Bài Viết Mới

Hiển thị các bài đăng có nhãn an giang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn an giang. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

Lăng Thoại Ngọc Hầu là một công trình đồ sộ, kiến trúc nghệ thuật đẹp cổ kính, tọa lạc tại chân núi trong cụm di tích núi Sam, thuộc thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Lăng được xây dựng và hoàn thành vào cuối những năm 1820, do chính ông đứng ra chỉ huy thi công. Nơi đây, vừa là lăng mộ vừa là nơi thờ phượng Thoại Ngọc Hầu – người có công khai mở miền Nam và trấn thủ đồn biên phòng cho Tổ quốc.
Thoại Ngọc Hầu tên thật là Nguyễn Văn Thoại sinh năm Tân Tỵ (1761), mất năm Kỷ Sửu (1829) thọ 68 tuổi, được phong tước Hầu. Ông người huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, được triều đình nhà Nguyễn cử vào khai phá và trấn giữ An Giang đạo và ông đã gắn bó mật thiết với vùng tứ giác Long Xuyên qua các kỳ công:
- Khai sơn khẩn đất, tập hợp lưu dân hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, cù lao Biên Hòa về các vùng Ông Chưởng (Chợ Mới), Núi Sập (Thoại Sơn), Châu Đốc, Long Xuyên…
- Tổ chức đào kinh Thoại Hà, khởi công từ năm 1818, sau hơn hai tháng đã hoàn thành, huy động hơn 2000 sưu dân, với chiều dài 31.744m và kinh Vĩnh Tế (từ Châu Đốc tới Hà Tiên) khởi đào từ năm 1819 đến năm 1824 huy động hơn 80.000 sưu dân, dài hơn 90km.
Sau khi việc đào kinh hoàn tất, Thoại Ngọc Hầu cho vẽ bản đồ và báo cáo về triều đình Huế, được vua khen ngợi ban sắc chỉ cho lấy tên người mà đặt cho tên sông là Thoại Hà (sông Thoại) và lấy vợ chánh ông là Vĩnh Tế đặt cho kinh (kinh Vĩnh Tế). Ngoài công trình đào kinh, ông còn đắp nhiều con lộ giúp cho giao thông qua lại dễ dàng hơn.
Chính công lao to lớn này mà lâu nay khi nhắc đến ông người ta thường chỉ nhắc tới việc ông đào Thoại Hà và Vĩnh Tế hà chứ ít người biết được rằng trước đây hàng thế kỷ, ông đã tích cực khai hoang để biến cải những vùng hoang vu, rừng rậm trở thành nơi dân cư đông đúc. “…bên kia quận Vũng Liêm, thuộc tỉnh Vĩnh Long bây giờ, một Cù Lao Dài 17 cây số, ruộng vườn thạnh mậu, dân cư sung túc, lại chính là một nơi mà 150 năm trước đây, Thoại Ngọc Hầu đã di dân lập ấp, dựng thành xã thôn?”1.
Nói về sự trù phú của Cù Lao Dài sau khi được Thoại Ngọc Hầu khai phá, quy dân lập ấp, Trịnh Hoài Đức đã viết trong Gia Định thành thống chí như sau: Cù Lao Dài “ở hạ lưu sông lớn Long Hồ, chu vi 30 dặm, gồm 5 thôn Phú Thái, Phước Khánh, Thái Bình, Thanh Lương và Bình Thạnh. Nơi đây vườn nhà dân cư ngay thẳng sạch sẽ, phong thủy thanh tú; có những cây thủy mai đơm sắc ngọc, hương toán phơi màu vàng, đáng gọi là nơi giàu có nhàn tĩnh”2.
Sau các làng kể trên, Thoại Ngọc Hầu đã mở mang một số thôn cư bên chân núi Sập. Năm 1818, ông lại phát động công tác đào kinh Đông Xuyên, thông qua Rạch Giá. Khi con kinh đào xong, dân cư tụ về càng đông. Từ chỗ hoang vắng, vượn hú chim kêu nay trở thành một khu dân cư trù mật, đất đai màu mỡ, cỏ cây xanh tốt… Từ đó, người ta đặt tên làng là Thoại Sơn để ghi nhớ công ơn của người khai thác.
“Năm 1821, khi Thoại Ngọc Hầu đến án thủ Châu Đốc, ông lại nỗ lực khai thác biên cương. Tất cả những cỏ cây rậm rạp quanh bờ Hậu Giang chạy dài theo kinh Vĩnh Tế thẳng đến núi Sam, đều được ông cho khai phá. Hoài bão của ông là phải làm sao cho nước giàu dân mạnh, có trật tự an ninh và nhất là phải biến rừng hoang thành thôn xóm. Chính những mơ ước này đã được Thoại Ngọc Hầu thổ lộ trong bia Vĩnh Tế sơn:
Lão thần Thoại Ngọc Hầu vốn lãnh ấn Bảo hộ Cao Miên, kiêm quản gìn giữ đồn Châu Đốc, kính dâng thánh thượng, xem xét sửa sang bờ cõi, nghiêm ngặt đồn thủ, theo ý lời dụ.
Nay dấu văn hiến chung đồng làm một, cửa thành đóng kín an vui, nên muốn cho nơi cỏ hoang bát ngát đều trở nên làng mạc dân chúng đông vầy, có sổ bộ ghi biên, dâu gai đầy nội, khói lửa liên tiếp nhau, cùng với huyện kề bên, đông đúc giàu có như nhau cả”3.
Vì những công lao to lớn của ông đối với vùng đất phía Nam của Tổ quốc nên khi ông mất, Minh Mạng thứ 10 đã truy phong cho ông chức Tráng võ Tướng quân, Trụ quốc Đô thống, thưởng tiền 1000 quan, gấm loại tốt 5 cây, lụa 10 tấm và vải 30 tấm. Con trai ông là Nguyễn Văn Lâm được tập ấm hàm Kị úy.
Trải các triều vua sau, ông đều được sắc phong và ban nhiều danh hiệu cao quý. Vua Khải Định phong cho ông là Đoan Túc Dực Bảo Trung Hưng Thôn Thần; còn vua Bảo Đại thì phong Quang Ý Dực Bảo Trung Hưng Trung Đẳng Thần.
Ngày nay, du khách đến An Giang du lịch thường nán chút thời gian để ghé sơn lăng thắp vài nén nhang để tạ ơn công đức của tiền nhân. Khung cảnh uy nghiêm của sơn lăng Thoại Ngọc Hầu gợi cho du khách những hoài niệm về người xưa, về công đức của những bậc tiền bối trong công cuộc sự nghiệp mở mang bờ cõi của dân tộc. Vẻ đẹp bên ngoài của lăng mộ nói lên lòng tôn kính tột độ của nhân dân đối với một bậc khai quốc công thần.
Toàn khu lăng mộ là một kiến trúc hài hòa, duyên dáng được bao bọc xung quanh bởi một bức tường dày và các bậc thang được xây bằng đá ong. Phía trước lăng là khoảng sân rộng, khu chính giữa là mộ của ông nằm giữa mộ hai phu nhân cùng đền thờ. Hai bên là hai dãy mộ vô danh, họ là những người theo ông khai hoang, lập ấp, xây dựng nhiều công trình cho vùng tứ giác Long Xuyên. Sau phần mộ của Thoại Ngọc Hầu là tấm bia Vĩnh Tế sơn được làm bằng đá sa thạch, khắc 730 chữ, được dựng từ năm 1824. Trước Long đình là hai con nai tạc bằng xi măng, điểm xuyết thêm vẻ đẹp của lăng. Hai cửa lớn vào lăng rộng, hình bán nguyệt – kiến trúc theo lối cổ, liền với bức tường kiên cố dày 1m, cao 3m. Sau lăng là đền thờ, trên nền đất cao. Sau lưng đền thờ là vách núi chập chùng, tạo thành bức bình phong kiên cố và hùng vĩ, tôn thêm vẻ cổ kính uy nghi.
Lăng Thoại Ngọc Hầu là một di tích mang nhiều ý nghĩa lịch sử và kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu thời nhà Nguyễn, là sự kết hợp chặt chẽ giữa thiên nhiên với sức lao động sáng tạo của con người. Vào lăng, du khách sẽ được chiêm ngưỡng di tượng Thoại Ngọc Hầu cao khoảng 2m, cùng những áng văn chương lộng lẫy, với liễn đối, hoành phi, văn bia, văn tế… gợi lại hình ảnh nước non một thời oanh liệt, thuở cha ông đi mở nước, xây dựng nhiều công trình bề thế cho đời sống văn hóa, kinh tế con người thuở ấy và sau này.
Bên trong lăng còn có bài vị ông:
Phiên âm:
“Thống chê án thủ Châu Đốc đồn, lãnh bảo hộ Cao Miên quốc ấn, kiêm quản Hà Tiên trấn biên vụ, gia nhị cấp ki lục tứ thứ, truy tặng Tráng tướng quân, trụ quốc đô thống, thụy Võ Khắc, Nguyễn Công húy Thoại tôn thần”.
Dịch nghĩa:
Tôn thần của Nguyễn Công, húy là Thoại, thụy là Võ Khắc được truy tặng là Tráng võ tướng quân trụ quốc đô thống được bốn lần gia nhị cấp kỉ lục, là thống chế án giữ đồn Châu Đốc lãnh ấn bảo hộ nước Cao Miên, kiêm giữ việc biên giới trấn Hà Tiên”4.
Hằng năm, vào ngày giỗ ông, nhân dân từ mọi nơi đổ về lăng Thoại Ngọc Hầu để chiêm nghiệm, tưởng nhớ công lao và sự nghiệp của ông.
văn hóa

Lăng Thoại Ngọc Hầu

Tùng Phạm  |  at  00:49

Lăng Thoại Ngọc Hầu là một công trình đồ sộ, kiến trúc nghệ thuật đẹp cổ kính, tọa lạc tại chân núi trong cụm di tích núi Sam, thuộc thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Lăng được xây dựng và hoàn thành vào cuối những năm 1820, do chính ông đứng ra chỉ huy thi công. Nơi đây, vừa là lăng mộ vừa là nơi thờ phượng Thoại Ngọc Hầu – người có công khai mở miền Nam và trấn thủ đồn biên phòng cho Tổ quốc.
Thoại Ngọc Hầu tên thật là Nguyễn Văn Thoại sinh năm Tân Tỵ (1761), mất năm Kỷ Sửu (1829) thọ 68 tuổi, được phong tước Hầu. Ông người huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam, được triều đình nhà Nguyễn cử vào khai phá và trấn giữ An Giang đạo và ông đã gắn bó mật thiết với vùng tứ giác Long Xuyên qua các kỳ công:
- Khai sơn khẩn đất, tập hợp lưu dân hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, cù lao Biên Hòa về các vùng Ông Chưởng (Chợ Mới), Núi Sập (Thoại Sơn), Châu Đốc, Long Xuyên…
- Tổ chức đào kinh Thoại Hà, khởi công từ năm 1818, sau hơn hai tháng đã hoàn thành, huy động hơn 2000 sưu dân, với chiều dài 31.744m và kinh Vĩnh Tế (từ Châu Đốc tới Hà Tiên) khởi đào từ năm 1819 đến năm 1824 huy động hơn 80.000 sưu dân, dài hơn 90km.
Sau khi việc đào kinh hoàn tất, Thoại Ngọc Hầu cho vẽ bản đồ và báo cáo về triều đình Huế, được vua khen ngợi ban sắc chỉ cho lấy tên người mà đặt cho tên sông là Thoại Hà (sông Thoại) và lấy vợ chánh ông là Vĩnh Tế đặt cho kinh (kinh Vĩnh Tế). Ngoài công trình đào kinh, ông còn đắp nhiều con lộ giúp cho giao thông qua lại dễ dàng hơn.
Chính công lao to lớn này mà lâu nay khi nhắc đến ông người ta thường chỉ nhắc tới việc ông đào Thoại Hà và Vĩnh Tế hà chứ ít người biết được rằng trước đây hàng thế kỷ, ông đã tích cực khai hoang để biến cải những vùng hoang vu, rừng rậm trở thành nơi dân cư đông đúc. “…bên kia quận Vũng Liêm, thuộc tỉnh Vĩnh Long bây giờ, một Cù Lao Dài 17 cây số, ruộng vườn thạnh mậu, dân cư sung túc, lại chính là một nơi mà 150 năm trước đây, Thoại Ngọc Hầu đã di dân lập ấp, dựng thành xã thôn?”1.
Nói về sự trù phú của Cù Lao Dài sau khi được Thoại Ngọc Hầu khai phá, quy dân lập ấp, Trịnh Hoài Đức đã viết trong Gia Định thành thống chí như sau: Cù Lao Dài “ở hạ lưu sông lớn Long Hồ, chu vi 30 dặm, gồm 5 thôn Phú Thái, Phước Khánh, Thái Bình, Thanh Lương và Bình Thạnh. Nơi đây vườn nhà dân cư ngay thẳng sạch sẽ, phong thủy thanh tú; có những cây thủy mai đơm sắc ngọc, hương toán phơi màu vàng, đáng gọi là nơi giàu có nhàn tĩnh”2.
Sau các làng kể trên, Thoại Ngọc Hầu đã mở mang một số thôn cư bên chân núi Sập. Năm 1818, ông lại phát động công tác đào kinh Đông Xuyên, thông qua Rạch Giá. Khi con kinh đào xong, dân cư tụ về càng đông. Từ chỗ hoang vắng, vượn hú chim kêu nay trở thành một khu dân cư trù mật, đất đai màu mỡ, cỏ cây xanh tốt… Từ đó, người ta đặt tên làng là Thoại Sơn để ghi nhớ công ơn của người khai thác.
“Năm 1821, khi Thoại Ngọc Hầu đến án thủ Châu Đốc, ông lại nỗ lực khai thác biên cương. Tất cả những cỏ cây rậm rạp quanh bờ Hậu Giang chạy dài theo kinh Vĩnh Tế thẳng đến núi Sam, đều được ông cho khai phá. Hoài bão của ông là phải làm sao cho nước giàu dân mạnh, có trật tự an ninh và nhất là phải biến rừng hoang thành thôn xóm. Chính những mơ ước này đã được Thoại Ngọc Hầu thổ lộ trong bia Vĩnh Tế sơn:
Lão thần Thoại Ngọc Hầu vốn lãnh ấn Bảo hộ Cao Miên, kiêm quản gìn giữ đồn Châu Đốc, kính dâng thánh thượng, xem xét sửa sang bờ cõi, nghiêm ngặt đồn thủ, theo ý lời dụ.
Nay dấu văn hiến chung đồng làm một, cửa thành đóng kín an vui, nên muốn cho nơi cỏ hoang bát ngát đều trở nên làng mạc dân chúng đông vầy, có sổ bộ ghi biên, dâu gai đầy nội, khói lửa liên tiếp nhau, cùng với huyện kề bên, đông đúc giàu có như nhau cả”3.
Vì những công lao to lớn của ông đối với vùng đất phía Nam của Tổ quốc nên khi ông mất, Minh Mạng thứ 10 đã truy phong cho ông chức Tráng võ Tướng quân, Trụ quốc Đô thống, thưởng tiền 1000 quan, gấm loại tốt 5 cây, lụa 10 tấm và vải 30 tấm. Con trai ông là Nguyễn Văn Lâm được tập ấm hàm Kị úy.
Trải các triều vua sau, ông đều được sắc phong và ban nhiều danh hiệu cao quý. Vua Khải Định phong cho ông là Đoan Túc Dực Bảo Trung Hưng Thôn Thần; còn vua Bảo Đại thì phong Quang Ý Dực Bảo Trung Hưng Trung Đẳng Thần.
Ngày nay, du khách đến An Giang du lịch thường nán chút thời gian để ghé sơn lăng thắp vài nén nhang để tạ ơn công đức của tiền nhân. Khung cảnh uy nghiêm của sơn lăng Thoại Ngọc Hầu gợi cho du khách những hoài niệm về người xưa, về công đức của những bậc tiền bối trong công cuộc sự nghiệp mở mang bờ cõi của dân tộc. Vẻ đẹp bên ngoài của lăng mộ nói lên lòng tôn kính tột độ của nhân dân đối với một bậc khai quốc công thần.
Toàn khu lăng mộ là một kiến trúc hài hòa, duyên dáng được bao bọc xung quanh bởi một bức tường dày và các bậc thang được xây bằng đá ong. Phía trước lăng là khoảng sân rộng, khu chính giữa là mộ của ông nằm giữa mộ hai phu nhân cùng đền thờ. Hai bên là hai dãy mộ vô danh, họ là những người theo ông khai hoang, lập ấp, xây dựng nhiều công trình cho vùng tứ giác Long Xuyên. Sau phần mộ của Thoại Ngọc Hầu là tấm bia Vĩnh Tế sơn được làm bằng đá sa thạch, khắc 730 chữ, được dựng từ năm 1824. Trước Long đình là hai con nai tạc bằng xi măng, điểm xuyết thêm vẻ đẹp của lăng. Hai cửa lớn vào lăng rộng, hình bán nguyệt – kiến trúc theo lối cổ, liền với bức tường kiên cố dày 1m, cao 3m. Sau lăng là đền thờ, trên nền đất cao. Sau lưng đền thờ là vách núi chập chùng, tạo thành bức bình phong kiên cố và hùng vĩ, tôn thêm vẻ cổ kính uy nghi.
Lăng Thoại Ngọc Hầu là một di tích mang nhiều ý nghĩa lịch sử và kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu thời nhà Nguyễn, là sự kết hợp chặt chẽ giữa thiên nhiên với sức lao động sáng tạo của con người. Vào lăng, du khách sẽ được chiêm ngưỡng di tượng Thoại Ngọc Hầu cao khoảng 2m, cùng những áng văn chương lộng lẫy, với liễn đối, hoành phi, văn bia, văn tế… gợi lại hình ảnh nước non một thời oanh liệt, thuở cha ông đi mở nước, xây dựng nhiều công trình bề thế cho đời sống văn hóa, kinh tế con người thuở ấy và sau này.
Bên trong lăng còn có bài vị ông:
Phiên âm:
“Thống chê án thủ Châu Đốc đồn, lãnh bảo hộ Cao Miên quốc ấn, kiêm quản Hà Tiên trấn biên vụ, gia nhị cấp ki lục tứ thứ, truy tặng Tráng tướng quân, trụ quốc đô thống, thụy Võ Khắc, Nguyễn Công húy Thoại tôn thần”.
Dịch nghĩa:
Tôn thần của Nguyễn Công, húy là Thoại, thụy là Võ Khắc được truy tặng là Tráng võ tướng quân trụ quốc đô thống được bốn lần gia nhị cấp kỉ lục, là thống chế án giữ đồn Châu Đốc lãnh ấn bảo hộ nước Cao Miên, kiêm giữ việc biên giới trấn Hà Tiên”4.
Hằng năm, vào ngày giỗ ông, nhân dân từ mọi nơi đổ về lăng Thoại Ngọc Hầu để chiêm nghiệm, tưởng nhớ công lao và sự nghiệp của ông.

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

Đồng bào Khmer An Giang nói riêng, Nam Bộ nói chung, theo Phật giáo Nam Tông. Người Khmer An Giang tụ sinh ở vùng đất này từ rất lâu đời
Hiện nay, toàn tỉnh An Giang có khoảng 65 ngôi chùa Khmer, nhiều nhất ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn (60 chùa). Hầu hết các chùa lâu đời, giá trị kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc cao.
Do ảnh hưởng của ba dòng văn hóa, tín ngưỡng (văn hóa dân gian, Bà la môn giáo, Phật giáo) nên kiến trúc nghệ thuật chùa Khmer ở An Giang nói riêng, Nam Bộ nói chung là những công trình kiến trúc độc đáo. Có thể thấy, ngôi chùa là nơi tập trung các thể thức nghệ thuật tạo hình, hài hòa giữa kiến trúc và điêu khắc từ hình thức trang trí bên trong đến bày biện bên ngoài. Nhiều ngôi chùa Khmer ở An Giang được trùng tu, xây dựng lại nhiều lần nhưng vẫn giữ được kiến trúc cổ.
Phần lớn các cổng chùa được xây dựng theo hình thức ngọn tháp. Tùy theo giai đoạn, nhu cầu của phật tử, có chùa xây một, ba hoặc năm ngọn. Hai bên cổng thường có hai vị thần bảo hộ, tượng sư tử, hoặc đầu thần rắn Naga uốn lượn trên tường rào, đầu ngẩng lên trời với ý nghĩa nhằm bảo vệ những báu vật bên trong chùa. Cổng chùa có ba ngôi tháp tượng trưng cho Phật, Pháp, Tăng (Tam Bảo), tháp giữa thường cách điệu rất chi tiết, màu sắc sặc sỡ, tượng trưng cho đức Phật. Cổng chùa xây dựng theo quy cách năm ngôi tháp hình búp sen, phần dưới cách trang trí gần giống như nhau, nhưng phía trên năm ngôi tháp thì có một ngôi cao nhất, nhiều họa tiết hoa văn – năm ngọn tháp minh họa cho năm vị Phật, đỉnh cao nhất là cõi Niết Bàn.
Một số cổng, tường chùa được sơn son, thếp vàng lộng lẫy, mỗi một trụ tường, vách tường rào được khắc họa hình sư tử, tượng Phật, búp sen… Dọc theo sóng trên tường rào chạm khắc hình thần rắn Naga uốn lượn (đầu rắn nằm ở cổng chùa) rất uy nghi, tiềm ẩn một triết lý tinh túy, đó là sự hài hòa giữa thiên nhiên với con người, nhập thân giữa đời và đạo, kết chặt giữa thế giới này và thế giới khác.
Chánh điện và cổng chùa người Khmer An Giang luôn quay mặt về phía Đông, do ảnh hưởng quan niệm Phật pháp – Phật minh ngự ở phía Tây, nhìn về phía Đông để ban phúc cho chúng sinh. Đa số chùa được xây dựng theo một hình thức, quy cách nhất định: chánh điện xây dàn dọc theo hướng Đông – Tây tạo thành một chính thể trung tâm của ngôi chùa. Chiều dài ngôi chùa gấp hai lần khoảng rộng, chiều cao tương ứng với chiều dài. Ngôi chính điện có bốn cửa chính theo hai hướng Đông – Tây, với bảy – chín cửa sổ theo hai hướng Nam – Bắc, xung quanh tứ phương là một dãy hành lang rộng, thoáng.
Kết cấu chính điện ở chùa thường sử dụng bằng các loại gỗ quý và gạch ngói, đá tảng nhỏ. Hai hàng cột cái to, cao hai bên làm bệ đỡ giữa hai thân, góc. Tất cả sức nặng của ngôi chùa dồn về hàng cột và áp vào các đầu cột được đặt trên xà ngang nối giữa hai đầu cột cái, tạo thành bộ mái ở giữa chánh điện. Từ các cột cái, kèo và xà vách nối liền với tường xây bao quanh tạo lớp mái thứ hai và thứ ba thông ra hiên, hình thành thêm một chái che bên dãy hành lang. Nhìn từ bên ngoài vào, chính điện chùa Khmer là một bộ kiến trúc với ba lớp mái, dưới các góc mái được chạm lọng thần hình rắn Naga uốn lượn quấn quanh, hoặc hình nữ thần.
Chủ đề trang trí bên trong nội điện hay Sala ở các chùa Khmer An Giang vô cùng tinh xảo, mang đậm ảnh hưởng triết lý Phật giáo, Bà la môn giáo, tín ngưỡng dân gian. Những hình ảnh chạm, khắc, tiểu tiết hoa văn thường là những nội dung kể về cuộc đời tu đạo của Đức Phật, theo trình tự: cảnh đản sanh của Đức Phật ở thành Katỳlavệ, cảnh Đức Phật trong rừng Lâmtỳni dưới cây Sala, cảnh Đức Phật phát đạo dưới cội Bồ đề ở sông Nil, cảnh Phật nhập Niết Bàn; họa tiết hoa, lá, mây, nước… ca ngợi đời sống lao động sản xuất của cộng đồng người Khmer thời cổ xưa.
Chùa Khmer ở An Giang là nơi sinh hoạt văn hóa, lễ hội, tôn giáo. Người Khmer có câu “Sống vào chùa gửi thân, chết vào chùa gửi cốt”, hình ảnh ngôi chùa, sư sãi gắn bó sâu sắc đến cuộc sống hàng ngày của bà con.
Người Khmer An Giang có rất nhiều lễ hội trong năm: Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây, lễ Phật đản, lễ An cư Kiết hạ, lễ Chấm dứt mùa An cư Kiết hạ, lễ Ok-Om -Bok, lễ Rằm tháng Giêng âm lịch, lễ Dâng y. Mỗi lễ hội có những ý nghĩa khác nhau, nhiều nghi thức độc đáo diễn ra, và luôn lấy chùa làm trung tâm tổ chức nghi thức lễ hội. Đến ngày lễ hội, bà con Khmer quần tụ về chùa tụng Kinh niệm Phật và nghe giảng kinh, tổ chức vui chơi múa hát và trình diễn các loại hình nghệ thuật truyền thống chào mừng lễ hội. Gần đây, nhiều lễ hội của bà con Khmer An Giang, điển hình như lễ Ok-Om -Bok và hội Đua bò đã được nâng lên cấp khu vực, tạo không khí buổi lễ thêm phần náo nhiệt.
Ngoài lễ, Tết thường niên, hàng ngày người Khmer An Giang cũng đến chùa bái Phật, dâng cơm cho sư sãi; đám cưới, gả trong gia đình đến chùa mời sư sãi, à cha đến chứng giám… Người Khmer khi chết không địa táng như các dân tộc khác mà họ đem vào chùa hỏa táng. Sau đó lấy cốt gửi vào chùa phụng thờ, ngụ ý để vong hồn người chết sớm hôm nghe kinh Phật, kề cận bên ánh hào quang của Phật sớm được siêu thoát về cõi Niết Bàn.
Ngoài chức năng sinh hoạt văn hóa, chùa còn có chức năng giáo dục. Người Khmer có tập tục con trai lớn lên phải vào chùa tu. Thứ nhất để báo hiếu cho cha, mẹ, thứ hai là học kinh Phật, hiểu biết về những điều tốt, xấu nhằm trở thành người có ích. Sau thời gian tu học, hoàn tục về lại đời thường người con trai mang theo sự hiểu biết đã học nơi chùa mà phụ giúp gia đình, đền ơn công dưỡng dục của cha mẹ, phục vụ xã hội. Vì vậy từ lâu chùa đảm đương vai trò là ngôi trường dạy nhân cách, tri thức, đạo đức cho thanh, thiếu niên đáp ứng nhu cầu đời sống xã hội và phong tục. Gần đây, chùa còn dạy kiến thức phổ thông, dạy chữ Việt – Khmer, dạy nhạc ngũ âm lưu giữ loại hình văn hóa – nghệ thuật truyền thống của dân tộc.
Vai trò của chùa đối với người Khmer rất quan trọng, bao hàm nhiều góc độ từ văn hóa truyền thống, tín ngưỡng tôn giáo, giáo dục, giá trị nghệ thuật… 65 ngôi chùa Khmer ở An Giang có thể trở thành điểm tham quan của khách du lịch trong và ngoài nước. Trong tương lai nếu được xây dựng, trùng tu – những chùa Khmer ở Tịnh Biên, Tri Tôn sẽ trở thành một hệ thống quần thể kiến trúc đẹp, lộng lẫy thu hút khách tham quan tìm hiểu văn hóa, lịch sử ở các chùa. Ngành du lịch nên xây dựng một đội ngũ thuyết minh viên du lịch am hiểu chiều sâu về văn hóa lịch sử Khmer, kết hợp với du lịch làng nghề, du lịch vùng Thất Sơn, tạo động lực khai thác hết tiềm năng du lịch của địa phương, thu hút du khách trong và ngoài tỉnh.
văn hóa

Phật Giáo Nam Tông Trong Đời Sống Người Khmer An Giang

Tùng Phạm  |  at  22:25

Đồng bào Khmer An Giang nói riêng, Nam Bộ nói chung, theo Phật giáo Nam Tông. Người Khmer An Giang tụ sinh ở vùng đất này từ rất lâu đời
Hiện nay, toàn tỉnh An Giang có khoảng 65 ngôi chùa Khmer, nhiều nhất ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn (60 chùa). Hầu hết các chùa lâu đời, giá trị kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc cao.
Do ảnh hưởng của ba dòng văn hóa, tín ngưỡng (văn hóa dân gian, Bà la môn giáo, Phật giáo) nên kiến trúc nghệ thuật chùa Khmer ở An Giang nói riêng, Nam Bộ nói chung là những công trình kiến trúc độc đáo. Có thể thấy, ngôi chùa là nơi tập trung các thể thức nghệ thuật tạo hình, hài hòa giữa kiến trúc và điêu khắc từ hình thức trang trí bên trong đến bày biện bên ngoài. Nhiều ngôi chùa Khmer ở An Giang được trùng tu, xây dựng lại nhiều lần nhưng vẫn giữ được kiến trúc cổ.
Phần lớn các cổng chùa được xây dựng theo hình thức ngọn tháp. Tùy theo giai đoạn, nhu cầu của phật tử, có chùa xây một, ba hoặc năm ngọn. Hai bên cổng thường có hai vị thần bảo hộ, tượng sư tử, hoặc đầu thần rắn Naga uốn lượn trên tường rào, đầu ngẩng lên trời với ý nghĩa nhằm bảo vệ những báu vật bên trong chùa. Cổng chùa có ba ngôi tháp tượng trưng cho Phật, Pháp, Tăng (Tam Bảo), tháp giữa thường cách điệu rất chi tiết, màu sắc sặc sỡ, tượng trưng cho đức Phật. Cổng chùa xây dựng theo quy cách năm ngôi tháp hình búp sen, phần dưới cách trang trí gần giống như nhau, nhưng phía trên năm ngôi tháp thì có một ngôi cao nhất, nhiều họa tiết hoa văn – năm ngọn tháp minh họa cho năm vị Phật, đỉnh cao nhất là cõi Niết Bàn.
Một số cổng, tường chùa được sơn son, thếp vàng lộng lẫy, mỗi một trụ tường, vách tường rào được khắc họa hình sư tử, tượng Phật, búp sen… Dọc theo sóng trên tường rào chạm khắc hình thần rắn Naga uốn lượn (đầu rắn nằm ở cổng chùa) rất uy nghi, tiềm ẩn một triết lý tinh túy, đó là sự hài hòa giữa thiên nhiên với con người, nhập thân giữa đời và đạo, kết chặt giữa thế giới này và thế giới khác.
Chánh điện và cổng chùa người Khmer An Giang luôn quay mặt về phía Đông, do ảnh hưởng quan niệm Phật pháp – Phật minh ngự ở phía Tây, nhìn về phía Đông để ban phúc cho chúng sinh. Đa số chùa được xây dựng theo một hình thức, quy cách nhất định: chánh điện xây dàn dọc theo hướng Đông – Tây tạo thành một chính thể trung tâm của ngôi chùa. Chiều dài ngôi chùa gấp hai lần khoảng rộng, chiều cao tương ứng với chiều dài. Ngôi chính điện có bốn cửa chính theo hai hướng Đông – Tây, với bảy – chín cửa sổ theo hai hướng Nam – Bắc, xung quanh tứ phương là một dãy hành lang rộng, thoáng.
Kết cấu chính điện ở chùa thường sử dụng bằng các loại gỗ quý và gạch ngói, đá tảng nhỏ. Hai hàng cột cái to, cao hai bên làm bệ đỡ giữa hai thân, góc. Tất cả sức nặng của ngôi chùa dồn về hàng cột và áp vào các đầu cột được đặt trên xà ngang nối giữa hai đầu cột cái, tạo thành bộ mái ở giữa chánh điện. Từ các cột cái, kèo và xà vách nối liền với tường xây bao quanh tạo lớp mái thứ hai và thứ ba thông ra hiên, hình thành thêm một chái che bên dãy hành lang. Nhìn từ bên ngoài vào, chính điện chùa Khmer là một bộ kiến trúc với ba lớp mái, dưới các góc mái được chạm lọng thần hình rắn Naga uốn lượn quấn quanh, hoặc hình nữ thần.
Chủ đề trang trí bên trong nội điện hay Sala ở các chùa Khmer An Giang vô cùng tinh xảo, mang đậm ảnh hưởng triết lý Phật giáo, Bà la môn giáo, tín ngưỡng dân gian. Những hình ảnh chạm, khắc, tiểu tiết hoa văn thường là những nội dung kể về cuộc đời tu đạo của Đức Phật, theo trình tự: cảnh đản sanh của Đức Phật ở thành Katỳlavệ, cảnh Đức Phật trong rừng Lâmtỳni dưới cây Sala, cảnh Đức Phật phát đạo dưới cội Bồ đề ở sông Nil, cảnh Phật nhập Niết Bàn; họa tiết hoa, lá, mây, nước… ca ngợi đời sống lao động sản xuất của cộng đồng người Khmer thời cổ xưa.
Chùa Khmer ở An Giang là nơi sinh hoạt văn hóa, lễ hội, tôn giáo. Người Khmer có câu “Sống vào chùa gửi thân, chết vào chùa gửi cốt”, hình ảnh ngôi chùa, sư sãi gắn bó sâu sắc đến cuộc sống hàng ngày của bà con.
Người Khmer An Giang có rất nhiều lễ hội trong năm: Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây, lễ Phật đản, lễ An cư Kiết hạ, lễ Chấm dứt mùa An cư Kiết hạ, lễ Ok-Om -Bok, lễ Rằm tháng Giêng âm lịch, lễ Dâng y. Mỗi lễ hội có những ý nghĩa khác nhau, nhiều nghi thức độc đáo diễn ra, và luôn lấy chùa làm trung tâm tổ chức nghi thức lễ hội. Đến ngày lễ hội, bà con Khmer quần tụ về chùa tụng Kinh niệm Phật và nghe giảng kinh, tổ chức vui chơi múa hát và trình diễn các loại hình nghệ thuật truyền thống chào mừng lễ hội. Gần đây, nhiều lễ hội của bà con Khmer An Giang, điển hình như lễ Ok-Om -Bok và hội Đua bò đã được nâng lên cấp khu vực, tạo không khí buổi lễ thêm phần náo nhiệt.
Ngoài lễ, Tết thường niên, hàng ngày người Khmer An Giang cũng đến chùa bái Phật, dâng cơm cho sư sãi; đám cưới, gả trong gia đình đến chùa mời sư sãi, à cha đến chứng giám… Người Khmer khi chết không địa táng như các dân tộc khác mà họ đem vào chùa hỏa táng. Sau đó lấy cốt gửi vào chùa phụng thờ, ngụ ý để vong hồn người chết sớm hôm nghe kinh Phật, kề cận bên ánh hào quang của Phật sớm được siêu thoát về cõi Niết Bàn.
Ngoài chức năng sinh hoạt văn hóa, chùa còn có chức năng giáo dục. Người Khmer có tập tục con trai lớn lên phải vào chùa tu. Thứ nhất để báo hiếu cho cha, mẹ, thứ hai là học kinh Phật, hiểu biết về những điều tốt, xấu nhằm trở thành người có ích. Sau thời gian tu học, hoàn tục về lại đời thường người con trai mang theo sự hiểu biết đã học nơi chùa mà phụ giúp gia đình, đền ơn công dưỡng dục của cha mẹ, phục vụ xã hội. Vì vậy từ lâu chùa đảm đương vai trò là ngôi trường dạy nhân cách, tri thức, đạo đức cho thanh, thiếu niên đáp ứng nhu cầu đời sống xã hội và phong tục. Gần đây, chùa còn dạy kiến thức phổ thông, dạy chữ Việt – Khmer, dạy nhạc ngũ âm lưu giữ loại hình văn hóa – nghệ thuật truyền thống của dân tộc.
Vai trò của chùa đối với người Khmer rất quan trọng, bao hàm nhiều góc độ từ văn hóa truyền thống, tín ngưỡng tôn giáo, giáo dục, giá trị nghệ thuật… 65 ngôi chùa Khmer ở An Giang có thể trở thành điểm tham quan của khách du lịch trong và ngoài nước. Trong tương lai nếu được xây dựng, trùng tu – những chùa Khmer ở Tịnh Biên, Tri Tôn sẽ trở thành một hệ thống quần thể kiến trúc đẹp, lộng lẫy thu hút khách tham quan tìm hiểu văn hóa, lịch sử ở các chùa. Ngành du lịch nên xây dựng một đội ngũ thuyết minh viên du lịch am hiểu chiều sâu về văn hóa lịch sử Khmer, kết hợp với du lịch làng nghề, du lịch vùng Thất Sơn, tạo động lực khai thác hết tiềm năng du lịch của địa phương, thu hút du khách trong và ngoài tỉnh.

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Đạo sĩ Ba Lưới tên thật là Nguyễn Văn Y, sinh ra ở miền sông nước miệt cù lao Giêng (xã Tấn Mỹ,H.Chợ Mới- An Giang), người đã hành nghề thầy thuốc trị bệnh cứu người lâu nhất ở núi Cấm (hơn 70 năm) và người đã hai lần chém xà tinh trừ hại cho dân.
Tuổi thơ ông thường bơi ghe ngang dọc khắp các sông rạch vùng Cái Tàu, Vàm Nao, Ông Chưởng… để chài lưới kiếm cá đổi gạo. Không biết cơ duyên nào đưa tới, khoảng đầu thập niên 1930, khi sắp tuổi 20, ông lén nhà vác theo mấy tay lưới, hỏi đường đi bộ suốt hai ngày lên tới Thất Sơn, rồi lần hồi vẹt rừng lần lên tới đỉnh núi Thiên Cấm Sơn (núi Cấm) và đi đâu ông cũng dắt manh lưới bên mình vì vậy các bậc ân nhân, tiền bối thấy ngộ, nên gọi ông là Ba Lưới. Cũng từ đó, chẳng ai nhớ đến cái tên Nguyễn Văn Y của ông nữa.
Những năm 1930 vùng Thất Sơn trong đó núi Thiên Cấm Sơn là nơi rừng rú hoang rậm, cọp beo đi thành đàn, rắn độc, đặc biệt là rắn khổng lồ bò lổm ngổm trong rừng và chỉ có những đạo sĩ ẩn danh tu luyện, những cao nhân muốn lẩn trốn thế sự, cũng có thể là những chí sĩ tạm thời ẩn thân trong rừng chờ thời cơ. Hàng ngày, các đạo sĩ trồng trọt, hái thuốc, đêm xuống luyện võ nghệ và tu học.Tu là tu thân để làm điều lành, tránh cái ác; học là theo điều đức hạnh, chứ không theo đạo giáo nào. Tu ở đây không có sư phụ, đệ tử, chỉ người đi trước dạy cho người đi sau, cứ nghĩ đến điều tốt đẹp mà làm. Những người sống trên núi lúc đó ai cũng phải rèn luyện võ công. Không có võ thì không tồn tại nổi ở chốn rừng thiêng nước độc này”.
Là người có sức khỏe, trí thông minh, lại chăm chỉ học hỏi, nên chàng trai Ba Lưới được nhiều đạo sĩ dạy dỗ, đào tạo. Có đạo sĩ dạy ông cách luyện khí công, đạo sĩ dạy thuốc, đạo sĩ dạy võ… Không biết có phải nhờ dày công luyện tập các bí kíp của môn võ lâm Thất Sơn và thái cực quyền mà ở tuổi 100 (tính đến năm 2012), lão đạo sĩ Ba Lưới vẫn giữ được thân pháp nhẹ nhàng, giọng nói trầm ấm, thi thoảng lại pha vào những tràng cười hỉ hả đầy sảng khoái.
Suốt mấy chục năm trời miệt mài phát rừng làm rẫy để có cái ăn, rồi lần dò tìm thầy học võ để phòng thân, thêm nghề bốc thuốc cứu người. Trong hành trình tu thân học đạo, ông Ba Lưới không ít lần giáp mặt với thú dữ. Nhờ những thế võ Thất Sơn bí truyền học được từ các đạo sĩ tiền bối, ông đã hai lần hạ gục rắn hổ mây to hàng chục ký với thế “Bình Phong Lạc Nhạn”. Ông theo học rất nhiều sư phụ, nhưng môn phái ông theo học chánh tông là Đường Phong. Có thể nói ông là đệ tử chân truyền đời thứ 9 của Cử Đa, người sáng lập ra môn phái võ Đường Phong trên đỉnh Cấm Sơn.
Ông cũng được ông Năm Sanh (Trần Văn Sanh) – một đạo sĩ ẩn tu tại núi Tà Lơn (Campuchia) nhận làm đồ đệ, truyền dạy những bài thuốc bí truyền. Giữa chốn núi rừng thâm u, đầy rẫy rắn độc, những bài thuốc trị bệnh, chữa nọc rắn của thầy dạy ông ngày xưa trở nên vô cùng hữu dụng và cần thiết. Vì thế ông cũng bắt tay phục dược, cứu chữa bệnh cho người dân quanh núi. Những loài thuốc quý trên núi ông đều biết cả, được dùng để trị bệnh cứu người. Bởi vậy, nhiều người còn gọi ông là “Thần y” trên núi Cấm.
Tính đến năm 2013, thế hệ những đạo sĩ cuối cùng ở miệt Thất Sơn từng vang danh như Năm Cao, Ba Sánh, Đức Minh, Thiện Tài, Năm Sanh, Ba Tiêu, Thiện Quang, Mười Thiệt, Sáu Hột, Mười Phu… kẻ trước người sau lần lượt tạ thế, có lẽ chỉ còn lại nhà sư Thiện Huệ (87 tuổi, quê quán ở xã Phước Hưng, huyện An Phú, An Giang), trụ trì chùa Bình Sơn (ấp Thiên Tuế) và đạo sĩ Ba Lưới. Hai ông được xem như “pho sử sống” của miệt Thất Sơn.
Sau 1975 cuộc sống trên núi Cấm cũng thay đổi dần. Những cư sĩ ẩn tu lần lượt xuất sơn, chọn nơi khác lập nghiệp. Năm 1976, ông Ba Lưới tìm đến vườn đá ở hang Long Hổ Hội dựng chòi sinh sống. Theo ông, nơi đây từng là nơi họp mặt của hổ và rắn vào những dịp trăng tròn. Thời gian này, ông gặp bà Huỳnh Thị Quang, ở Tân Châu, đi viếng núi. Như duyên tiền định, ông bà gá nghĩa với nhau và ở đây sinh sống đến giờ, sinh được bốn người con.
Người dân địa phương còn nhắc nhiều đến ông Ba Lưới với tượng Phật Di Lặc cao 33,6 m bằng bê tông cốt thép trên đỉnh núi Cấm trị giá tiền tỉ mà ông đã góp công xây dựng. Nay ở vào tuổi xế chiều, song ông Ba Lưới còn một tâm nguyện là hoàn thành công trình chùa Phật Lớn trên đỉnh núi Cấm.
Nay chỉ còn riêng Ba Lưới nguyện sống hết cuộc đời mình để giữ lại tán rừng, hang đá. Bởi vậy người ta gọi ông là lão kỳ nhân đạo sĩ cuối cùng của đỉnh Cấm Sơn.
thất sơn huyền bí

Vị Đạo Sĩ Cuối Cùng Trên Đỉnh Cấm Sơn

Tùng Phạm  |  at  19:46

Đạo sĩ Ba Lưới tên thật là Nguyễn Văn Y, sinh ra ở miền sông nước miệt cù lao Giêng (xã Tấn Mỹ,H.Chợ Mới- An Giang), người đã hành nghề thầy thuốc trị bệnh cứu người lâu nhất ở núi Cấm (hơn 70 năm) và người đã hai lần chém xà tinh trừ hại cho dân.
Tuổi thơ ông thường bơi ghe ngang dọc khắp các sông rạch vùng Cái Tàu, Vàm Nao, Ông Chưởng… để chài lưới kiếm cá đổi gạo. Không biết cơ duyên nào đưa tới, khoảng đầu thập niên 1930, khi sắp tuổi 20, ông lén nhà vác theo mấy tay lưới, hỏi đường đi bộ suốt hai ngày lên tới Thất Sơn, rồi lần hồi vẹt rừng lần lên tới đỉnh núi Thiên Cấm Sơn (núi Cấm) và đi đâu ông cũng dắt manh lưới bên mình vì vậy các bậc ân nhân, tiền bối thấy ngộ, nên gọi ông là Ba Lưới. Cũng từ đó, chẳng ai nhớ đến cái tên Nguyễn Văn Y của ông nữa.
Những năm 1930 vùng Thất Sơn trong đó núi Thiên Cấm Sơn là nơi rừng rú hoang rậm, cọp beo đi thành đàn, rắn độc, đặc biệt là rắn khổng lồ bò lổm ngổm trong rừng và chỉ có những đạo sĩ ẩn danh tu luyện, những cao nhân muốn lẩn trốn thế sự, cũng có thể là những chí sĩ tạm thời ẩn thân trong rừng chờ thời cơ. Hàng ngày, các đạo sĩ trồng trọt, hái thuốc, đêm xuống luyện võ nghệ và tu học.Tu là tu thân để làm điều lành, tránh cái ác; học là theo điều đức hạnh, chứ không theo đạo giáo nào. Tu ở đây không có sư phụ, đệ tử, chỉ người đi trước dạy cho người đi sau, cứ nghĩ đến điều tốt đẹp mà làm. Những người sống trên núi lúc đó ai cũng phải rèn luyện võ công. Không có võ thì không tồn tại nổi ở chốn rừng thiêng nước độc này”.
Là người có sức khỏe, trí thông minh, lại chăm chỉ học hỏi, nên chàng trai Ba Lưới được nhiều đạo sĩ dạy dỗ, đào tạo. Có đạo sĩ dạy ông cách luyện khí công, đạo sĩ dạy thuốc, đạo sĩ dạy võ… Không biết có phải nhờ dày công luyện tập các bí kíp của môn võ lâm Thất Sơn và thái cực quyền mà ở tuổi 100 (tính đến năm 2012), lão đạo sĩ Ba Lưới vẫn giữ được thân pháp nhẹ nhàng, giọng nói trầm ấm, thi thoảng lại pha vào những tràng cười hỉ hả đầy sảng khoái.
Suốt mấy chục năm trời miệt mài phát rừng làm rẫy để có cái ăn, rồi lần dò tìm thầy học võ để phòng thân, thêm nghề bốc thuốc cứu người. Trong hành trình tu thân học đạo, ông Ba Lưới không ít lần giáp mặt với thú dữ. Nhờ những thế võ Thất Sơn bí truyền học được từ các đạo sĩ tiền bối, ông đã hai lần hạ gục rắn hổ mây to hàng chục ký với thế “Bình Phong Lạc Nhạn”. Ông theo học rất nhiều sư phụ, nhưng môn phái ông theo học chánh tông là Đường Phong. Có thể nói ông là đệ tử chân truyền đời thứ 9 của Cử Đa, người sáng lập ra môn phái võ Đường Phong trên đỉnh Cấm Sơn.
Ông cũng được ông Năm Sanh (Trần Văn Sanh) – một đạo sĩ ẩn tu tại núi Tà Lơn (Campuchia) nhận làm đồ đệ, truyền dạy những bài thuốc bí truyền. Giữa chốn núi rừng thâm u, đầy rẫy rắn độc, những bài thuốc trị bệnh, chữa nọc rắn của thầy dạy ông ngày xưa trở nên vô cùng hữu dụng và cần thiết. Vì thế ông cũng bắt tay phục dược, cứu chữa bệnh cho người dân quanh núi. Những loài thuốc quý trên núi ông đều biết cả, được dùng để trị bệnh cứu người. Bởi vậy, nhiều người còn gọi ông là “Thần y” trên núi Cấm.
Tính đến năm 2013, thế hệ những đạo sĩ cuối cùng ở miệt Thất Sơn từng vang danh như Năm Cao, Ba Sánh, Đức Minh, Thiện Tài, Năm Sanh, Ba Tiêu, Thiện Quang, Mười Thiệt, Sáu Hột, Mười Phu… kẻ trước người sau lần lượt tạ thế, có lẽ chỉ còn lại nhà sư Thiện Huệ (87 tuổi, quê quán ở xã Phước Hưng, huyện An Phú, An Giang), trụ trì chùa Bình Sơn (ấp Thiên Tuế) và đạo sĩ Ba Lưới. Hai ông được xem như “pho sử sống” của miệt Thất Sơn.
Sau 1975 cuộc sống trên núi Cấm cũng thay đổi dần. Những cư sĩ ẩn tu lần lượt xuất sơn, chọn nơi khác lập nghiệp. Năm 1976, ông Ba Lưới tìm đến vườn đá ở hang Long Hổ Hội dựng chòi sinh sống. Theo ông, nơi đây từng là nơi họp mặt của hổ và rắn vào những dịp trăng tròn. Thời gian này, ông gặp bà Huỳnh Thị Quang, ở Tân Châu, đi viếng núi. Như duyên tiền định, ông bà gá nghĩa với nhau và ở đây sinh sống đến giờ, sinh được bốn người con.
Người dân địa phương còn nhắc nhiều đến ông Ba Lưới với tượng Phật Di Lặc cao 33,6 m bằng bê tông cốt thép trên đỉnh núi Cấm trị giá tiền tỉ mà ông đã góp công xây dựng. Nay ở vào tuổi xế chiều, song ông Ba Lưới còn một tâm nguyện là hoàn thành công trình chùa Phật Lớn trên đỉnh núi Cấm.
Nay chỉ còn riêng Ba Lưới nguyện sống hết cuộc đời mình để giữ lại tán rừng, hang đá. Bởi vậy người ta gọi ông là lão kỳ nhân đạo sĩ cuối cùng của đỉnh Cấm Sơn.

Chuyện diệt cọp và hổ mây khổng lồ của đạo sĩ Ba Lưới với tuyệt chiêu “Bình phong lạc nhạn” của phái Đường Phong đã đi vào sách vở, vào những cẩm nang giới thiệu về vùng Thất Sơn do cơ quan Nhà nước phát hành
Phái võ Đường Phong là võ phái ở Thất Sơn ít người biết đến. Người sáng lập ra võ phái này là cụ Cử Đa. Còn vị đệ tử chân truyền đời thứ 9 của Đường Phong là lão đạo sĩ già Ba Lưới, hiện sinh sống trên đỉnh núi Cấm.
Giai thoại về cụ Cử Đa
Cử Đa tên thật là Nguyễn Đa, người làng Phù Cát, H.Bình Khê, phủ Quy Nhơn (nay thuộc tỉnh Bình Định). Do thi đỗ võ cử nhân (có thể là năm Thiệu Trị thứ năm – 1845 hoặc thời vua Tự Đức – 1852) nên người đời gọi là ông Cử Đa. Sau khi đỗ đạt, Cử Đa đi khắp nơi để tham gia huấn luyện võ thuật cho nghĩa quân của ông Trần Văn Thành chống Pháp. Dù vậy do lực lượng mỏng, quân khí lại không dồi dào nên nghĩa quân nhanh chóng bị tan vỡ. Ông Trần Văn Thành tử trận còn Cử Đa thì cải trang thành một vị sư lấy tên là Sư Bảy, giả điên khùng, lưu lạc nhiều nơi để tránh sự truy lùng của quân Pháp. Ông phải lánh sang Campot, Campongtrach, đến núi Tà Lơn tức Bokor (Campuchia) để ẩn tu. Tại đây, Cử Đa được gặp minh sư truyền đạo pháp, được đặt cho đạo hiệu là Ngọc Thanh. Về sau, ông thu nhiều tín đồ ở Tà Lơn.
Chiếc đàn tam huyền và bức tượng Phật Cử Đa
Đến năm 1896, ông Cử Đa từ Tà Lơn trở về Thất Sơn. Lúc mới đến Thất Sơn, nhiều người nghe ông nói giọng miền Trung nên gọi là Thầy Huế. Ông đã đem hết võ nghệ ra thi triển nhằm chiêu mộ nhân tài, tiếp tục lập nghĩa quân chống Pháp. Và võ phái mang tên Đường Phong ra đời. Tảng đá lớn có bề mặt khá bằng phẳng ở Vồ Thiên Tuế (núi Cấm) được ông Cử Đa dùng làm sân dạy võ cho đệ tử. Sau khi thấy lực lượng đã khá mạnh, Cử Đa đến núi Tượng tìm gặp Ngô Lợi (Giáo chủ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa) để bàn chuyện xuất binh xuống núi đánh Tây. Dẫu rất thán phục khí phách và lòng trung nghĩa của ông Cử Đa, nhưng biết không phải thời thế thích hợp nên Ngô Lợi không đồng ý.
Mặc dù thất vọng, Cử Đa vẫn tụ tập lực lượng kéo đánh đồn Cây Mít (nay thuộc huyện Tịnh Biên) của Pháp ở mé kênh Vĩnh Tế. Binh lính không kinh nghiệm chiến trường, vũ khí thô sơ nên thất bại. Ông Cử Đa một lần nữa sang núi Tà Lơn để tránh liên can cho đệ tử và người dân vô tội. Tuy vậy, lâu lâu ông cũng trở về Bảy Núi thăm các đệ tử cũ. Dần dà, chẳng còn ai thấy tăm hơi gì về ông. Thỉnh thoảng có người thấy một ông già râu tóc bạc phơ, cưỡi hổ mun vượt cánh rừng nối dài giữa Tà Lơn và Thất Sơn. Người ta bảo đó là cụ Cử Đa, đã tu tiên đắc đạo ở Tà Lơn.
Tuyệt chiêu “Bình phong lạc nhạn”
Sau rất nhiều lần trò chuyện, dẫu biết vị đạo sĩ già cuối cùng trên đỉnh núi Cấm – Ba Lưới thời trai trẻ có võ nghệ siêu quần, nhưng ông nhất quyết không nói rõ theo học môn phái nào. Mãi đến lần này, khi chúng tôi quyết “ở lì” lại núi Cấm nhiều ngày, ông lão mới chịu tiết lộ. “Hồi trước, tôi theo học nhiều thầy lắm. Tôi học bốc thuốc chữa bệnh của thầy Năm Sanh. Còn học võ thì rất nhiều thầy. Nhưng học chánh tông là võ phái Đường Phong. Tôi là đệ tử đời thứ 9 của ông Cử Đa ở ngọn núi này. Hồi đó, sư phụ tu tiên đắc đạo ở núi Tà Lơn rồi mới về núi này dạy võ. Sư phụ Cử Đa thì nổi tiếng lắm, nhưng môn phái Đường Phong ở Thất Sơn này lại ít người biết tới”, vị đạo sĩ 100 tuổi nói.
Theo lời lão đạo sĩ Ba Lưới, sư tổ Cử Đa có tài tay không đánh hổ. Lúc cụ mới đặt chân đến Thất Sơn, vì lạ đường, lạ cảnh nên trong lúc băng rừng đã chạm trán hổ dữ. Thế võ tuyệt chiêu mà cụ Cử Đa dùng để đả hổ là “Bình phong lạc nhạn”. Khi mãnh hổ lao vào tấn công, chỉ một cái nhún chân ông đã phóng lên cao hơn chục thước. Từ trên không trung ông lao mình trở xuống như cánh nhạn lướt gió, tung một cước trúng gáy hạ gục chúa sơn lâm. Về sau, biết tiếng cụ Cử Đa, toàn bộ hổ trong rừng ở Thất Sơn gặp cụ đều nằm mọp xuống đất.
Nói về võ phái Đường Phong, lão đạo sĩ Ba Lưới cho hay có rất nhiều thế võ cực kỳ lợi hại. Thế nhưng, trong số hàng trăm đệ tử của Đường Phong chỉ có một số ít đệ tử được chân truyền từ thầy. Mặc dù lúc ông được nhập môn thì sư tổ Cử Đa đã không còn ở Bảy Núi, nhưng tuyệt kỹ trấn môn vẫn được truyền thụ cho đệ tử đời sau. Và ông là một trong số những người này, học được tuyệt chiêu “Bình phong lạc nhạn”. Tuy nhiên, lão đạo sĩ già cho biết để luyện được chiêu thức này không hề đơn giản. Thuở trước, khi mới nhập môn, hằng ngày ông phải chạy bộ lên xuống núi để tập sức khỏe dẻo dai. Rồi phải đào hố sâu rồi từ dưới nhảy lên bờ. Mỗi ngày, hố càng được đào sâu thêm.
Sau một thời gian luyện tập, khi thành thục, chỉ cần nhún một cái có thể phi thân lên khỏi mặt đất năm bảy thước. Nhờ quyết chí luyện tập, ông Ba Lưới có thể thi triển thuần thục chiêu thức bí truyền này. Hơn nữa, ông còn dùng chính chiêu thức này để hạ mãng xà khổng lồ và thoát chết trong lần chạm trán với hổ trên núi Cấm. “Chiêu này đặc biệt hữu dụng trong đối đầu với hổ. Vì chỉ cần một bước nhảy thì đã có thể đứng được trên ngọn cây cao, tránh hổ dễ dàng. Còn với mãng xà thì phải ra đòn quyết định, một chiêu hạ xác nó luôn, không thì sẽ trở thành món “điểm tâm” của nó”, lão đạo sĩ phân tích.

thất sơn huyền bí

Đạo Sĩ Ba Lưới Và Thế Võ Bình Phong Lạc Nhạn

Tùng Phạm  |  at  19:44

Chuyện diệt cọp và hổ mây khổng lồ của đạo sĩ Ba Lưới với tuyệt chiêu “Bình phong lạc nhạn” của phái Đường Phong đã đi vào sách vở, vào những cẩm nang giới thiệu về vùng Thất Sơn do cơ quan Nhà nước phát hành
Phái võ Đường Phong là võ phái ở Thất Sơn ít người biết đến. Người sáng lập ra võ phái này là cụ Cử Đa. Còn vị đệ tử chân truyền đời thứ 9 của Đường Phong là lão đạo sĩ già Ba Lưới, hiện sinh sống trên đỉnh núi Cấm.
Giai thoại về cụ Cử Đa
Cử Đa tên thật là Nguyễn Đa, người làng Phù Cát, H.Bình Khê, phủ Quy Nhơn (nay thuộc tỉnh Bình Định). Do thi đỗ võ cử nhân (có thể là năm Thiệu Trị thứ năm – 1845 hoặc thời vua Tự Đức – 1852) nên người đời gọi là ông Cử Đa. Sau khi đỗ đạt, Cử Đa đi khắp nơi để tham gia huấn luyện võ thuật cho nghĩa quân của ông Trần Văn Thành chống Pháp. Dù vậy do lực lượng mỏng, quân khí lại không dồi dào nên nghĩa quân nhanh chóng bị tan vỡ. Ông Trần Văn Thành tử trận còn Cử Đa thì cải trang thành một vị sư lấy tên là Sư Bảy, giả điên khùng, lưu lạc nhiều nơi để tránh sự truy lùng của quân Pháp. Ông phải lánh sang Campot, Campongtrach, đến núi Tà Lơn tức Bokor (Campuchia) để ẩn tu. Tại đây, Cử Đa được gặp minh sư truyền đạo pháp, được đặt cho đạo hiệu là Ngọc Thanh. Về sau, ông thu nhiều tín đồ ở Tà Lơn.
Chiếc đàn tam huyền và bức tượng Phật Cử Đa
Đến năm 1896, ông Cử Đa từ Tà Lơn trở về Thất Sơn. Lúc mới đến Thất Sơn, nhiều người nghe ông nói giọng miền Trung nên gọi là Thầy Huế. Ông đã đem hết võ nghệ ra thi triển nhằm chiêu mộ nhân tài, tiếp tục lập nghĩa quân chống Pháp. Và võ phái mang tên Đường Phong ra đời. Tảng đá lớn có bề mặt khá bằng phẳng ở Vồ Thiên Tuế (núi Cấm) được ông Cử Đa dùng làm sân dạy võ cho đệ tử. Sau khi thấy lực lượng đã khá mạnh, Cử Đa đến núi Tượng tìm gặp Ngô Lợi (Giáo chủ đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa) để bàn chuyện xuất binh xuống núi đánh Tây. Dẫu rất thán phục khí phách và lòng trung nghĩa của ông Cử Đa, nhưng biết không phải thời thế thích hợp nên Ngô Lợi không đồng ý.
Mặc dù thất vọng, Cử Đa vẫn tụ tập lực lượng kéo đánh đồn Cây Mít (nay thuộc huyện Tịnh Biên) của Pháp ở mé kênh Vĩnh Tế. Binh lính không kinh nghiệm chiến trường, vũ khí thô sơ nên thất bại. Ông Cử Đa một lần nữa sang núi Tà Lơn để tránh liên can cho đệ tử và người dân vô tội. Tuy vậy, lâu lâu ông cũng trở về Bảy Núi thăm các đệ tử cũ. Dần dà, chẳng còn ai thấy tăm hơi gì về ông. Thỉnh thoảng có người thấy một ông già râu tóc bạc phơ, cưỡi hổ mun vượt cánh rừng nối dài giữa Tà Lơn và Thất Sơn. Người ta bảo đó là cụ Cử Đa, đã tu tiên đắc đạo ở Tà Lơn.
Tuyệt chiêu “Bình phong lạc nhạn”
Sau rất nhiều lần trò chuyện, dẫu biết vị đạo sĩ già cuối cùng trên đỉnh núi Cấm – Ba Lưới thời trai trẻ có võ nghệ siêu quần, nhưng ông nhất quyết không nói rõ theo học môn phái nào. Mãi đến lần này, khi chúng tôi quyết “ở lì” lại núi Cấm nhiều ngày, ông lão mới chịu tiết lộ. “Hồi trước, tôi theo học nhiều thầy lắm. Tôi học bốc thuốc chữa bệnh của thầy Năm Sanh. Còn học võ thì rất nhiều thầy. Nhưng học chánh tông là võ phái Đường Phong. Tôi là đệ tử đời thứ 9 của ông Cử Đa ở ngọn núi này. Hồi đó, sư phụ tu tiên đắc đạo ở núi Tà Lơn rồi mới về núi này dạy võ. Sư phụ Cử Đa thì nổi tiếng lắm, nhưng môn phái Đường Phong ở Thất Sơn này lại ít người biết tới”, vị đạo sĩ 100 tuổi nói.
Theo lời lão đạo sĩ Ba Lưới, sư tổ Cử Đa có tài tay không đánh hổ. Lúc cụ mới đặt chân đến Thất Sơn, vì lạ đường, lạ cảnh nên trong lúc băng rừng đã chạm trán hổ dữ. Thế võ tuyệt chiêu mà cụ Cử Đa dùng để đả hổ là “Bình phong lạc nhạn”. Khi mãnh hổ lao vào tấn công, chỉ một cái nhún chân ông đã phóng lên cao hơn chục thước. Từ trên không trung ông lao mình trở xuống như cánh nhạn lướt gió, tung một cước trúng gáy hạ gục chúa sơn lâm. Về sau, biết tiếng cụ Cử Đa, toàn bộ hổ trong rừng ở Thất Sơn gặp cụ đều nằm mọp xuống đất.
Nói về võ phái Đường Phong, lão đạo sĩ Ba Lưới cho hay có rất nhiều thế võ cực kỳ lợi hại. Thế nhưng, trong số hàng trăm đệ tử của Đường Phong chỉ có một số ít đệ tử được chân truyền từ thầy. Mặc dù lúc ông được nhập môn thì sư tổ Cử Đa đã không còn ở Bảy Núi, nhưng tuyệt kỹ trấn môn vẫn được truyền thụ cho đệ tử đời sau. Và ông là một trong số những người này, học được tuyệt chiêu “Bình phong lạc nhạn”. Tuy nhiên, lão đạo sĩ già cho biết để luyện được chiêu thức này không hề đơn giản. Thuở trước, khi mới nhập môn, hằng ngày ông phải chạy bộ lên xuống núi để tập sức khỏe dẻo dai. Rồi phải đào hố sâu rồi từ dưới nhảy lên bờ. Mỗi ngày, hố càng được đào sâu thêm.
Sau một thời gian luyện tập, khi thành thục, chỉ cần nhún một cái có thể phi thân lên khỏi mặt đất năm bảy thước. Nhờ quyết chí luyện tập, ông Ba Lưới có thể thi triển thuần thục chiêu thức bí truyền này. Hơn nữa, ông còn dùng chính chiêu thức này để hạ mãng xà khổng lồ và thoát chết trong lần chạm trán với hổ trên núi Cấm. “Chiêu này đặc biệt hữu dụng trong đối đầu với hổ. Vì chỉ cần một bước nhảy thì đã có thể đứng được trên ngọn cây cao, tránh hổ dễ dàng. Còn với mãng xà thì phải ra đòn quyết định, một chiêu hạ xác nó luôn, không thì sẽ trở thành món “điểm tâm” của nó”, lão đạo sĩ phân tích.

Nhắc đến loài rắn hổ mây khổng lồ, không ít người cho rằng đó là chuyện tào lao của cư dân vùng đất bác Ba Phi. Tôi cũng tin như vậy.
Tuy nhiên, gặp gỡ hàng trăm người, ở nhiều tỉnh thành khác nhau, tôi đều được nghe những câu chuyện rất thật, rất giống nhau. Họ mô tả hình dạng, màu sắc, cách di chuyển, tính nết của loài rắn này trùng khớp một cách khó tin.
Một đạo sĩ kỳ lạ, đáng tôn kính, đã sống 100 năm trên cõi đời, trên quả núi Cấm linh thiêng nhất vùng Cửu Long như đạo sĩ Ba Lưới, thì không có lý do gì để bịa tạc những câu chuyện mua vui. Cả đời ông sống ẩn cư trong rừng, thì ông còn màng gì thế sự, còn ham hố gì việc kể chuyện tào lao cho nổi tiếng.
Tôi hỏi đạo sĩ Ba Lưới: “Thưa ông. Con từ Hà Nội vào đây, mang theo một câu hỏi mà bao năm nay con nghi ngờ mãi, đó là có rắn hổ mây khổng lồ hay không?”.
Đạo sĩ Ba Lưới tỏ ra bực dọc vì câu hỏi đó của tôi. Ông đã định không tiếp tôi nữa. “Tui lấy danh dự của người sắp xuống lỗ để khẳng định với anh rằng, rắn hổ mây khổng lồ là loài có thiệt, chứ không phải chuyện tào lao. Già như tui có giống kẻ bịa chuyện hay không?” – đạo sĩ Ba Lưới nói như vậy.
Theo đạo sĩ Ba Lưới, vùng Thất Sơn huyền bí không chỉ có rắn hổ mây khổng lồ, mà còn có những loài khác, cũng to khủng khiếp, ấy là con phướn, con rết.
Con phướn to lớn như hổ mây, nặng vài trăm ký. Nó chỉ khác rắn hổ mây ở cái thân hình màu đen, và đầu dẹp như cá trê. Con phướn phóng trên ngọn cây như giông bão. Khi nó săn mồi, cả cánh rừng rung bần bật, cỏ cây táp đi. Nhưng nó là loài rất nhát, nên ít người thấy nó ngoài các đạo sĩ ẩn tu lâu năm trong rừng.
Xưa kia, đạo sĩ Ba Lưới thi thoảng gặp con phướn, nhưng 50 năm trở lại đây thì nó biến đâu mất. Loài rết khổng lồ cũng to bằng bắp chân, có thể xơi tái gà, vịt. Các đạo sĩ trên núi cũng thường bắt rết xiên vào cây nướng trên than hồng làm món ăn. Thịt nó trắng và ngọt như thịt gà. Nhưng loài rết khổng lồ cũng biến mất từ lâu rồi.
Tiêu bản rắn hổ mây ở trại rắn Đồng Tâm
Để thông tin trung thực về cuộc chiến với rắn hổ mây khổng lồ ở núi Cấm, chúng tôi xin chép nguyên văn đoạn trao đổi với đạo sĩ Ba Lưới:
- PV: Thưa đạo sĩ, ông hãy kể cho độc giả, đặc biệt là những nhà nghiên cứu động vật được biết về rắn hổ mây.?
– Đạo sĩ Ba Lưới: Rắn hổ mây khổng lồ nhiều người nhìn thấy, thậm chí bắt được chứ không riêng gì tui. Tui thì gặp chúng thường xuyên, thậm chí ở cạnh chúng suốt, nên tui rất rõ về nó. Nó có thân màu vàng, hơi mốc. Màu vàng nhạt hơn trăn.
Loài hổ mây khác với trăn là khi săn mồi hoặc tránh thân cây đổ, mỏm đá, nó cất đầu rất cao, đến tận ngọn cây. Nó chạy rất nhanh khi ở trên cây, phóng từ cây nọ sang cây kia tạo ra tiếng ồn như gió lốc. Nó sống ở sâu trong rừng và lẩn trốn con người, nên ít người gặp được nó. Con hổ mây cỡ lớn hết vòng tay ôm, to bằng cột nhà, bằng cây thốt nốt. Nó dài 20 mét. Thậm chí dài hơn.
- PV: Nghe nói ông dùng võ giết rắn?
- Đạo sĩ Ba Lưới: Tui luôn nhớ lời dạy của thầy nên cả đời tu tâm dưỡng tánh, cứu người. Học võ cũng là học đạo, chứ không phải săn muông thú, diệt muông thú. Nếu tui giết muông thú, liệu tui có sống được trăm tuổi ở rừng già này không? Tui hại muông thú, tui sẽ bị thú ăn thịt lâu rồi. Việc tui giết rắn cũng là bất đắc dĩ, vì nó nổi điên đòi ăn thịt tui.
- PV: Ông kể chuyện giết hổ mây đi ạ?
- Đạo sĩ Ba Lưới: Tui giết con hổ mây đầu tiên là năm 1944, khi đó tui chừng 30 tuổi, đã tu luyện trên núi được 10 năm.
Lúc đó rừng rú hoang rậm lắm. Cả vùng núi, và đồng ruộng mênh mông không có bóng người, toàn cây cối, đầm nước, thú dữ. Cả vùng Bảy Núi chỉ có các đạo sĩ và học trò sinh sống, chứ không có dân cư. Chỉ những người tinh thông võ nghệ, biết thuốc trị rắn mới dám vào rừng ở. Trong rừng, rắn độc nhiều vô số, rắn khổng lồ, trăn khổng lồ vắt lủng liểng trên đọt cây.
Tuy nhiên, giới đạo sĩ chúng tui không giết rắn, không xâm phạm nơi ở của chúng, nên chúng cũng không làm hại con người. Rắn hổ mây có thể nuốt trâu, bò, sơn dương, lợn rừng. Nó bò ra mép sông nuốt cá sấu, nhưng tuyệt nhiên không dám tấn công các đạo sĩ.
Nhưng rồi, không hiểu sao, một con hổ mây ở cạnh nơi tôi tu luyện lại đổi tính nết, đòi ăn thịt tui.
Bình thường, các buổi trưa, tui vẫn thấy nó quấn trên hai ngọn cây, thả thân võng xuống đong đưa. Nhưng rồi đột nhiên, nó đi đâu mất, mấy tháng không thấy bóng dáng.
Tháng 4 cỏ cháy, rừng cháy, chiến tranh bom đạn, khí trời nóng ran. Có lẽ do trời nóng, nên con rắn thay đổi tính nết, từ hiền lành sang hung dữ. Cũng có thể do không kiếm được mồi, đói ăn, nên nó đòi ăn thịt tui.
Đầu giờ sáng, tui vác đòn gánh vào rừng hái thuốc. Chiếc đòn gánh ấy làm từ loại gỗ rất cứng, tròn, to bằng bắp chân, một đầu nhọn, một đầu tù. Tui thường buộc cây thuốc thành bó, xiên đòn vào tâm bó gánh về. Tui cũng dùng chiếc đòn gánh tới 200 ký đá để luyện công.
Đi nửa dốc, thì con hổ mây đó bò ra chặn đường. Bình thường thấy người hổ mây chạy mất dạng, đằng này nó lại bò ra giữa đường chặn tui. Chờ một lát, không thấy nó bỏ đi, mà ngóc đầu lên nhìn tui. Tui bực mình nhặt hòn đá ném về phía nó, nhưng nó không bỏ đi mà rùng rùng chuyển động, cất đầu cao đến 5 mét.
Cái đầu nó bạnh ra to đúng bằng cái nia, chiều ngang cỡ một mét. Đầu nó đu đưa, lưỡi thè ra, mắt dòm thẳng xuống tui. Nhìn thái độ của nó, tui biết là nó sẽ tìm cách nuốt chửng tui. Tui vung đòn gánh thủ thế tìm sơ hở của nó.
Sống ở rừng lâu năm, quá hiểu loài hổ mây, nên tui giữ tinh thần bình tĩnh. Nếu mất tinh thần là chỉ có làm mồi cho nó. Loài hổ mây phóng trên ngọn cây như giông bão thì con người làm sao chạy thoát được nó. Loài khỉ đu ào ào trên ngọn cây nó còn tóm được, nói gì con người chạy dưới đất.
Tui thủ thế đoán định hướng tấn công của nó, còn nó nhòm tui tìm sơ hở. Loài hổ mây tuy mạnh nhưng rất đốt. Nó nhòm về bên nào, thì sẽ tấn công bên đó. Loài cọp thì đập đuôi bên này, nhưng lại chụp về bên kia.
- PV: Trong hoàn cảnh con rắn ngáng đường, định tấn công, sao ông không tìm cách tránh nó?
-Đạo sĩ Ba Lưới: Loài hổ mây chạy như gió cuốn, bão giông, nên nó đã chí ăn thịt ai, thì người đó không thể thoát được. Nếu lúc đó tui không vững tâm, mà chạy trốn, thì nó sẽ phóng theo nuốt chửng. Tui chẳng còn cách nào ngoài việc đối mặt với nó.
- PV: Chắc rằng ông sử dụng thế võ mà ông hay gọi là Bình phong lạc nhạn?
-Đạo sĩ Ba Lưới: Khi tui thủ thế với chiếc đòn trong tay, nó chuyển động cái đầu, sàng qua sàng lại, rồi đột ngột há miệng chụp thẳng xuống đầu tui. Tui dùng thế Bình phong lạc nhạn tung người lên không trung vừa tránh cú chụp của nó, vừa vung đòn liên tiếp vụt vào sống lưng và cổ nó.
Các cụ bảo đánh rắn đánh vào sống lưng, nhưng con rắn hổ mây to quá, da dày, nên vụt vào sống lưng nó chẳng ăn thua gì. Trúng mấy cú đánh, con rắn càng hung dữ. Nó thu người, cất đầu lên cao, rồi chụp xuống liên tục. Lúc này tui mới hiểu được giá trị của thế võ Bình phong lạc nhạn mà thầy tui truyền cho. Với khả năng bật lên không trung, bay qua vồ (mỏm đá, mỏm núi), tui mới tránh được những cú mổ của con rắn khổng lồ.
Lúc đó, cả cảnh rừng như có giông bão. Cây cối rung bần bật. Con rắn càng đánh càng hăng. Tui dù khỏe thế, nhưng đối phó với nó mãi thì có dấu hiệu đuối sức. Khi đó tui nghĩ nếu không hạ được nó sớm, thì chắc chắn bị nó ăn thịt.
Sau cú mổ trượt, tui phi thân ra phía đuôi nó, để nó mất thời gian đổi hướng. Tui thủ thế, tập trung năng lượng tinh thần để ra đòn quyết định. Con rắn cũng cất đầu lên tận ngọn cây, từ từ hạ xuống cách đầu tui vài mét. Đôi mắt nó đỏ rực. Có vẻ như nó cũng sẽ ra đòn quyết định với tui.
Nó há cái miệng đỏ lòm, rồi chụp xuống rất mạnh. Tui lùi lại 3 bước tránh cú mổ của nó. Tui bật lên tận ngọn cây. Con rắn chụp trượt thì cất đầu lên tính chụp tiếp, còn tui từ trên không rơi xuống. Tui tung liên tiếp 3 cú đánh trúng đầu. Cú đánh cuối cùng khiến chiếc đòn gãy đôi.
Tui rơi xuống trong tư thế vững vàng, sẵn sàng tiếp tục chiến đấu, nhưng con rắn thì đổ oặt xuống đất. Đầu nó bất động, nhưng thân còn vùng vẫy mãi mới chịu thôi.
Tui phải ra liền 3 đòn, mới hạ được nó. Đòn thứ nhứt tui đập bể sọ nó, còn đòn thứ nhì, thứ ba, tui đập vỡ óc nó. Lúc đó, tui lại ngộ thêm ra được công năng đặc biệt của thế võ này. Do vậy, sau đó, tui càng tập luyện kỹ càng để hoàn thiện hơn.
Cặp rắn bằng bê-tông ông Sơn đắp ở núi Két để dọa rắn hổ mây.
- PVVậy khi đó có ai chứng kiến việc ông giết con rắn?
-Đạo sĩ Ba Lưới: Hạ con rắn rồi, tui xuống núi gọi người dân vào rừng xẻ thịt rắn mang về ăn. Chỉ có hơn chục người dám theo tui vào núi lấy thịt rắn. Phần lớn người dân sợ rắn trả thù, nên không dám vào xem.
Ngày xưa, người dân ở đây sợ rắn hổ mây lắm, họ gọi là ông rắn, ngài rắn, chứ không dám gọi con rắn đâu. Họ sợ ăn thịt hổ mây thì sẽ bị hổ mây đòi mạng. Một số người vào rừng xem con rắn giờ đã già lắm, nhưng hầu hết là chết rồi. Họ có thấy tui giết rắn, họ mới tin tui đánh nhau với hổ mây chứ. Ai ở vùng Bảy Núi này chẳng biết đạo sĩ Ba Lưới đánh hạ hổ mây khổng lồ.
- PV: Vậy cụ thể con rắn đó lớn như thế nào ạ?
-Đạo sĩ Ba Lưới: Ngày đó chuyện gặp rắn, trăn lớn và giết chúng rất bình thường, có ai để tâm tính toán hay đem cân đâu. Tuy nhiên, tui cùng những người xẻ thịt con rắn áng chừng nó dài hơn 20 mét, nặng cỡ 500 ký. Thân nó bằng cây thốt nốt già. Tui ôm thử hết một vòng tay.
Chuyện tui hạ rắn hổ mây khổng lồ ở vùng này ai chẳng biết. Cậu không tin thì cứ đi hỏi những người già quanh núi Cấm sẽ rõ.
- PV: Thế còn lần thứ 2 ông hạ rắn khổng lồ…
-Đạo sĩ Ba Lưới: Lần thứ hai vào năm 1960, lúc tui 50 tuổi. Ở cánh rừng chỗ tui ở có đàn khỉ đến cả trăm con. Bọn khỉ sống với tui chân tình lắm. Chúng mò vào lều tui xin ăn. Xin không được thì chúng ăn trộm. Tui trồng được bao nhiêu bắp, chúng bẻ trộm hết.
Thế nhưng, một ngày, con hổ mây tìm về khu rừng này. Cứ mỗi lần nghe tiếng ào ào như nổi cơn giông, thì biết ngay con rắn đang săn đàn khỉ. Đàn khỉ bị nó ăn vãn. Sợ con rắn, nên chúng kéo đi nơi khác. Không săn được mồi, con rắn quay sang ăn chó của tui. 10 con chó tui nuôi nó đều ăn hết.
Giống chó tui nuôi là chó săn, bắt được rắn hổ chúa, hổ hèo, nhưng thấy hổ mây thì không kêu nổi, cứ ngồi im run bần bật chờ nó mổ. Nhưng quy luật rừng xanh là thế, nên tui cũng chẳng thù oán gì nó. Chỉ có điều, ăn hết đàn chó, thì nó đòi ăn thịt tui.
Khi đó, công phu của tui đã hoàn thiện, nên coi thường rắn hổ mây lắm. Biết trước sau nó sẽ ăn thịt mình, nên đi đâu tui cũng mang quéo (dao phát rừng). Chiếc quéo này dài 2m, do tui tự rèn.
Bữa đó, đang vào rừng hái thuốc, thì nghe tiếng chạy re re từ xa. Tiếng xào xạc mỗi lúc một gần. Rồi con rắn hổ mây khổng lồ ấy bò đến trước mặt tui. Con rắn này rất hung dữ, lại đói mồi, nên không thèm cất đầu lên rồi mới chụp xuống, mà nó há miệng và nhắm thẳng tui phóng tới.
Trông cái cách tấn công hung hăng của nó, tui biết nó quá chủ quan. Không thể sống hòa bình với con rắn này nữa. Không ăn thịt được tui, thì nó cũng ăn thịt người khác, nên trong tích tắc tui quyết hạ nó.
Nó vừa phóng tới thì tui sử dụng thế võ Bình phong lạc nhạn, tung người lên không trung. Con rắn vồ hụt mồi, chưa kịp quay đầu lại, thì chiếc quéo tui cầm trên tay đã cắt đứt đầu nó.
Tui giết con rắn này quá dễ dàng, chỉ trong chưa đầy một giây. Con rắn này cũng không lớn bằng con đầu tiên tui giết, nhưng cũng phải dài cỡ 15 mét và nặng chừng 300 ký.
Theo đạo sĩ Ba Lưới, sau vụ giết con hổ mây thứ hai, ông ít gặp lại những con rắn khổng lồ như thế. Ông chỉ còn gặp những con hổ mây nặng cỡ 200 kg mà thôi.
Ông cũng cho biết, ông thường gặp chúng ẩn nấp ở hang Mây trên núi Cấm. Nơi đó ít người qua lại, vách đá hiểm trở, loài rắn hổ mây trú ngụ, nên các đạo sĩ mới gọi là hang Mây.
Tôi hỏi ông rằng, liệu bây giờ trên núi Cấm còn rắn hổ mây hay không, đạo sĩ Ba Lưới cho rằng, có thể vẫn còn hổ mây, nhưng con người chiếm hết môi trường sống, nên chúng lẩn sâu vào trong hang động, không dám ra ngoài. Cũng có thể chúng đã bỏ sang núi non bên Campuchia từ mấy chục năm trước.


tịnh biên

Cuộc Chiến Huyền Thoại Với Hổ Mây Khổng Lồ

Tùng Phạm  |  at  19:42

Nhắc đến loài rắn hổ mây khổng lồ, không ít người cho rằng đó là chuyện tào lao của cư dân vùng đất bác Ba Phi. Tôi cũng tin như vậy.
Tuy nhiên, gặp gỡ hàng trăm người, ở nhiều tỉnh thành khác nhau, tôi đều được nghe những câu chuyện rất thật, rất giống nhau. Họ mô tả hình dạng, màu sắc, cách di chuyển, tính nết của loài rắn này trùng khớp một cách khó tin.
Một đạo sĩ kỳ lạ, đáng tôn kính, đã sống 100 năm trên cõi đời, trên quả núi Cấm linh thiêng nhất vùng Cửu Long như đạo sĩ Ba Lưới, thì không có lý do gì để bịa tạc những câu chuyện mua vui. Cả đời ông sống ẩn cư trong rừng, thì ông còn màng gì thế sự, còn ham hố gì việc kể chuyện tào lao cho nổi tiếng.
Tôi hỏi đạo sĩ Ba Lưới: “Thưa ông. Con từ Hà Nội vào đây, mang theo một câu hỏi mà bao năm nay con nghi ngờ mãi, đó là có rắn hổ mây khổng lồ hay không?”.
Đạo sĩ Ba Lưới tỏ ra bực dọc vì câu hỏi đó của tôi. Ông đã định không tiếp tôi nữa. “Tui lấy danh dự của người sắp xuống lỗ để khẳng định với anh rằng, rắn hổ mây khổng lồ là loài có thiệt, chứ không phải chuyện tào lao. Già như tui có giống kẻ bịa chuyện hay không?” – đạo sĩ Ba Lưới nói như vậy.
Theo đạo sĩ Ba Lưới, vùng Thất Sơn huyền bí không chỉ có rắn hổ mây khổng lồ, mà còn có những loài khác, cũng to khủng khiếp, ấy là con phướn, con rết.
Con phướn to lớn như hổ mây, nặng vài trăm ký. Nó chỉ khác rắn hổ mây ở cái thân hình màu đen, và đầu dẹp như cá trê. Con phướn phóng trên ngọn cây như giông bão. Khi nó săn mồi, cả cánh rừng rung bần bật, cỏ cây táp đi. Nhưng nó là loài rất nhát, nên ít người thấy nó ngoài các đạo sĩ ẩn tu lâu năm trong rừng.
Xưa kia, đạo sĩ Ba Lưới thi thoảng gặp con phướn, nhưng 50 năm trở lại đây thì nó biến đâu mất. Loài rết khổng lồ cũng to bằng bắp chân, có thể xơi tái gà, vịt. Các đạo sĩ trên núi cũng thường bắt rết xiên vào cây nướng trên than hồng làm món ăn. Thịt nó trắng và ngọt như thịt gà. Nhưng loài rết khổng lồ cũng biến mất từ lâu rồi.
Tiêu bản rắn hổ mây ở trại rắn Đồng Tâm
Để thông tin trung thực về cuộc chiến với rắn hổ mây khổng lồ ở núi Cấm, chúng tôi xin chép nguyên văn đoạn trao đổi với đạo sĩ Ba Lưới:
- PV: Thưa đạo sĩ, ông hãy kể cho độc giả, đặc biệt là những nhà nghiên cứu động vật được biết về rắn hổ mây.?
– Đạo sĩ Ba Lưới: Rắn hổ mây khổng lồ nhiều người nhìn thấy, thậm chí bắt được chứ không riêng gì tui. Tui thì gặp chúng thường xuyên, thậm chí ở cạnh chúng suốt, nên tui rất rõ về nó. Nó có thân màu vàng, hơi mốc. Màu vàng nhạt hơn trăn.
Loài hổ mây khác với trăn là khi săn mồi hoặc tránh thân cây đổ, mỏm đá, nó cất đầu rất cao, đến tận ngọn cây. Nó chạy rất nhanh khi ở trên cây, phóng từ cây nọ sang cây kia tạo ra tiếng ồn như gió lốc. Nó sống ở sâu trong rừng và lẩn trốn con người, nên ít người gặp được nó. Con hổ mây cỡ lớn hết vòng tay ôm, to bằng cột nhà, bằng cây thốt nốt. Nó dài 20 mét. Thậm chí dài hơn.
- PV: Nghe nói ông dùng võ giết rắn?
- Đạo sĩ Ba Lưới: Tui luôn nhớ lời dạy của thầy nên cả đời tu tâm dưỡng tánh, cứu người. Học võ cũng là học đạo, chứ không phải săn muông thú, diệt muông thú. Nếu tui giết muông thú, liệu tui có sống được trăm tuổi ở rừng già này không? Tui hại muông thú, tui sẽ bị thú ăn thịt lâu rồi. Việc tui giết rắn cũng là bất đắc dĩ, vì nó nổi điên đòi ăn thịt tui.
- PV: Ông kể chuyện giết hổ mây đi ạ?
- Đạo sĩ Ba Lưới: Tui giết con hổ mây đầu tiên là năm 1944, khi đó tui chừng 30 tuổi, đã tu luyện trên núi được 10 năm.
Lúc đó rừng rú hoang rậm lắm. Cả vùng núi, và đồng ruộng mênh mông không có bóng người, toàn cây cối, đầm nước, thú dữ. Cả vùng Bảy Núi chỉ có các đạo sĩ và học trò sinh sống, chứ không có dân cư. Chỉ những người tinh thông võ nghệ, biết thuốc trị rắn mới dám vào rừng ở. Trong rừng, rắn độc nhiều vô số, rắn khổng lồ, trăn khổng lồ vắt lủng liểng trên đọt cây.
Tuy nhiên, giới đạo sĩ chúng tui không giết rắn, không xâm phạm nơi ở của chúng, nên chúng cũng không làm hại con người. Rắn hổ mây có thể nuốt trâu, bò, sơn dương, lợn rừng. Nó bò ra mép sông nuốt cá sấu, nhưng tuyệt nhiên không dám tấn công các đạo sĩ.
Nhưng rồi, không hiểu sao, một con hổ mây ở cạnh nơi tôi tu luyện lại đổi tính nết, đòi ăn thịt tui.
Bình thường, các buổi trưa, tui vẫn thấy nó quấn trên hai ngọn cây, thả thân võng xuống đong đưa. Nhưng rồi đột nhiên, nó đi đâu mất, mấy tháng không thấy bóng dáng.
Tháng 4 cỏ cháy, rừng cháy, chiến tranh bom đạn, khí trời nóng ran. Có lẽ do trời nóng, nên con rắn thay đổi tính nết, từ hiền lành sang hung dữ. Cũng có thể do không kiếm được mồi, đói ăn, nên nó đòi ăn thịt tui.
Đầu giờ sáng, tui vác đòn gánh vào rừng hái thuốc. Chiếc đòn gánh ấy làm từ loại gỗ rất cứng, tròn, to bằng bắp chân, một đầu nhọn, một đầu tù. Tui thường buộc cây thuốc thành bó, xiên đòn vào tâm bó gánh về. Tui cũng dùng chiếc đòn gánh tới 200 ký đá để luyện công.
Đi nửa dốc, thì con hổ mây đó bò ra chặn đường. Bình thường thấy người hổ mây chạy mất dạng, đằng này nó lại bò ra giữa đường chặn tui. Chờ một lát, không thấy nó bỏ đi, mà ngóc đầu lên nhìn tui. Tui bực mình nhặt hòn đá ném về phía nó, nhưng nó không bỏ đi mà rùng rùng chuyển động, cất đầu cao đến 5 mét.
Cái đầu nó bạnh ra to đúng bằng cái nia, chiều ngang cỡ một mét. Đầu nó đu đưa, lưỡi thè ra, mắt dòm thẳng xuống tui. Nhìn thái độ của nó, tui biết là nó sẽ tìm cách nuốt chửng tui. Tui vung đòn gánh thủ thế tìm sơ hở của nó.
Sống ở rừng lâu năm, quá hiểu loài hổ mây, nên tui giữ tinh thần bình tĩnh. Nếu mất tinh thần là chỉ có làm mồi cho nó. Loài hổ mây phóng trên ngọn cây như giông bão thì con người làm sao chạy thoát được nó. Loài khỉ đu ào ào trên ngọn cây nó còn tóm được, nói gì con người chạy dưới đất.
Tui thủ thế đoán định hướng tấn công của nó, còn nó nhòm tui tìm sơ hở. Loài hổ mây tuy mạnh nhưng rất đốt. Nó nhòm về bên nào, thì sẽ tấn công bên đó. Loài cọp thì đập đuôi bên này, nhưng lại chụp về bên kia.
- PV: Trong hoàn cảnh con rắn ngáng đường, định tấn công, sao ông không tìm cách tránh nó?
-Đạo sĩ Ba Lưới: Loài hổ mây chạy như gió cuốn, bão giông, nên nó đã chí ăn thịt ai, thì người đó không thể thoát được. Nếu lúc đó tui không vững tâm, mà chạy trốn, thì nó sẽ phóng theo nuốt chửng. Tui chẳng còn cách nào ngoài việc đối mặt với nó.
- PV: Chắc rằng ông sử dụng thế võ mà ông hay gọi là Bình phong lạc nhạn?
-Đạo sĩ Ba Lưới: Khi tui thủ thế với chiếc đòn trong tay, nó chuyển động cái đầu, sàng qua sàng lại, rồi đột ngột há miệng chụp thẳng xuống đầu tui. Tui dùng thế Bình phong lạc nhạn tung người lên không trung vừa tránh cú chụp của nó, vừa vung đòn liên tiếp vụt vào sống lưng và cổ nó.
Các cụ bảo đánh rắn đánh vào sống lưng, nhưng con rắn hổ mây to quá, da dày, nên vụt vào sống lưng nó chẳng ăn thua gì. Trúng mấy cú đánh, con rắn càng hung dữ. Nó thu người, cất đầu lên cao, rồi chụp xuống liên tục. Lúc này tui mới hiểu được giá trị của thế võ Bình phong lạc nhạn mà thầy tui truyền cho. Với khả năng bật lên không trung, bay qua vồ (mỏm đá, mỏm núi), tui mới tránh được những cú mổ của con rắn khổng lồ.
Lúc đó, cả cảnh rừng như có giông bão. Cây cối rung bần bật. Con rắn càng đánh càng hăng. Tui dù khỏe thế, nhưng đối phó với nó mãi thì có dấu hiệu đuối sức. Khi đó tui nghĩ nếu không hạ được nó sớm, thì chắc chắn bị nó ăn thịt.
Sau cú mổ trượt, tui phi thân ra phía đuôi nó, để nó mất thời gian đổi hướng. Tui thủ thế, tập trung năng lượng tinh thần để ra đòn quyết định. Con rắn cũng cất đầu lên tận ngọn cây, từ từ hạ xuống cách đầu tui vài mét. Đôi mắt nó đỏ rực. Có vẻ như nó cũng sẽ ra đòn quyết định với tui.
Nó há cái miệng đỏ lòm, rồi chụp xuống rất mạnh. Tui lùi lại 3 bước tránh cú mổ của nó. Tui bật lên tận ngọn cây. Con rắn chụp trượt thì cất đầu lên tính chụp tiếp, còn tui từ trên không rơi xuống. Tui tung liên tiếp 3 cú đánh trúng đầu. Cú đánh cuối cùng khiến chiếc đòn gãy đôi.
Tui rơi xuống trong tư thế vững vàng, sẵn sàng tiếp tục chiến đấu, nhưng con rắn thì đổ oặt xuống đất. Đầu nó bất động, nhưng thân còn vùng vẫy mãi mới chịu thôi.
Tui phải ra liền 3 đòn, mới hạ được nó. Đòn thứ nhứt tui đập bể sọ nó, còn đòn thứ nhì, thứ ba, tui đập vỡ óc nó. Lúc đó, tui lại ngộ thêm ra được công năng đặc biệt của thế võ này. Do vậy, sau đó, tui càng tập luyện kỹ càng để hoàn thiện hơn.
Cặp rắn bằng bê-tông ông Sơn đắp ở núi Két để dọa rắn hổ mây.
- PVVậy khi đó có ai chứng kiến việc ông giết con rắn?
-Đạo sĩ Ba Lưới: Hạ con rắn rồi, tui xuống núi gọi người dân vào rừng xẻ thịt rắn mang về ăn. Chỉ có hơn chục người dám theo tui vào núi lấy thịt rắn. Phần lớn người dân sợ rắn trả thù, nên không dám vào xem.
Ngày xưa, người dân ở đây sợ rắn hổ mây lắm, họ gọi là ông rắn, ngài rắn, chứ không dám gọi con rắn đâu. Họ sợ ăn thịt hổ mây thì sẽ bị hổ mây đòi mạng. Một số người vào rừng xem con rắn giờ đã già lắm, nhưng hầu hết là chết rồi. Họ có thấy tui giết rắn, họ mới tin tui đánh nhau với hổ mây chứ. Ai ở vùng Bảy Núi này chẳng biết đạo sĩ Ba Lưới đánh hạ hổ mây khổng lồ.
- PV: Vậy cụ thể con rắn đó lớn như thế nào ạ?
-Đạo sĩ Ba Lưới: Ngày đó chuyện gặp rắn, trăn lớn và giết chúng rất bình thường, có ai để tâm tính toán hay đem cân đâu. Tuy nhiên, tui cùng những người xẻ thịt con rắn áng chừng nó dài hơn 20 mét, nặng cỡ 500 ký. Thân nó bằng cây thốt nốt già. Tui ôm thử hết một vòng tay.
Chuyện tui hạ rắn hổ mây khổng lồ ở vùng này ai chẳng biết. Cậu không tin thì cứ đi hỏi những người già quanh núi Cấm sẽ rõ.
- PV: Thế còn lần thứ 2 ông hạ rắn khổng lồ…
-Đạo sĩ Ba Lưới: Lần thứ hai vào năm 1960, lúc tui 50 tuổi. Ở cánh rừng chỗ tui ở có đàn khỉ đến cả trăm con. Bọn khỉ sống với tui chân tình lắm. Chúng mò vào lều tui xin ăn. Xin không được thì chúng ăn trộm. Tui trồng được bao nhiêu bắp, chúng bẻ trộm hết.
Thế nhưng, một ngày, con hổ mây tìm về khu rừng này. Cứ mỗi lần nghe tiếng ào ào như nổi cơn giông, thì biết ngay con rắn đang săn đàn khỉ. Đàn khỉ bị nó ăn vãn. Sợ con rắn, nên chúng kéo đi nơi khác. Không săn được mồi, con rắn quay sang ăn chó của tui. 10 con chó tui nuôi nó đều ăn hết.
Giống chó tui nuôi là chó săn, bắt được rắn hổ chúa, hổ hèo, nhưng thấy hổ mây thì không kêu nổi, cứ ngồi im run bần bật chờ nó mổ. Nhưng quy luật rừng xanh là thế, nên tui cũng chẳng thù oán gì nó. Chỉ có điều, ăn hết đàn chó, thì nó đòi ăn thịt tui.
Khi đó, công phu của tui đã hoàn thiện, nên coi thường rắn hổ mây lắm. Biết trước sau nó sẽ ăn thịt mình, nên đi đâu tui cũng mang quéo (dao phát rừng). Chiếc quéo này dài 2m, do tui tự rèn.
Bữa đó, đang vào rừng hái thuốc, thì nghe tiếng chạy re re từ xa. Tiếng xào xạc mỗi lúc một gần. Rồi con rắn hổ mây khổng lồ ấy bò đến trước mặt tui. Con rắn này rất hung dữ, lại đói mồi, nên không thèm cất đầu lên rồi mới chụp xuống, mà nó há miệng và nhắm thẳng tui phóng tới.
Trông cái cách tấn công hung hăng của nó, tui biết nó quá chủ quan. Không thể sống hòa bình với con rắn này nữa. Không ăn thịt được tui, thì nó cũng ăn thịt người khác, nên trong tích tắc tui quyết hạ nó.
Nó vừa phóng tới thì tui sử dụng thế võ Bình phong lạc nhạn, tung người lên không trung. Con rắn vồ hụt mồi, chưa kịp quay đầu lại, thì chiếc quéo tui cầm trên tay đã cắt đứt đầu nó.
Tui giết con rắn này quá dễ dàng, chỉ trong chưa đầy một giây. Con rắn này cũng không lớn bằng con đầu tiên tui giết, nhưng cũng phải dài cỡ 15 mét và nặng chừng 300 ký.
Theo đạo sĩ Ba Lưới, sau vụ giết con hổ mây thứ hai, ông ít gặp lại những con rắn khổng lồ như thế. Ông chỉ còn gặp những con hổ mây nặng cỡ 200 kg mà thôi.
Ông cũng cho biết, ông thường gặp chúng ẩn nấp ở hang Mây trên núi Cấm. Nơi đó ít người qua lại, vách đá hiểm trở, loài rắn hổ mây trú ngụ, nên các đạo sĩ mới gọi là hang Mây.
Tôi hỏi ông rằng, liệu bây giờ trên núi Cấm còn rắn hổ mây hay không, đạo sĩ Ba Lưới cho rằng, có thể vẫn còn hổ mây, nhưng con người chiếm hết môi trường sống, nên chúng lẩn sâu vào trong hang động, không dám ra ngoài. Cũng có thể chúng đã bỏ sang núi non bên Campuchia từ mấy chục năm trước.


Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

Gắn liền với sông nước Nam bộ, chợ nổi trên sông là nét văn hóa đặc trưng vùng miền. Chợ nổi là nơi trao đổi, mua bán nhiều loại hàng hóa với những chiếc ghe, chiếc xuồng bồng bềnh trên mặt nước, dễ dàng di chuyển. Miền Tây nổi tiếng với những chợ nổi có quy mô lớn như chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ), chợ nổi Phụng Hiệp (Hậu Giang), chợ nổi Long Xuyên (An Giang)… Ở huyện cù lao Chợ Mới (An Giang) có một chợ nổi chỉ buôn bán một thứ hàng hóa khá đặc biệt: tro. Đó là chợ tro Trà Thôn.
Huyện Chợ Mới là một trong bốn huyện cù lao của tỉnh An Giang, được sông Tiền, sông Hậu bao bọc và bồi đắp phù sa nên đất đai ở đây màu mỡ, thích hợp với việc trồng hoa màu. Vì thế, Chợ Mới luôn là địa phương dẫn đầu An Giang về cung cấp hoa màu cho thị trường trong và ngoài tỉnh, có khi xuất sang Campuchia. Huyện cù lao này từ xưa đã nổi tiếng với câu lục bát: Chiều chiều quạ nói với diều – Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm; và đã đi vào lời ca, làm say đắm lòng người: “Cái chợ có hồi nào và bao nhiêu tuổi? Mà ai cũng bảo rằng: Chợ Mới quê hương! Ở nơi đó, tôi có một người thương. Cứ chiều chiều nàng ra bờ sông giặt áo…” (Chợ Mới – Trọng Nguyễn).
Trà Thôn là kinh nối liền sông Tiền với sông Ông Chưởng thuộc huyện Chợ Mơi tỉnh An Giang, là con kinh do người dân đào đất mà thành. Hai bờ kinh thuộc hai ấp Long Quới 1 và Long Quới 2 (xã Long Ðiền B), nơi có nhiều hộ dân sinh sống bằng nghề mua bán tro đã hơn 20 năm, tập trung đông nhất khoảng một cây số ở đoạn đầu kinh Trà Thôn thông với sông Ông Chưởng.
Lúc đầu, chỉ có mấy hộ gia đình nghèo, không có đất canh tác, bỏ công đi hốt tro về bán cho nhà vườn chung quanh kiếm lời. Mà đất ở đây tốt lắm, không cần sử dụng đến tro, nên cũng khó bán. Vì vậy, bà con lấy ghe chở tro sang các tỉnh khác bán.. Thấy có được chút lời, nhiều người xúm vào làm, dần dần đông đúc như ngày nay.
Ngày trước nhà ai cũng làm ruộng, cắt lúa bằng tay, máy suốt xong, rạ rơm chất thành đống, đốt đồng xong, mặc sức mà hốt tro. Và nhà nào cũng nấu lò củi hoặc lò trấu, rồi cây lá trong vườn, sau nhà rụng xuống, họ gom lại đốt, tro bỏ không, bay mù mịt. Có người hốt, họ mừng lắm! Đến lúc nguồn tro tại chỗ cạn thì họ đi các đồng lân cận, các huyện lân cận,… có người còn đi tới Bến Tre, Trà Vinh hốt tro. Cho nên mới có người đi hốt tro và người thu mua tro, dần dần hình thành chợ nổi tro Trà Thôn.
Về Trà Thôn những ngày cuối hè ta có thể thấy cả trăm chiếc ghe tro đậu dọc dài hai bên bờ kênh Trà Thôn và dòng sông Ông Chưởng để cất hàng. Không chỉ bán tro cho các chủ vựa ở Trà Thôn mà nhiều chủ vườn trồng hoa kiểng, cây ăn trái ở miệt Sa Đéc, Cái Mơn, Vĩnh Long… cũng tìm đến tận “thương cảng tro rơm Trà Thôn” để mua. Hiện nay ở Trà Thôn có hàng trăm chủ vựa tro lớn, nhỏ. Vựa tro lớn nhất có cả trăm ngàn giạ, nhỏ nhất cũng mười, hai mươi ngàn giạ…
Dưới kinh ghe nhỏ, tàu lớn buôn bán tấp nập. Ghe, tàu nào cũng lố nhố bóng người giậm tro, cào tro, đội tro… Còn hai bên đường, đi tới đâu cũng thấy những đụn tro chất đống, cao lêu nghêu được quây bạt để che mưa. Giữa trưa, có tiếng ca thiệt mùi của anh thanh niên nào đó cải biên bản vọng cổ Tình anh bán chiếu:
Tro Trà Thôn cắm sào khắp ngả
Thấy tôi đen đúa cô chớ vội cười
Tro này bán hổng mắc đâu
Ruộng vườn cô trúng chúng mình nên duyên…
tro

Chợ Tro Trà Thôn

Tùng Phạm  |  at  23:18

Gắn liền với sông nước Nam bộ, chợ nổi trên sông là nét văn hóa đặc trưng vùng miền. Chợ nổi là nơi trao đổi, mua bán nhiều loại hàng hóa với những chiếc ghe, chiếc xuồng bồng bềnh trên mặt nước, dễ dàng di chuyển. Miền Tây nổi tiếng với những chợ nổi có quy mô lớn như chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ), chợ nổi Phụng Hiệp (Hậu Giang), chợ nổi Long Xuyên (An Giang)… Ở huyện cù lao Chợ Mới (An Giang) có một chợ nổi chỉ buôn bán một thứ hàng hóa khá đặc biệt: tro. Đó là chợ tro Trà Thôn.
Huyện Chợ Mới là một trong bốn huyện cù lao của tỉnh An Giang, được sông Tiền, sông Hậu bao bọc và bồi đắp phù sa nên đất đai ở đây màu mỡ, thích hợp với việc trồng hoa màu. Vì thế, Chợ Mới luôn là địa phương dẫn đầu An Giang về cung cấp hoa màu cho thị trường trong và ngoài tỉnh, có khi xuất sang Campuchia. Huyện cù lao này từ xưa đã nổi tiếng với câu lục bát: Chiều chiều quạ nói với diều – Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm; và đã đi vào lời ca, làm say đắm lòng người: “Cái chợ có hồi nào và bao nhiêu tuổi? Mà ai cũng bảo rằng: Chợ Mới quê hương! Ở nơi đó, tôi có một người thương. Cứ chiều chiều nàng ra bờ sông giặt áo…” (Chợ Mới – Trọng Nguyễn).
Trà Thôn là kinh nối liền sông Tiền với sông Ông Chưởng thuộc huyện Chợ Mơi tỉnh An Giang, là con kinh do người dân đào đất mà thành. Hai bờ kinh thuộc hai ấp Long Quới 1 và Long Quới 2 (xã Long Ðiền B), nơi có nhiều hộ dân sinh sống bằng nghề mua bán tro đã hơn 20 năm, tập trung đông nhất khoảng một cây số ở đoạn đầu kinh Trà Thôn thông với sông Ông Chưởng.
Lúc đầu, chỉ có mấy hộ gia đình nghèo, không có đất canh tác, bỏ công đi hốt tro về bán cho nhà vườn chung quanh kiếm lời. Mà đất ở đây tốt lắm, không cần sử dụng đến tro, nên cũng khó bán. Vì vậy, bà con lấy ghe chở tro sang các tỉnh khác bán.. Thấy có được chút lời, nhiều người xúm vào làm, dần dần đông đúc như ngày nay.
Ngày trước nhà ai cũng làm ruộng, cắt lúa bằng tay, máy suốt xong, rạ rơm chất thành đống, đốt đồng xong, mặc sức mà hốt tro. Và nhà nào cũng nấu lò củi hoặc lò trấu, rồi cây lá trong vườn, sau nhà rụng xuống, họ gom lại đốt, tro bỏ không, bay mù mịt. Có người hốt, họ mừng lắm! Đến lúc nguồn tro tại chỗ cạn thì họ đi các đồng lân cận, các huyện lân cận,… có người còn đi tới Bến Tre, Trà Vinh hốt tro. Cho nên mới có người đi hốt tro và người thu mua tro, dần dần hình thành chợ nổi tro Trà Thôn.
Về Trà Thôn những ngày cuối hè ta có thể thấy cả trăm chiếc ghe tro đậu dọc dài hai bên bờ kênh Trà Thôn và dòng sông Ông Chưởng để cất hàng. Không chỉ bán tro cho các chủ vựa ở Trà Thôn mà nhiều chủ vườn trồng hoa kiểng, cây ăn trái ở miệt Sa Đéc, Cái Mơn, Vĩnh Long… cũng tìm đến tận “thương cảng tro rơm Trà Thôn” để mua. Hiện nay ở Trà Thôn có hàng trăm chủ vựa tro lớn, nhỏ. Vựa tro lớn nhất có cả trăm ngàn giạ, nhỏ nhất cũng mười, hai mươi ngàn giạ…
Dưới kinh ghe nhỏ, tàu lớn buôn bán tấp nập. Ghe, tàu nào cũng lố nhố bóng người giậm tro, cào tro, đội tro… Còn hai bên đường, đi tới đâu cũng thấy những đụn tro chất đống, cao lêu nghêu được quây bạt để che mưa. Giữa trưa, có tiếng ca thiệt mùi của anh thanh niên nào đó cải biên bản vọng cổ Tình anh bán chiếu:
Tro Trà Thôn cắm sào khắp ngả
Thấy tôi đen đúa cô chớ vội cười
Tro này bán hổng mắc đâu
Ruộng vườn cô trúng chúng mình nên duyên…

Bài Viết Cùng Chủ Đề

© 2015 Hai Lúa Miền Tây | Design by Tùng Phạm
| Design by Tùng Phạm.