Mỗi người một đồng cũng cưới được em! ơ…
Nói nghèo mà khoe dòng họ đông, theo quan niệm xưa, rõ ràng chàng gián tiếp để lộ phần nào đặc điểm con nhà gia thế. Nàng hò đáp:
Hò ơ… Anh về tìm vảy con cá trê,
Tìm gan con tôm sú, tìm mề con lươn, ơ…
Ơ ơ… Anh tìm con bướm có xương ơ… ơ…
Ờ ơ… Dây tơ hồng có rễ (mà) đạo cang thường, ờ…
Hò ơ… Đạo cang thường chịu anh ơ…
Đến lúc này anh chàng mới té ngửa ra rằng hoa kia đã có chủ! Hèn nào nãy giờ vẫn cứ văng vẳng giọng cười tinh nghịch! Cụt hứng, chàng vừa đi riết xuống bến vừa nhổ sào vừa lịch sự hò kiếu một câu làm nức lòng người dự khán:
Hò ơ… Anh đi anh nhớ Tháp Mười,
Nhớ câu hò Mỹ Hiệp, ờ…
Hò ơ… Nhớ câu hò Mỹ Hiệp, nhớ giọng cười Mỹ Long, ơ…
Tương truyền chàng trai về lại quê nhà, miệt Cù lao Ông Chưởng. Một thời gian sau, có chút danh phận chi đó, để kỷ niệm cuộc hò ấn tượng năm xưa, “chàng trai Hai Huyện” đã đề nghị với các hương chức (và được chấp thuận) đặt tên hai làng quê đẹp ở xứ mình là Mỹ Hiệp và Mỹ Long (sau gọi trại là Mỹ Luông).
Tóm lại, dù là như hò lẻ hay hò kết, hò môi (hò mép hay hò bắt quàng), hò văn (hay hò sách), hò thơ, hò truyện (truyện Tàu), hò tuồng, hò tiểu thuyết, hò thầy chùa, hò quốc sự…thì cấu trúc của một giọng (điệu) hò đều chia làm 3 giai đoạn. Trước hết là cất cao giọng lấy hơi (Hò ơ…- dài hay ngắn, liên tục hay đứt khúc là do trình độ biểu diễn của nghệ nhân). Kế đó là là lời kể (trình bày nội dung, nêu lên một hay nhiều vấn đề, tùy ý. Nếu dài thì tự phân ngắt để nghỉ hơi ơ, ờ…; thường thì lúc hò tiếp, người ta lặp lại câu khi nghỉ lúc nãy để người nghe dễ dàng cảm nhận được tính liên tục). Sau hết là giọng ngân (ngân dài ra theo âm của tiếng cuối câu chót, như lúc nghỉ hơi, nhưng ngân dài hơn), nếu hụt hơi thì coi như thua, “đứt” về mặt nghệ thuật.
Tuy nhiên điệu hò ở Đồng Tháp có khác đôi chút. Những tiếng “hò ơ” hay “hò hơ” được thay bằng “hòa ơ” hoặc “hòa hơ”… Làn hơi phải mượt mà và tròn tiếng, đặc biệt nhất là sự luyến láy sao cho thật ngọt tai. Có thể nói, tất cả những câu (bài) ca dao thuộc loại trữ tình đều biểu diễn được dưới dạng “hò”. Nghệ nhân chỉ cần bắt đầu bằng những tiếng Hò hơ (hay Hòa ơ…), và thêm tiếng đưa hơi “ờ” ở giữa câu cuối (để lấy hơi), xong, lại bắt đầu bằng tiếng “Hò ơ” khi ngâm câu cuối, và tất nhiên tiếng cuối của câu cuối ấy cũng có tiếng “ơ”. Vậy là nghệ nhân đã hoàn tất một câu hò, để nhường lời cho đối tượng đang hò đối đáp với mình. Ông Nguyễn Hiến Lê có ghi nhận một cuộc hò Ghen vì hò trong sách Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười. Xin trích vài câu nam và nữ đối đáp. Bên nam cất tiếng:
Hò o o ớ ớ… Mù u bông trắng lá thắm nhụy vàng ơ ơ ơ…
Anh đi khắp xứ, tới đây mới được gặp nàng ơ ơ ơ… thật là dễ thương ơ ơ…
Hò o o ớ ớ… Nghe giọng nàng, anh vẫn vơ vẩn vấn vương,
Sống cùng nhau chẳng được, cho anh phải mơ màng chiêm bao…
Bên nữ đáp lại:
Hò o o ớ ớ… Lửng da trời bay lượn con chim hồng,
Gặp nhau sao quá trễ cho tấm lòng này xót xa,
Đêm nằm em luống những thở ra,
Đôi ta chẳng…
Tới tiếng “đôi ta” , mắt cô gái sáng lên, đắm đuối trong ánh trăng và giọng hơi lơi lả, khiến người chồng đi ngang nổi cơn ghen…
Rõ ràng “hò Nam Bộ” mỗi vùng miền mỗi khác, chứ phải đâu “hò nào cũng là hò”!
Tài liệu tham khảo:
- Nguyễn Hiến Lê, Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười. Nxb. Nguyễn Hiến Lê, S., 1954.
– Thơ văn Đồng Tháp trước 1945, Gs. Lê Trí Viễn (chủ nhiệm). Nxb. Tổng hợp Đồng Tháp, 1986.

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

Gắn liền với sông nước Nam bộ, chợ nổi trên sông là nét văn hóa đặc trưng vùng miền. Chợ nổi là nơi trao đổi, mua bán nhiều loại hàng hóa với những chiếc ghe, chiếc xuồng bồng bềnh trên mặt nước, dễ dàng di chuyển. Miền Tây nổi tiếng với những chợ nổi có quy mô lớn như chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ), chợ nổi Phụng Hiệp (Hậu Giang), chợ nổi Long Xuyên (An Giang)… Ở huyện cù lao Chợ Mới (An Giang) có một chợ nổi chỉ buôn bán một thứ hàng hóa khá đặc biệt: tro. Đó là chợ tro Trà Thôn.
Huyện Chợ Mới là một trong bốn huyện cù lao của tỉnh An Giang, được sông Tiền, sông Hậu bao bọc và bồi đắp phù sa nên đất đai ở đây màu mỡ, thích hợp với việc trồng hoa màu. Vì thế, Chợ Mới luôn là địa phương dẫn đầu An Giang về cung cấp hoa màu cho thị trường trong và ngoài tỉnh, có khi xuất sang Campuchia. Huyện cù lao này từ xưa đã nổi tiếng với câu lục bát: Chiều chiều quạ nói với diều – Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm; và đã đi vào lời ca, làm say đắm lòng người: “Cái chợ có hồi nào và bao nhiêu tuổi? Mà ai cũng bảo rằng: Chợ Mới quê hương! Ở nơi đó, tôi có một người thương. Cứ chiều chiều nàng ra bờ sông giặt áo…” (Chợ Mới – Trọng Nguyễn).
Trà Thôn là kinh nối liền sông Tiền với sông Ông Chưởng thuộc huyện Chợ Mơi tỉnh An Giang, là con kinh do người dân đào đất mà thành. Hai bờ kinh thuộc hai ấp Long Quới 1 và Long Quới 2 (xã Long Ðiền B), nơi có nhiều hộ dân sinh sống bằng nghề mua bán tro đã hơn 20 năm, tập trung đông nhất khoảng một cây số ở đoạn đầu kinh Trà Thôn thông với sông Ông Chưởng.
Lúc đầu, chỉ có mấy hộ gia đình nghèo, không có đất canh tác, bỏ công đi hốt tro về bán cho nhà vườn chung quanh kiếm lời. Mà đất ở đây tốt lắm, không cần sử dụng đến tro, nên cũng khó bán. Vì vậy, bà con lấy ghe chở tro sang các tỉnh khác bán.. Thấy có được chút lời, nhiều người xúm vào làm, dần dần đông đúc như ngày nay.
Ngày trước nhà ai cũng làm ruộng, cắt lúa bằng tay, máy suốt xong, rạ rơm chất thành đống, đốt đồng xong, mặc sức mà hốt tro. Và nhà nào cũng nấu lò củi hoặc lò trấu, rồi cây lá trong vườn, sau nhà rụng xuống, họ gom lại đốt, tro bỏ không, bay mù mịt. Có người hốt, họ mừng lắm! Đến lúc nguồn tro tại chỗ cạn thì họ đi các đồng lân cận, các huyện lân cận,… có người còn đi tới Bến Tre, Trà Vinh hốt tro. Cho nên mới có người đi hốt tro và người thu mua tro, dần dần hình thành chợ nổi tro Trà Thôn.
Về Trà Thôn những ngày cuối hè ta có thể thấy cả trăm chiếc ghe tro đậu dọc dài hai bên bờ kênh Trà Thôn và dòng sông Ông Chưởng để cất hàng. Không chỉ bán tro cho các chủ vựa ở Trà Thôn mà nhiều chủ vườn trồng hoa kiểng, cây ăn trái ở miệt Sa Đéc, Cái Mơn, Vĩnh Long… cũng tìm đến tận “thương cảng tro rơm Trà Thôn” để mua. Hiện nay ở Trà Thôn có hàng trăm chủ vựa tro lớn, nhỏ. Vựa tro lớn nhất có cả trăm ngàn giạ, nhỏ nhất cũng mười, hai mươi ngàn giạ…
Dưới kinh ghe nhỏ, tàu lớn buôn bán tấp nập. Ghe, tàu nào cũng lố nhố bóng người giậm tro, cào tro, đội tro… Còn hai bên đường, đi tới đâu cũng thấy những đụn tro chất đống, cao lêu nghêu được quây bạt để che mưa. Giữa trưa, có tiếng ca thiệt mùi của anh thanh niên nào đó cải biên bản vọng cổ Tình anh bán chiếu:
Tro Trà Thôn cắm sào khắp ngả
Thấy tôi đen đúa cô chớ vội cười
Tro này bán hổng mắc đâu
Ruộng vườn cô trúng chúng mình nên duyên…
tro

Chợ Tro Trà Thôn

Tùng Phạm  |  at  23:18

Gắn liền với sông nước Nam bộ, chợ nổi trên sông là nét văn hóa đặc trưng vùng miền. Chợ nổi là nơi trao đổi, mua bán nhiều loại hàng hóa với những chiếc ghe, chiếc xuồng bồng bềnh trên mặt nước, dễ dàng di chuyển. Miền Tây nổi tiếng với những chợ nổi có quy mô lớn như chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ), chợ nổi Phụng Hiệp (Hậu Giang), chợ nổi Long Xuyên (An Giang)… Ở huyện cù lao Chợ Mới (An Giang) có một chợ nổi chỉ buôn bán một thứ hàng hóa khá đặc biệt: tro. Đó là chợ tro Trà Thôn.
Huyện Chợ Mới là một trong bốn huyện cù lao của tỉnh An Giang, được sông Tiền, sông Hậu bao bọc và bồi đắp phù sa nên đất đai ở đây màu mỡ, thích hợp với việc trồng hoa màu. Vì thế, Chợ Mới luôn là địa phương dẫn đầu An Giang về cung cấp hoa màu cho thị trường trong và ngoài tỉnh, có khi xuất sang Campuchia. Huyện cù lao này từ xưa đã nổi tiếng với câu lục bát: Chiều chiều quạ nói với diều – Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm; và đã đi vào lời ca, làm say đắm lòng người: “Cái chợ có hồi nào và bao nhiêu tuổi? Mà ai cũng bảo rằng: Chợ Mới quê hương! Ở nơi đó, tôi có một người thương. Cứ chiều chiều nàng ra bờ sông giặt áo…” (Chợ Mới – Trọng Nguyễn).
Trà Thôn là kinh nối liền sông Tiền với sông Ông Chưởng thuộc huyện Chợ Mơi tỉnh An Giang, là con kinh do người dân đào đất mà thành. Hai bờ kinh thuộc hai ấp Long Quới 1 và Long Quới 2 (xã Long Ðiền B), nơi có nhiều hộ dân sinh sống bằng nghề mua bán tro đã hơn 20 năm, tập trung đông nhất khoảng một cây số ở đoạn đầu kinh Trà Thôn thông với sông Ông Chưởng.
Lúc đầu, chỉ có mấy hộ gia đình nghèo, không có đất canh tác, bỏ công đi hốt tro về bán cho nhà vườn chung quanh kiếm lời. Mà đất ở đây tốt lắm, không cần sử dụng đến tro, nên cũng khó bán. Vì vậy, bà con lấy ghe chở tro sang các tỉnh khác bán.. Thấy có được chút lời, nhiều người xúm vào làm, dần dần đông đúc như ngày nay.
Ngày trước nhà ai cũng làm ruộng, cắt lúa bằng tay, máy suốt xong, rạ rơm chất thành đống, đốt đồng xong, mặc sức mà hốt tro. Và nhà nào cũng nấu lò củi hoặc lò trấu, rồi cây lá trong vườn, sau nhà rụng xuống, họ gom lại đốt, tro bỏ không, bay mù mịt. Có người hốt, họ mừng lắm! Đến lúc nguồn tro tại chỗ cạn thì họ đi các đồng lân cận, các huyện lân cận,… có người còn đi tới Bến Tre, Trà Vinh hốt tro. Cho nên mới có người đi hốt tro và người thu mua tro, dần dần hình thành chợ nổi tro Trà Thôn.
Về Trà Thôn những ngày cuối hè ta có thể thấy cả trăm chiếc ghe tro đậu dọc dài hai bên bờ kênh Trà Thôn và dòng sông Ông Chưởng để cất hàng. Không chỉ bán tro cho các chủ vựa ở Trà Thôn mà nhiều chủ vườn trồng hoa kiểng, cây ăn trái ở miệt Sa Đéc, Cái Mơn, Vĩnh Long… cũng tìm đến tận “thương cảng tro rơm Trà Thôn” để mua. Hiện nay ở Trà Thôn có hàng trăm chủ vựa tro lớn, nhỏ. Vựa tro lớn nhất có cả trăm ngàn giạ, nhỏ nhất cũng mười, hai mươi ngàn giạ…
Dưới kinh ghe nhỏ, tàu lớn buôn bán tấp nập. Ghe, tàu nào cũng lố nhố bóng người giậm tro, cào tro, đội tro… Còn hai bên đường, đi tới đâu cũng thấy những đụn tro chất đống, cao lêu nghêu được quây bạt để che mưa. Giữa trưa, có tiếng ca thiệt mùi của anh thanh niên nào đó cải biên bản vọng cổ Tình anh bán chiếu:
Tro Trà Thôn cắm sào khắp ngả
Thấy tôi đen đúa cô chớ vội cười
Tro này bán hổng mắc đâu
Ruộng vườn cô trúng chúng mình nên duyên…

Bài Viết Cùng Chủ Đề

© 2015 Hai Lúa Miền Tây | Design by Tùng Phạm
| Design by Tùng Phạm.