Bài Viết Mới

Hiển thị các bài đăng có nhãn cá sấu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cá sấu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

Cư dân Nam Bộ bao đời nay đã phải vất vả, gian lao trong công cuộc chinh phục thiên nhiên, biến rừng hoang cỏ rậm thành đồng ruộng bao la thẳng cánh cò bay, với vườn cây trái trĩu quả, tôm cá đầy sông… Đó là những con người dũng cảm, gan dạ, dám xuống sông hốt trứng sấu, lên rừng xỉa răng cọp, chống lại rắn rít, muỗi mòng, ma thiên nước độc…
Truyền thuyết ở Nam Bộ tuy ra đời muộn nhưng phản ánh khá đầy đủ quá trình chinh phục tự nhiên, đấu tranh xã hội của con người nơi đây. Trong đó truyền thuyết về các anh hùng thời mở đất là một ví dụ điển hình.
Đây là hệ thống truyện kể đặc sắc nhất trong truyện kể dân gian góp phần biểu dương những nhân vật anh hùng thời khai phá mà ký ức dân gian đã dành cho họ một tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc.
Để sinh tồn, những lưu dân Nam bộ ngoài việc phải chống lại thời tiết khắc nghiệt, còn phải chống lại với rất nhiều ác thú. Trong các loài ác thú mà những lưu dân thời khẩn hoang phải đương đầu và chống chọi với chúng nhiều nhất có lẽ là cọp và sấu. Đây là hai loài vật nguy hiểm nhất và được truyền miệng trong dân gian qua nhiều câu chuyện li kỳ nhất. Xin trích dẫn hai câu chuyện về sấu và cọp để thấy rõ hơn sự trí dũng của cha ông ta thời xưa.
“Trấn (Vĩnh Thanh) ấy lại có nhiều cá sấu và cọp dữ. Dân địa phương sống quen nên chẳng hề sợ. Đờn bà con nít có khi cầm dao cắt cỏ hay cầm cây đòn xóc gánh mạ cũng có thể đánh cọp và bắt đặng cọp.
Năm trước trong khúc sông Tiên (Sa Đéc) có con cá sấu mình lớn năm vây, dài đến sáu trượng, hằng ngày đón chận ghe qua, đánh lắc cho văng người xuống, hoặc đánh lật úp ghe rồi nhảy vọt lên táp nuốt. Người ta gọi tên con sấu ấy là “ông luồng” và đã dùng hết cách để trừ nó mà rốt lại cũng chẳng đặng.
Bấy giờ có người thợ câu nhà nghề dùng một lưỡi câu sấu thật to, móc chặt một con vịt sống, rồi dùng dây mây cũng to, xỏ qua lỗ hậu lưỡi câu dính liền với thân con vịt, đoạn anh nhảy ùm xuống nước, bơi lội nhử mồi.
Sấu nghe hơi liền nổi lên rượt đuổi.
Người thợ câu lành nghề kia biết sấu không có mang tai, không tài nào hả họng trong nước đặng; còn cái đuôi sấu thì dẫu có cựa quậy cũng chẳng có chỗ hại gì. Nhân vậy mới trêu đùa với sấu và đợi đến lúc nó tấn gần sát lại bên mình, cất lên mặt nước toan táp, anh mới thừa cơ ném vịt tới miệng nó.
Trong lúc sấu lo nuốt vịt thời anh thợ câu hụp xuống nước, lặn ngầm vào bờ, hô nhau kéo riết dây câu vô rồi cùng với dân làng bốn bề ập lại, đâm chết tươi con sấu.
Mối hại từ đó mới tiệt. Tài năng của anh thợ câu nhà nghề ấy chẳng những người trong nước mà ngay cả đến người các nước nghe đến cũng phải giựt mình, lấy làm lạ lùng.”(1)
Câu chuyện đã mô tả cách bắt sấu của người xưa. Nó thể hiện được sự thông minh, tài trí và sự dũng cảm của cha ông ta thuở khai hoang mở cõi. Còn chuyện đánh nhau với cọp dữ: tuy con người hạ được cọp, nhưng cũng phải hy sinh tính mạng.
“Đời chúa Duệ Tông, vào ngày 25 tháng giêng năm Canh Dần (1770), sau lúc mọi người yên nghỉ, chợt có con mãnh hổ chạy tuông vào nhà một người dân ở phía nam chợ (Tân Kiểng), lung lăng gầm rống làm quần chúng địa phương hoảng kinh. Họ chạy báo với dinh đồn gần đó và đặng phái binh đuổi bắt. Người ta phải phá hủy nhiều phòng ốc, làm rào khại nhiều lớp để bủa vây, nhưng gặp nhằm con cọp quá dữ dằn nên không ai dám xáp gần để đánh bắt nó.
Trải ba ngày như vậy, có một nhà sư trên đường du phương đạo hiệu Hồng Ân cùng đồ đệ là Trí Năng, đến tình nguyện đánh bắt mãnh hổ. Sư Hồng Ân cùng với cọp đấu chiến. Hồi lâu, cọp bị gậy đánh đau, phải chạy trốn vào lùm tre. Sư Hồng Ân rượt nà theo cọp. Cọp nột quá phải quày lại chống cự. Bấy giờ nhà sự bước trái, rủi trật chưn té rớt xuống mương, bị cọp phủ, gây thương tích nặng. Đồ đệ Trí Năng đến tiếp viện cho thầy. Dùng miếng độc bổ vào đầu cọp. Cọp chết ngay dưới gậy. Nhưng sư Hồng Ân đã bị trọng thương, nên ngay lúc đó cũng trút hơi thở cuối.
Người trong chợ cho sư Hồng Ân là bực nghĩa khí, nên đem chôn cất tại đó, có xây tháp tử tế.”2
Ngoài hai loài ác thú trên, các lưu dân còn phải chống chọi với heo rừng, các loại rắn… đủ thấy cha ông ta thời khẩn hoang phải chịu vất vả biết nhường nào.
Nhiều truyền thuyết anh hùng khai phá đất mới thường đi vào tín ngưỡng thờ phụng tiền hiền, hậu hiền nơi đình làng. Đó là một cơ chế tinh thần để củng cố sức mạnh cố kết của loại cộng đồng thôn ấp phương Nam (vốn có phần chưa kịp bện kết chặt chẽ). “Sức mạnh xã hội và sức mạnh thẩm mỹ của hiện tượng này quan trọng tới mức nhà nước phong kiến phải dùng cách sắc phong cho các vị đó là thành hoàng, với hy vọng cấy được uy tín của vương triều vào đời sống thôn ấp.”(3) Điều này góp phần tôn vinh các bậc tiền nhân trong quá trình khai phá, đã đặt những nhát rựa đầu tiên lên những lùm mây rậm, những vạt rừng thiêng của xứ này. Công cuộc chinh phục tập thể đối với một thiên nhiên dữ dội, nhất là đối với thú dữ, đã được găm lại trong ký ức thẩm mỹ dân gian dưới dạng các truyền thuyết về Đầu Sấu, Cái Răng, Ông Chưởng, Cù Lao Trâu, Vàm Bà Bầy… Truyền thuyết về Đầu Sấu, Cái Răng kể rằng: “Ngày xưa, ở Vàm sông Cần Thơ, nơi giáp giới giữa hai làng Thường Thạnh và Tân An, tương truyền rằng có một con sấu rất lớn và hung dữ. Khi sấu nổi lên nó to bằng chiếc xuồng ba lá, dài 5-6 thước, có hai hàng đèn sáng rực trên lưng. Nhiều người đi qua khúc sông này bằng xuồng, ghe đã bị con sấu nổi lên quật chìm và cắp đi mất xác.
Điều lạ là con sấu rất mê xem hát bội. Những lần đình làng tổ chức cúng lễ thượng điền, hạ điền có mời gánh hát bội về diễn, con sấu đều trườn lên bãi nằm xem. Đám đông đang xem hát trên sân đình hoảng loạn, bỏ chạy tứ phía. Nhưng thấy con sấu chẳng làm hại ai, chỉ nổi lên xem hát bội nên người ta quay lại, chẳng còn sợ hãi nữa. Ông xã trưởng còn sai người làng ném đồ cúng xuống cho sấu ăn. Dân làng quen dần với việc sấu xem hát bội cúng đình hàng năm.
Chung quanh sấu coi hát bội cũng có câu chuyện: Năm đó, trong làng có một người lực điền yêu và làm đám cưới với một cô thôn nữ ở làng bên. Đám rước dâu có hàng chục xuồng, ghe, có dàn nhạc lễ, trống kèn… vui như ngày hội. Khi đám rước đi ngang khúc sông nọ, bất thần con sấu nổi lên, nó quật đuôi thật mạnh làm chìm 3-4 chiếc xuồng, ghe. Những người đi trong đám rước ném bỏ lễ vật, cố chèo chống, bơi lội thoát thân. Khi đã lên được trên bờ, điểm mặt từng người lại thì thấy mất tích cô dâu. Chú rể đau đớn, vật vã…
Anh ta về rắp tâm giết cho bằng được con sấu, trả mối hận mất vợ. Anh gom góp hết vốn liếng, gia sản đi mời cho bằng được 3 gánh hát bội nổi tiếng trong vùng và vận động trai tráng ở các làng hợp sức với anh.
Đêm đó, gánh hát bội đầu tiên dựng rạp hát phía trong vàm rạch từ rất sớm. Con sấu nghe tiếng trống, tiếng đàn, nổi lên bơi vào xem. Khi gánh hát đầu tiên hạ màn, thì cách đó không xa, đi sâu vào con rạch, gánh hát bội thứ hai bắt đầu khai diễn. Trong khi đó, hàng trăm trai làng lặng lẽ, thay phiên nhau đốn gỗ, xóc trụ, đào đất đắp một con đập to ngoài đầu vàm. Khi con sấu xem xong gánh hát bội thứ ba ở sâu trong ngọn rạch thì trời cũng vừa ửng sáng, nước đang ròng chỉ còn khoảng một phần ba sông, con đập cũng vừa hoàn thành.
Con sấu uể oải bơi ra sông cái sau một đêm trắng xem hát. Nhưng không còn kịp nữa, nó bị chặn lại bằng con đập khi ra đến đầu vàm. Từ trên bờ, hàng ngàn mũi lao bằng gốc tầm vông già vạt nhọn, những mũi chĩa đinh ba… nhắm ngay con sấu phóng tới. Tiếng hò hét vang động… Chàng lực điền giành phần phanh da, xả thịt con sấu.
Mặc dù có chung cội nguồn với văn hóa truyền thống, nhưng văn hóa Nam Bộ lại chịu sự quy định của điều kiện môi trường địa lý nên văn hóa ở đây vẫn có những nét khu biệt cao so với văn hóa cội nguồn. Cơ chế làng ở Nam Bộ là cơ chế mở chứ không khép kín nên những khó khăn vất vả hiểm nguy về con người thời khai hoang mở cõi, vật lộn với muỗi mòng, rắn rít, đấu tranh với thiên nhiên, với thú dữ… đã được thể hiện bằng các truyền thuyết anh hùng.
văn hóa

Một Số Truyền Thuyết Về Các Anh Hùng Thời Mở Đất Phương Nam

Tùng Phạm  |  at  00:51

Cư dân Nam Bộ bao đời nay đã phải vất vả, gian lao trong công cuộc chinh phục thiên nhiên, biến rừng hoang cỏ rậm thành đồng ruộng bao la thẳng cánh cò bay, với vườn cây trái trĩu quả, tôm cá đầy sông… Đó là những con người dũng cảm, gan dạ, dám xuống sông hốt trứng sấu, lên rừng xỉa răng cọp, chống lại rắn rít, muỗi mòng, ma thiên nước độc…
Truyền thuyết ở Nam Bộ tuy ra đời muộn nhưng phản ánh khá đầy đủ quá trình chinh phục tự nhiên, đấu tranh xã hội của con người nơi đây. Trong đó truyền thuyết về các anh hùng thời mở đất là một ví dụ điển hình.
Đây là hệ thống truyện kể đặc sắc nhất trong truyện kể dân gian góp phần biểu dương những nhân vật anh hùng thời khai phá mà ký ức dân gian đã dành cho họ một tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc.
Để sinh tồn, những lưu dân Nam bộ ngoài việc phải chống lại thời tiết khắc nghiệt, còn phải chống lại với rất nhiều ác thú. Trong các loài ác thú mà những lưu dân thời khẩn hoang phải đương đầu và chống chọi với chúng nhiều nhất có lẽ là cọp và sấu. Đây là hai loài vật nguy hiểm nhất và được truyền miệng trong dân gian qua nhiều câu chuyện li kỳ nhất. Xin trích dẫn hai câu chuyện về sấu và cọp để thấy rõ hơn sự trí dũng của cha ông ta thời xưa.
“Trấn (Vĩnh Thanh) ấy lại có nhiều cá sấu và cọp dữ. Dân địa phương sống quen nên chẳng hề sợ. Đờn bà con nít có khi cầm dao cắt cỏ hay cầm cây đòn xóc gánh mạ cũng có thể đánh cọp và bắt đặng cọp.
Năm trước trong khúc sông Tiên (Sa Đéc) có con cá sấu mình lớn năm vây, dài đến sáu trượng, hằng ngày đón chận ghe qua, đánh lắc cho văng người xuống, hoặc đánh lật úp ghe rồi nhảy vọt lên táp nuốt. Người ta gọi tên con sấu ấy là “ông luồng” và đã dùng hết cách để trừ nó mà rốt lại cũng chẳng đặng.
Bấy giờ có người thợ câu nhà nghề dùng một lưỡi câu sấu thật to, móc chặt một con vịt sống, rồi dùng dây mây cũng to, xỏ qua lỗ hậu lưỡi câu dính liền với thân con vịt, đoạn anh nhảy ùm xuống nước, bơi lội nhử mồi.
Sấu nghe hơi liền nổi lên rượt đuổi.
Người thợ câu lành nghề kia biết sấu không có mang tai, không tài nào hả họng trong nước đặng; còn cái đuôi sấu thì dẫu có cựa quậy cũng chẳng có chỗ hại gì. Nhân vậy mới trêu đùa với sấu và đợi đến lúc nó tấn gần sát lại bên mình, cất lên mặt nước toan táp, anh mới thừa cơ ném vịt tới miệng nó.
Trong lúc sấu lo nuốt vịt thời anh thợ câu hụp xuống nước, lặn ngầm vào bờ, hô nhau kéo riết dây câu vô rồi cùng với dân làng bốn bề ập lại, đâm chết tươi con sấu.
Mối hại từ đó mới tiệt. Tài năng của anh thợ câu nhà nghề ấy chẳng những người trong nước mà ngay cả đến người các nước nghe đến cũng phải giựt mình, lấy làm lạ lùng.”(1)
Câu chuyện đã mô tả cách bắt sấu của người xưa. Nó thể hiện được sự thông minh, tài trí và sự dũng cảm của cha ông ta thuở khai hoang mở cõi. Còn chuyện đánh nhau với cọp dữ: tuy con người hạ được cọp, nhưng cũng phải hy sinh tính mạng.
“Đời chúa Duệ Tông, vào ngày 25 tháng giêng năm Canh Dần (1770), sau lúc mọi người yên nghỉ, chợt có con mãnh hổ chạy tuông vào nhà một người dân ở phía nam chợ (Tân Kiểng), lung lăng gầm rống làm quần chúng địa phương hoảng kinh. Họ chạy báo với dinh đồn gần đó và đặng phái binh đuổi bắt. Người ta phải phá hủy nhiều phòng ốc, làm rào khại nhiều lớp để bủa vây, nhưng gặp nhằm con cọp quá dữ dằn nên không ai dám xáp gần để đánh bắt nó.
Trải ba ngày như vậy, có một nhà sư trên đường du phương đạo hiệu Hồng Ân cùng đồ đệ là Trí Năng, đến tình nguyện đánh bắt mãnh hổ. Sư Hồng Ân cùng với cọp đấu chiến. Hồi lâu, cọp bị gậy đánh đau, phải chạy trốn vào lùm tre. Sư Hồng Ân rượt nà theo cọp. Cọp nột quá phải quày lại chống cự. Bấy giờ nhà sự bước trái, rủi trật chưn té rớt xuống mương, bị cọp phủ, gây thương tích nặng. Đồ đệ Trí Năng đến tiếp viện cho thầy. Dùng miếng độc bổ vào đầu cọp. Cọp chết ngay dưới gậy. Nhưng sư Hồng Ân đã bị trọng thương, nên ngay lúc đó cũng trút hơi thở cuối.
Người trong chợ cho sư Hồng Ân là bực nghĩa khí, nên đem chôn cất tại đó, có xây tháp tử tế.”2
Ngoài hai loài ác thú trên, các lưu dân còn phải chống chọi với heo rừng, các loại rắn… đủ thấy cha ông ta thời khẩn hoang phải chịu vất vả biết nhường nào.
Nhiều truyền thuyết anh hùng khai phá đất mới thường đi vào tín ngưỡng thờ phụng tiền hiền, hậu hiền nơi đình làng. Đó là một cơ chế tinh thần để củng cố sức mạnh cố kết của loại cộng đồng thôn ấp phương Nam (vốn có phần chưa kịp bện kết chặt chẽ). “Sức mạnh xã hội và sức mạnh thẩm mỹ của hiện tượng này quan trọng tới mức nhà nước phong kiến phải dùng cách sắc phong cho các vị đó là thành hoàng, với hy vọng cấy được uy tín của vương triều vào đời sống thôn ấp.”(3) Điều này góp phần tôn vinh các bậc tiền nhân trong quá trình khai phá, đã đặt những nhát rựa đầu tiên lên những lùm mây rậm, những vạt rừng thiêng của xứ này. Công cuộc chinh phục tập thể đối với một thiên nhiên dữ dội, nhất là đối với thú dữ, đã được găm lại trong ký ức thẩm mỹ dân gian dưới dạng các truyền thuyết về Đầu Sấu, Cái Răng, Ông Chưởng, Cù Lao Trâu, Vàm Bà Bầy… Truyền thuyết về Đầu Sấu, Cái Răng kể rằng: “Ngày xưa, ở Vàm sông Cần Thơ, nơi giáp giới giữa hai làng Thường Thạnh và Tân An, tương truyền rằng có một con sấu rất lớn và hung dữ. Khi sấu nổi lên nó to bằng chiếc xuồng ba lá, dài 5-6 thước, có hai hàng đèn sáng rực trên lưng. Nhiều người đi qua khúc sông này bằng xuồng, ghe đã bị con sấu nổi lên quật chìm và cắp đi mất xác.
Điều lạ là con sấu rất mê xem hát bội. Những lần đình làng tổ chức cúng lễ thượng điền, hạ điền có mời gánh hát bội về diễn, con sấu đều trườn lên bãi nằm xem. Đám đông đang xem hát trên sân đình hoảng loạn, bỏ chạy tứ phía. Nhưng thấy con sấu chẳng làm hại ai, chỉ nổi lên xem hát bội nên người ta quay lại, chẳng còn sợ hãi nữa. Ông xã trưởng còn sai người làng ném đồ cúng xuống cho sấu ăn. Dân làng quen dần với việc sấu xem hát bội cúng đình hàng năm.
Chung quanh sấu coi hát bội cũng có câu chuyện: Năm đó, trong làng có một người lực điền yêu và làm đám cưới với một cô thôn nữ ở làng bên. Đám rước dâu có hàng chục xuồng, ghe, có dàn nhạc lễ, trống kèn… vui như ngày hội. Khi đám rước đi ngang khúc sông nọ, bất thần con sấu nổi lên, nó quật đuôi thật mạnh làm chìm 3-4 chiếc xuồng, ghe. Những người đi trong đám rước ném bỏ lễ vật, cố chèo chống, bơi lội thoát thân. Khi đã lên được trên bờ, điểm mặt từng người lại thì thấy mất tích cô dâu. Chú rể đau đớn, vật vã…
Anh ta về rắp tâm giết cho bằng được con sấu, trả mối hận mất vợ. Anh gom góp hết vốn liếng, gia sản đi mời cho bằng được 3 gánh hát bội nổi tiếng trong vùng và vận động trai tráng ở các làng hợp sức với anh.
Đêm đó, gánh hát bội đầu tiên dựng rạp hát phía trong vàm rạch từ rất sớm. Con sấu nghe tiếng trống, tiếng đàn, nổi lên bơi vào xem. Khi gánh hát đầu tiên hạ màn, thì cách đó không xa, đi sâu vào con rạch, gánh hát bội thứ hai bắt đầu khai diễn. Trong khi đó, hàng trăm trai làng lặng lẽ, thay phiên nhau đốn gỗ, xóc trụ, đào đất đắp một con đập to ngoài đầu vàm. Khi con sấu xem xong gánh hát bội thứ ba ở sâu trong ngọn rạch thì trời cũng vừa ửng sáng, nước đang ròng chỉ còn khoảng một phần ba sông, con đập cũng vừa hoàn thành.
Con sấu uể oải bơi ra sông cái sau một đêm trắng xem hát. Nhưng không còn kịp nữa, nó bị chặn lại bằng con đập khi ra đến đầu vàm. Từ trên bờ, hàng ngàn mũi lao bằng gốc tầm vông già vạt nhọn, những mũi chĩa đinh ba… nhắm ngay con sấu phóng tới. Tiếng hò hét vang động… Chàng lực điền giành phần phanh da, xả thịt con sấu.
Mặc dù có chung cội nguồn với văn hóa truyền thống, nhưng văn hóa Nam Bộ lại chịu sự quy định của điều kiện môi trường địa lý nên văn hóa ở đây vẫn có những nét khu biệt cao so với văn hóa cội nguồn. Cơ chế làng ở Nam Bộ là cơ chế mở chứ không khép kín nên những khó khăn vất vả hiểm nguy về con người thời khai hoang mở cõi, vật lộn với muỗi mòng, rắn rít, đấu tranh với thiên nhiên, với thú dữ… đã được thể hiện bằng các truyền thuyết anh hùng.

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

Từ buổi đầu khai phá vùng đất Nam Bộ, những cư dân nơi đây không chỉ đối mặt với rừng rậm hoang vu mà còn đối mặt với thú dữ tràn đầy. Đánh cọp, đuổi sấu là những hoạt động diễn ra thường xuyên nơi miền đất mới này, nó đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong tâm thức của người dân nơi đây.
Cư dân miền sông nước này giết sấu để trừ mối họa, đồng thời cũng khai thác nguồn lợi từ đó. Sự đối đầu đó đã để lại dấu ấn rõ nét trong tín ngưỡng, truyền thuyết, ca dao, tục ngữ, địa danh…của một thời khẩn hoang, lập ấp, những câu chuyện tưởng như hoang đường mà rất giàu tính hiện thực.
Công cuộc đánh sấu
Có lẽ tài liệu xưa nhất ghi chép về cá sấu ở Nam Bộ là Gia Định thành thông chí:” Sông Tiên Thủy (tục gọi Sóc Sãi Hạ) ở về phía đông sông Hàm Luông, cách trấn về phía đông 96 dặm. Sông rộng 4 tầm, sâu 1 tầm, làng xóm chợ búa rất đông đúc, ghe thuyền tụ tập…Ngoài cửa sông có nhiều cá sấu, có con to bằng chiếc xuồng, tính rất hung dữ, người đi qua phải coi chừng. Dân trong vùng phàm có những ngòi nhỏ, dùng chở gạo củi, hay tưới rửa, thì ở miệng ngòi phải trồng cọc dày kín, để ngăn dòng nước cho khỏi nạn cá sấu”.
Theo Aubaret trong Gia Định thông chí thì:”Rạch Tiên Thủy, năm trước có một con sấu thật to, mình dài đến 60 pieds, cái thân của nó năm người ôm mà không giáp, gọi nó là ông rồng, và sức nó mạnh đến nỗi nó dùng đuôi quất một cái đủ văng người xuống nước để ăn tươi nuốt sống, và ghe xuồng gì đều bị nó quất bể tan tành”.
Vùng bưng Ca Am (kênh Vĩnh Tế, An Giang) là nơi có nhiều cá sấu lửa. Sông Vàm Nao (nối sông Tiền và sông Hậu), dài khoảng 7km nhưng lại là một trong những nơi có mật độ sấu đậm đặc nhất. Các loại cỏ như nghể, đế, lục bình từ miệt trên trôi xuống kẹt lại. Dân đi đào kênh Vĩnh Tế trốn về lội ngang sông này đa phần đều bị sấu ăn thịt.
Trong 2 tháng của năm 1880, người dân ở Cổ Cò (Sóc Trăng) đã bắt được 189 con cá sấu để lãnh thưởng, diệt trừ mối hiểm họa.
Khoảng những năm 1900-1910, cọp, sấu còn hoành hành ở miền quê Bến Tre, Gò Công, An Hóa chứ không riêng vùng sình lầy phía Cà Mau.
Ở cù lao Ngũ Hiệp (huyện Cai Lậy, Tiền Giang) mãi đến năm 1915, cá sấu vẫn còn rất dạn dĩ, phá phách dữ dằn, khiến Đốc phủ Mầu, dữ khét tiếng, đã phải bỏ kế hoạch ngăn rạch nuôi cá trên vùng đất này.
Cụ Trần Văn Tốt, 86 tuổi, gia đình đã nhiều đời sống bằng nghề đáy tại vàm Đầu Sấu: “Ông nội tôi tên là Trần Văn Lang, qua đời năm 1942 và cha tôi là Trần Văn Mùi, qua đời năm 1965 đã từng kể cho con cháu biết rạch Đầu Sấu xưa kia rất hoang vắng, dưới sông có nhiều cá to, sấu lớn thường hại người. Khoảng đầu thế kỷ 20 có một phường săn cá sấu người Chà rất nổi tiếng đã giúp dân làng phóng lao giết chết con sấu to bằng chiếc xuồng năm lá, dài trên 6 mét. Đây là con sấu dữ tợn, một “hung thần” trên sông Cái Răng.
Sấu có nhiều loại: sấu cá, sấu bưng, sấu mun, sấu hoa cà… Sấu bắt được người ta trói hai bên bờ ghe, thả dưới nước, chèo ghe bán dọc đường từ Nam Vang xuống Cần Thơ (nay còn chỗ gọi rạch Đầu Sấu) hoặc bán lên Sài Gòn.
Đối với sấu lửa hung tợn, cách bắt phổ biến là dùng mồi vịt hay mồi chó. Mồi được móc vào lưỡi câu to, bén và nối với sợi dây câu chắc, dài. Thợ săn ôm mồi lội xuống nước, nhử cá sấu đến. Khi cá há miệng định táp, thợ câu nhanh tay ném con mồi vào miệng nó. Sấu bị mắc câu, vùng vẫy dữ dội. Đến khi sấu mệt, người ở trên bờ kéo sợi câu, mang sấu lên.
Một kiểu đi săn khác rất độc đáo, không cần dùng mồi và khá mạo hiểm. Thợ săn lội đứng trên sông, một tay quạt nước, tay kia cầm nón lá che đầu và lưỡi câu. Sấu đánh hơi người, lội đến há miệng táp, người đi săn nhanh tay ném lưỡi câu vào miệng sấu. Kiểu săn này chỉ có người gan dạ và giàu kinh nghiệm mới dám thực hiện.
Ngoài cách câu sấu bằng mồi vịt hoặc người thợ câu mang phao nổi hai bên hông để tự làm mồi, dân vùng U Minh Hạ còn có sáng kiến đốt lửa để bắt sấu, loại sấu cá, sống ở ao giữa rừng.
Trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam, nhà văn Đoàn Giỏi dành hẳn một chương với tiêu đề Phường săn cá sấu, thuật lại việc bắt sấu ngày xưa.
Ngày trước cá sấu nhiều lắm, bàu nào cũng có. Mỗi bàu ít nhất năm bảy con trở lên, gọi là ao cá sấu. Chọn ao cá sấu hoa cà,rồi phát sậy, phát cỏ rũ xuống, phơi nắng vài ngày cho khô. Dùng thuổng đào một đường nhỏ từ mé ao lên rừng, càng xa bờ càng cạn dần, dài chừng mười thước. Sau đó, bỏ sậy, cỏ khô phủ kín mặt bàu và đốt lửa.
Khi lửa tắt thì mặt bàu phủ kín dưới một lớp tro dày hai ba đốt tay. Cá sấu nổi lên thở thì bị tro cay mắt, còn lặn lâu quá thì bị ngạt nên đập đuôi chạy lên bờ. Chúng cứ nối đuôi nhau trườn theo con mương đào sẵn. Thấy người, con nào cũng há họng toan đớp. Thợ săn liền đút vô họng nó một khúc gỗ mớp, dài chừng ba tấc. Nó táp phập một cái, hai hàm răng dính chặt như ngậm kẹo mạch nha, không há ra được. Các thợ săn lập tức cầm mác xắn trên sống lưng, cắt gân đuôi. Lúc này cái đuôi cá sấu đã mất tác dụng. Người đi săn dùng dây lạt trói thúc ké hai chân sau lên lưng, hai chân trước thả tự do, mõm bị khớp lại. Mỗi bàu bắt được vài chục con trong một ngày.
Cứ ba con dùng bốn đoạn tre buộc xâu lại thành một hàng ngang. Lấy hai cây tre dài kiền tất cả, xếp dính liền thành một dọc dài, hướng đầu chúng về phía trước. Sau đó phát sậy dọn một đường như đường cộ trâu thẳng ra bờ sông theo hướng gần nhất. Thợ săn nhảy lên lưng bầy sấu dùng cây mun điều khiển chúng bò ra bờ sông. Thuyền lái mua chực sẵn hoặc gặp khi không có lái thì khiêng từng con bỏ xuống thuyền chở đi bán.
Sấu trong tín ngưỡng
Tục thờ cá sấu được xem là tín ngưỡng cổ xưa của người Khmer. Cá sấu được xem như một ác thần cai quản một phần sông nước. Người Việt về sau cũng theo tín ngưỡng này và họ cá sấu như một biến thể của thần sông.
Từ sông Cái Lớn vào đến ngã Ba Tàu, chỗ đầu doi vàm Xếp (xã Vĩnh Phước B, huyện Gò Quao, Kiên Giang), cách bờ sông khoảng vài chục mét có ngôi miếu thờ thần Cá Sấu. Người dân tròng vùng rất tôn kính và phong làm thần Sông.
Tương truyền vị thần ấy là một con sấu Mun cụt đuôi to cỡ chiếc tàu hay nổi lên tại đây. Con sấu khổng lồ này có cái đuôi dài hơn những con sấu khác, được gọi là “Ô ngạc ngư”. Toàn thân màu đen mốc, sống lưng nổi gai từng khúc, miệng đầy răng lởm chởm. Sấu hay thích đùa giỡn với con mồi trước khi ăn thịt, nó là nỗi kinh hoàng của người dân đi ngang qua khu vực ngã ba sông này.
Một lần sấu Mun định hại hai mẹ con đậu ghe nơi bến sông, bị ông thầy pháp chém đứt khúc đuôi dài gần hai mét. Từ đó về sau sấu trở nên hiền lành không hại một ai. Sấu rất thích xem hát bội. Có lần vì mãi xem nên mắc cạn. Người dân kể lại, họ nghe tiếng cô hồn là những người bị sấu Mun ăn thịt lâu nay, không siêu thoát, hè nhau đẩy ông sấu này xuống lại vùng nước sâu!
Ngày kia, có một con cá sấu đỏ, tên là “Xích ngạc ngư” kéo tới xâm phạm lãnh địa của sấu Mun, rất hung hăng, đập chìm ghe, bắt người liên tục. Sấu Mun lao tới quyết chiến với sấu đỏ, hai bên đánh nhau suốt ba ngày, ba đêm. Sấu đỏ bị giết, còn sấu Mun cũng mất tích. Dân chúng cho rằng, có lẽ sấu Mun bị thương nặng nên tìm về doi đất vàm Xếp mà chết. Họ lập miếu thờ, phong tặng là “Thủy thần sông Cái Lớn”. Người dân cả quyết rằng sấu Mun không chết mà trầm tích tại ngã ba Tàu tu hành, hóa rồng bay lên mây, được Thượng Đế phong làm thủy thần cai quản cả vùng sông Cái Lớn.
Sấu trong ca dao, truyền thuyết
Công cuộc chinh phục vùng đất mới, lớp cư dân Tây Nam Bộ buộc phải đối đầu với những thế lực tự nhiên, trong đó có loài sấu dữ, luôn luôn rình rập làm hại người. Nhất là trong ca dao, được phản ánh rất rõ nét, đậm đặc cái tâm thức của những người đi mở cõi trước một vùng đất trù phú, hết sức hoang sơ và không kém phần khắc nghiệt:
- Chèo ghe sợ sấu cắn chưn.
Xuống bưng sợ đỉa lên rừng sợ ma”
- U Minh khốn khổ quá chừng
Xuống sông sấu bắt, lên rừng cọp tha
-U Minh nước mặn phèn chua
Trăm ngàn cá sấu thi đua vẫy vùng
- U Minh, Rạch Giá, Thị Quá, Sơn Trường
Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua
- Đồng Nai xứ sở lạ lùng
Dưới sông sấu lội, trên bờ cọp um
Không phong phú như truyện kể về cọp, nhưng các truyền thuyết, truyện tích về sấu cũng giúp ta hiểu được quan niệm nhân sinh, thế ứng xử với thiên nhiên của người dân Tây Nam Bộ. Đó là các truyện Ông Đình Tây và sấu Năm Chèo; Truyền thuyết thần Ô Ngư Ngạc; Truyền thuyết núi Thuyền (Khmer); Sấu Ba Kè và vua Gia Long; Bị sấu đớp mà thoát được; Cá sấu xem hát bội; Sự tích địa danh Đầu Sấu, Cái Da, Cái Răng; Bưng sấu hì; Đá cá sấu…
Sấu trong địa danh
-Dấu vết của “ngạc ngư” thể hiện trong các địa danh ở Tây Nam Bộ lại hết sức da dạng, phong phú. Có cả những địa danh Khmer trong số đó.
-Đìa Sấu (Cai Lậy, Tiền Giang), nơi tập trung nhiều cá sấu.
-Rạch Đầu Sấu ở xã Vĩnh Đại, huyện Vĩnh Hưng (Long An).
-Cầu Đầu Sấu ở quận Cái Răng (Cần Thơ) là “đầu con cá sấu” vì người Việt xưa rất sợ cá sấu nên thường thờ đầu cá sấu bên sông (theo Sơn Nam). Khoảng năm 1940, nơi đây vẫn còn cảnh làm thịt sấu tại đầu vàm. Sấu thịt được chở về từ Nam Vang và An Giang bằng xuồng, ghe. Buôn bán rất sung, người mua khá đông giống như một lò mổ. Lúc đó vàm nầy đã có tên là vàm Đầu Sấu. Tại khu vực 1, phường An Bình (TP. Cần Thơ) hiện nay vẫn còn một ngôi chùa cổ kính mang tên là chùa Ông Vàm Đầu Sấu.
-Ấp Đầu Sấu Đông, ấp Đầu Sấu Tây (xã Lộc Ninh, huyện Hồng Dân, Bạc Liêu). Đầu Sấu trong tiếng Khmer là Khal Kropơ. Trong truyền thuyết Núi Thuyền (Phnom Sampâu) của người Khmer, ngọn đồi nổi lên ngay chỗ con sấu chết gọi là Đồi Sấu (Phnom Krapư), hai cái đầm chỗ sấu quậy đầu và đuôi gọi là Bưng Mũi (Bâng Chromoc) và Bưng Đuôi (Bâng Kantuôi).[31]
-Rạch Bỏ Lược (Cà Mau). Truyền thuyết kể về một người mẹ có con bị cá sấu ăn thịt. Để trả thù, bà lấy mác đâm con cá sấu và cả hai cùng chết, chỉ để lại một cái lược bà đang chải tóc.
-Rạch Cái Cá ở xã Quới Điền, huyện Thạnh Phú (Bến Tre), gọi là “rạch cá” vì dưới rạch này trước đây có nhiều cá sấu.
-Rạch Cái Cấm bao quanh cù lao Thanh Tân, nay thuộc xã Tân Thanh Bình, huyện Mỏ Cày (Bến Tre). Cái Cấm là “rạch cấm”, vì ngày xưa rạch này có nhiều cá sấu nên quan cấm dân đi qua rạch một mình.
-Rạch Cái Khế chảy từ Cầu Đôi đến Đầu Sấu (thành phố Cần Thơ), dài 5km.
-Rạch Đường Chừa (Vĩnh Long), vì con đường có một khúc phải chừa lại do không đắp được vì sợ cá sấu ăn thịt những người đắp đường.
-Bưng Sấu Hì (vũng nước lớn giữa đồng) ở giữa đồng Tháp Mười, (Đồng Tháp). Một cặp vợ chồng kia có đứa con 10 tuổi bị sấu ăn thịt. Khi chồng gọi kiếm con, chỉ nghe tiếng sấu kêu hì. Sau đó, người địa phương giết được bầy sấu và đặt tên trên.
-Ngã ba Tàu ở Kiên Giang. Một trong giả thuyết để giải thích nguồn gốc địa danh này là do có một con cá sấu bị người đi đốn dừa nước chặt đứt khúc đuôi nên trông như một chiếc tàu.
-Hang Sấu thuộc xã Viên An, huyện Ngọc Hiển (Cà Mau), xưa có rất nhiều cá sấu. Đặc biệt nơi đây có một cái hang cá sấu rất lớn, người dân qua lại khu vực này thường bị cá sấu tấn công.
Lời kết
Trong công cuộc chinh phục vùng đất mới Tây Nam Bộ nói riêng và Nam Bộ nói chung, bằng trí tuệ và lòng quả cảm, những lớp cư dân nơi đây đã đương đầu với những sức mạnh tự nhiên, những loài thú dữ như cọp beo, sấu, rắn… Vươn lên chế ngự nó, nhằm tạo ra những điều kiện để khai thác, canh tác, bảo đảm cuộc sống an lành là công việc đòi hỏi sự bền bĩ, lâu dài.Việc “đánh sấu” trên hết chỉ xuất phát từ việc làm điều thiện, điều nghĩa, phản ảnh cái tinh thần khí khái của người dân Nam Bộ trong việc diệt trừ thú dữ.Thông qua hình ảnh con cá sấu, ta dường như hiểu rõ hơn bức tranh hiện thực về văn hóa dân gian của vùng đất này với những sắc thái hết sức đặc trưng của miền sông nước.
văn hóa

Cá Sấu Trong Tâm Thức Dân Gian Của Cư Dân Tây Nam Bộ

Tùng Phạm  |  at  22:28

Từ buổi đầu khai phá vùng đất Nam Bộ, những cư dân nơi đây không chỉ đối mặt với rừng rậm hoang vu mà còn đối mặt với thú dữ tràn đầy. Đánh cọp, đuổi sấu là những hoạt động diễn ra thường xuyên nơi miền đất mới này, nó đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong tâm thức của người dân nơi đây.
Cư dân miền sông nước này giết sấu để trừ mối họa, đồng thời cũng khai thác nguồn lợi từ đó. Sự đối đầu đó đã để lại dấu ấn rõ nét trong tín ngưỡng, truyền thuyết, ca dao, tục ngữ, địa danh…của một thời khẩn hoang, lập ấp, những câu chuyện tưởng như hoang đường mà rất giàu tính hiện thực.
Công cuộc đánh sấu
Có lẽ tài liệu xưa nhất ghi chép về cá sấu ở Nam Bộ là Gia Định thành thông chí:” Sông Tiên Thủy (tục gọi Sóc Sãi Hạ) ở về phía đông sông Hàm Luông, cách trấn về phía đông 96 dặm. Sông rộng 4 tầm, sâu 1 tầm, làng xóm chợ búa rất đông đúc, ghe thuyền tụ tập…Ngoài cửa sông có nhiều cá sấu, có con to bằng chiếc xuồng, tính rất hung dữ, người đi qua phải coi chừng. Dân trong vùng phàm có những ngòi nhỏ, dùng chở gạo củi, hay tưới rửa, thì ở miệng ngòi phải trồng cọc dày kín, để ngăn dòng nước cho khỏi nạn cá sấu”.
Theo Aubaret trong Gia Định thông chí thì:”Rạch Tiên Thủy, năm trước có một con sấu thật to, mình dài đến 60 pieds, cái thân của nó năm người ôm mà không giáp, gọi nó là ông rồng, và sức nó mạnh đến nỗi nó dùng đuôi quất một cái đủ văng người xuống nước để ăn tươi nuốt sống, và ghe xuồng gì đều bị nó quất bể tan tành”.
Vùng bưng Ca Am (kênh Vĩnh Tế, An Giang) là nơi có nhiều cá sấu lửa. Sông Vàm Nao (nối sông Tiền và sông Hậu), dài khoảng 7km nhưng lại là một trong những nơi có mật độ sấu đậm đặc nhất. Các loại cỏ như nghể, đế, lục bình từ miệt trên trôi xuống kẹt lại. Dân đi đào kênh Vĩnh Tế trốn về lội ngang sông này đa phần đều bị sấu ăn thịt.
Trong 2 tháng của năm 1880, người dân ở Cổ Cò (Sóc Trăng) đã bắt được 189 con cá sấu để lãnh thưởng, diệt trừ mối hiểm họa.
Khoảng những năm 1900-1910, cọp, sấu còn hoành hành ở miền quê Bến Tre, Gò Công, An Hóa chứ không riêng vùng sình lầy phía Cà Mau.
Ở cù lao Ngũ Hiệp (huyện Cai Lậy, Tiền Giang) mãi đến năm 1915, cá sấu vẫn còn rất dạn dĩ, phá phách dữ dằn, khiến Đốc phủ Mầu, dữ khét tiếng, đã phải bỏ kế hoạch ngăn rạch nuôi cá trên vùng đất này.
Cụ Trần Văn Tốt, 86 tuổi, gia đình đã nhiều đời sống bằng nghề đáy tại vàm Đầu Sấu: “Ông nội tôi tên là Trần Văn Lang, qua đời năm 1942 và cha tôi là Trần Văn Mùi, qua đời năm 1965 đã từng kể cho con cháu biết rạch Đầu Sấu xưa kia rất hoang vắng, dưới sông có nhiều cá to, sấu lớn thường hại người. Khoảng đầu thế kỷ 20 có một phường săn cá sấu người Chà rất nổi tiếng đã giúp dân làng phóng lao giết chết con sấu to bằng chiếc xuồng năm lá, dài trên 6 mét. Đây là con sấu dữ tợn, một “hung thần” trên sông Cái Răng.
Sấu có nhiều loại: sấu cá, sấu bưng, sấu mun, sấu hoa cà… Sấu bắt được người ta trói hai bên bờ ghe, thả dưới nước, chèo ghe bán dọc đường từ Nam Vang xuống Cần Thơ (nay còn chỗ gọi rạch Đầu Sấu) hoặc bán lên Sài Gòn.
Đối với sấu lửa hung tợn, cách bắt phổ biến là dùng mồi vịt hay mồi chó. Mồi được móc vào lưỡi câu to, bén và nối với sợi dây câu chắc, dài. Thợ săn ôm mồi lội xuống nước, nhử cá sấu đến. Khi cá há miệng định táp, thợ câu nhanh tay ném con mồi vào miệng nó. Sấu bị mắc câu, vùng vẫy dữ dội. Đến khi sấu mệt, người ở trên bờ kéo sợi câu, mang sấu lên.
Một kiểu đi săn khác rất độc đáo, không cần dùng mồi và khá mạo hiểm. Thợ săn lội đứng trên sông, một tay quạt nước, tay kia cầm nón lá che đầu và lưỡi câu. Sấu đánh hơi người, lội đến há miệng táp, người đi săn nhanh tay ném lưỡi câu vào miệng sấu. Kiểu săn này chỉ có người gan dạ và giàu kinh nghiệm mới dám thực hiện.
Ngoài cách câu sấu bằng mồi vịt hoặc người thợ câu mang phao nổi hai bên hông để tự làm mồi, dân vùng U Minh Hạ còn có sáng kiến đốt lửa để bắt sấu, loại sấu cá, sống ở ao giữa rừng.
Trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam, nhà văn Đoàn Giỏi dành hẳn một chương với tiêu đề Phường săn cá sấu, thuật lại việc bắt sấu ngày xưa.
Ngày trước cá sấu nhiều lắm, bàu nào cũng có. Mỗi bàu ít nhất năm bảy con trở lên, gọi là ao cá sấu. Chọn ao cá sấu hoa cà,rồi phát sậy, phát cỏ rũ xuống, phơi nắng vài ngày cho khô. Dùng thuổng đào một đường nhỏ từ mé ao lên rừng, càng xa bờ càng cạn dần, dài chừng mười thước. Sau đó, bỏ sậy, cỏ khô phủ kín mặt bàu và đốt lửa.
Khi lửa tắt thì mặt bàu phủ kín dưới một lớp tro dày hai ba đốt tay. Cá sấu nổi lên thở thì bị tro cay mắt, còn lặn lâu quá thì bị ngạt nên đập đuôi chạy lên bờ. Chúng cứ nối đuôi nhau trườn theo con mương đào sẵn. Thấy người, con nào cũng há họng toan đớp. Thợ săn liền đút vô họng nó một khúc gỗ mớp, dài chừng ba tấc. Nó táp phập một cái, hai hàm răng dính chặt như ngậm kẹo mạch nha, không há ra được. Các thợ săn lập tức cầm mác xắn trên sống lưng, cắt gân đuôi. Lúc này cái đuôi cá sấu đã mất tác dụng. Người đi săn dùng dây lạt trói thúc ké hai chân sau lên lưng, hai chân trước thả tự do, mõm bị khớp lại. Mỗi bàu bắt được vài chục con trong một ngày.
Cứ ba con dùng bốn đoạn tre buộc xâu lại thành một hàng ngang. Lấy hai cây tre dài kiền tất cả, xếp dính liền thành một dọc dài, hướng đầu chúng về phía trước. Sau đó phát sậy dọn một đường như đường cộ trâu thẳng ra bờ sông theo hướng gần nhất. Thợ săn nhảy lên lưng bầy sấu dùng cây mun điều khiển chúng bò ra bờ sông. Thuyền lái mua chực sẵn hoặc gặp khi không có lái thì khiêng từng con bỏ xuống thuyền chở đi bán.
Sấu trong tín ngưỡng
Tục thờ cá sấu được xem là tín ngưỡng cổ xưa của người Khmer. Cá sấu được xem như một ác thần cai quản một phần sông nước. Người Việt về sau cũng theo tín ngưỡng này và họ cá sấu như một biến thể của thần sông.
Từ sông Cái Lớn vào đến ngã Ba Tàu, chỗ đầu doi vàm Xếp (xã Vĩnh Phước B, huyện Gò Quao, Kiên Giang), cách bờ sông khoảng vài chục mét có ngôi miếu thờ thần Cá Sấu. Người dân tròng vùng rất tôn kính và phong làm thần Sông.
Tương truyền vị thần ấy là một con sấu Mun cụt đuôi to cỡ chiếc tàu hay nổi lên tại đây. Con sấu khổng lồ này có cái đuôi dài hơn những con sấu khác, được gọi là “Ô ngạc ngư”. Toàn thân màu đen mốc, sống lưng nổi gai từng khúc, miệng đầy răng lởm chởm. Sấu hay thích đùa giỡn với con mồi trước khi ăn thịt, nó là nỗi kinh hoàng của người dân đi ngang qua khu vực ngã ba sông này.
Một lần sấu Mun định hại hai mẹ con đậu ghe nơi bến sông, bị ông thầy pháp chém đứt khúc đuôi dài gần hai mét. Từ đó về sau sấu trở nên hiền lành không hại một ai. Sấu rất thích xem hát bội. Có lần vì mãi xem nên mắc cạn. Người dân kể lại, họ nghe tiếng cô hồn là những người bị sấu Mun ăn thịt lâu nay, không siêu thoát, hè nhau đẩy ông sấu này xuống lại vùng nước sâu!
Ngày kia, có một con cá sấu đỏ, tên là “Xích ngạc ngư” kéo tới xâm phạm lãnh địa của sấu Mun, rất hung hăng, đập chìm ghe, bắt người liên tục. Sấu Mun lao tới quyết chiến với sấu đỏ, hai bên đánh nhau suốt ba ngày, ba đêm. Sấu đỏ bị giết, còn sấu Mun cũng mất tích. Dân chúng cho rằng, có lẽ sấu Mun bị thương nặng nên tìm về doi đất vàm Xếp mà chết. Họ lập miếu thờ, phong tặng là “Thủy thần sông Cái Lớn”. Người dân cả quyết rằng sấu Mun không chết mà trầm tích tại ngã ba Tàu tu hành, hóa rồng bay lên mây, được Thượng Đế phong làm thủy thần cai quản cả vùng sông Cái Lớn.
Sấu trong ca dao, truyền thuyết
Công cuộc chinh phục vùng đất mới, lớp cư dân Tây Nam Bộ buộc phải đối đầu với những thế lực tự nhiên, trong đó có loài sấu dữ, luôn luôn rình rập làm hại người. Nhất là trong ca dao, được phản ánh rất rõ nét, đậm đặc cái tâm thức của những người đi mở cõi trước một vùng đất trù phú, hết sức hoang sơ và không kém phần khắc nghiệt:
- Chèo ghe sợ sấu cắn chưn.
Xuống bưng sợ đỉa lên rừng sợ ma”
- U Minh khốn khổ quá chừng
Xuống sông sấu bắt, lên rừng cọp tha
-U Minh nước mặn phèn chua
Trăm ngàn cá sấu thi đua vẫy vùng
- U Minh, Rạch Giá, Thị Quá, Sơn Trường
Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua
- Đồng Nai xứ sở lạ lùng
Dưới sông sấu lội, trên bờ cọp um
Không phong phú như truyện kể về cọp, nhưng các truyền thuyết, truyện tích về sấu cũng giúp ta hiểu được quan niệm nhân sinh, thế ứng xử với thiên nhiên của người dân Tây Nam Bộ. Đó là các truyện Ông Đình Tây và sấu Năm Chèo; Truyền thuyết thần Ô Ngư Ngạc; Truyền thuyết núi Thuyền (Khmer); Sấu Ba Kè và vua Gia Long; Bị sấu đớp mà thoát được; Cá sấu xem hát bội; Sự tích địa danh Đầu Sấu, Cái Da, Cái Răng; Bưng sấu hì; Đá cá sấu…
Sấu trong địa danh
-Dấu vết của “ngạc ngư” thể hiện trong các địa danh ở Tây Nam Bộ lại hết sức da dạng, phong phú. Có cả những địa danh Khmer trong số đó.
-Đìa Sấu (Cai Lậy, Tiền Giang), nơi tập trung nhiều cá sấu.
-Rạch Đầu Sấu ở xã Vĩnh Đại, huyện Vĩnh Hưng (Long An).
-Cầu Đầu Sấu ở quận Cái Răng (Cần Thơ) là “đầu con cá sấu” vì người Việt xưa rất sợ cá sấu nên thường thờ đầu cá sấu bên sông (theo Sơn Nam). Khoảng năm 1940, nơi đây vẫn còn cảnh làm thịt sấu tại đầu vàm. Sấu thịt được chở về từ Nam Vang và An Giang bằng xuồng, ghe. Buôn bán rất sung, người mua khá đông giống như một lò mổ. Lúc đó vàm nầy đã có tên là vàm Đầu Sấu. Tại khu vực 1, phường An Bình (TP. Cần Thơ) hiện nay vẫn còn một ngôi chùa cổ kính mang tên là chùa Ông Vàm Đầu Sấu.
-Ấp Đầu Sấu Đông, ấp Đầu Sấu Tây (xã Lộc Ninh, huyện Hồng Dân, Bạc Liêu). Đầu Sấu trong tiếng Khmer là Khal Kropơ. Trong truyền thuyết Núi Thuyền (Phnom Sampâu) của người Khmer, ngọn đồi nổi lên ngay chỗ con sấu chết gọi là Đồi Sấu (Phnom Krapư), hai cái đầm chỗ sấu quậy đầu và đuôi gọi là Bưng Mũi (Bâng Chromoc) và Bưng Đuôi (Bâng Kantuôi).[31]
-Rạch Bỏ Lược (Cà Mau). Truyền thuyết kể về một người mẹ có con bị cá sấu ăn thịt. Để trả thù, bà lấy mác đâm con cá sấu và cả hai cùng chết, chỉ để lại một cái lược bà đang chải tóc.
-Rạch Cái Cá ở xã Quới Điền, huyện Thạnh Phú (Bến Tre), gọi là “rạch cá” vì dưới rạch này trước đây có nhiều cá sấu.
-Rạch Cái Cấm bao quanh cù lao Thanh Tân, nay thuộc xã Tân Thanh Bình, huyện Mỏ Cày (Bến Tre). Cái Cấm là “rạch cấm”, vì ngày xưa rạch này có nhiều cá sấu nên quan cấm dân đi qua rạch một mình.
-Rạch Cái Khế chảy từ Cầu Đôi đến Đầu Sấu (thành phố Cần Thơ), dài 5km.
-Rạch Đường Chừa (Vĩnh Long), vì con đường có một khúc phải chừa lại do không đắp được vì sợ cá sấu ăn thịt những người đắp đường.
-Bưng Sấu Hì (vũng nước lớn giữa đồng) ở giữa đồng Tháp Mười, (Đồng Tháp). Một cặp vợ chồng kia có đứa con 10 tuổi bị sấu ăn thịt. Khi chồng gọi kiếm con, chỉ nghe tiếng sấu kêu hì. Sau đó, người địa phương giết được bầy sấu và đặt tên trên.
-Ngã ba Tàu ở Kiên Giang. Một trong giả thuyết để giải thích nguồn gốc địa danh này là do có một con cá sấu bị người đi đốn dừa nước chặt đứt khúc đuôi nên trông như một chiếc tàu.
-Hang Sấu thuộc xã Viên An, huyện Ngọc Hiển (Cà Mau), xưa có rất nhiều cá sấu. Đặc biệt nơi đây có một cái hang cá sấu rất lớn, người dân qua lại khu vực này thường bị cá sấu tấn công.
Lời kết
Trong công cuộc chinh phục vùng đất mới Tây Nam Bộ nói riêng và Nam Bộ nói chung, bằng trí tuệ và lòng quả cảm, những lớp cư dân nơi đây đã đương đầu với những sức mạnh tự nhiên, những loài thú dữ như cọp beo, sấu, rắn… Vươn lên chế ngự nó, nhằm tạo ra những điều kiện để khai thác, canh tác, bảo đảm cuộc sống an lành là công việc đòi hỏi sự bền bĩ, lâu dài.Việc “đánh sấu” trên hết chỉ xuất phát từ việc làm điều thiện, điều nghĩa, phản ảnh cái tinh thần khí khái của người dân Nam Bộ trong việc diệt trừ thú dữ.Thông qua hình ảnh con cá sấu, ta dường như hiểu rõ hơn bức tranh hiện thực về văn hóa dân gian của vùng đất này với những sắc thái hết sức đặc trưng của miền sông nước.

Bài Viết Cùng Chủ Đề

© 2015 Hai Lúa Miền Tây | Design by Tùng Phạm
| Design by Tùng Phạm.