Bài Viết Mới

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nam Bộ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nam Bộ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 12 tháng 8, 2015

Trong quá trình Nam tiến, cư dân từ miền ngoài vào khai khẩn vùng đất hoang Nam bộ đã gặp không ít khó khăn do thiên tai địch họa gây ra, thú dữ hoành hành. Cuộc sống ngày càng ổn định, thiết chế văn hóa làng xã cũng bắt đầu hình thành.
Việc lập đình, xây miếu là một dạng thức tín ngưỡng bản địa được các lưu dân xác lập trên vùng đất mới.
Dù có một số khác biệt so với tín ngưỡng truyền thống, nhưng cơ bản nó đã đáp ứng được nhu cầu về tâm linh của con người, đó là cầu mong được bình an vô sự giữa chốn nước đỏ, rừng xanh này.
Đình làng lúc đầu chỉ có chức năng là ngôi nhà lớn, dùng làm nơi nghỉ ngơi, tá túc cho khách lỡ đường. Dần dà về sau, nhà nước phong kiến mới sắc phong cho các vị có công với nước là thần Thành Hoàng, những mong các vị thần Thành Hoàng này chăm lo, bảo trợ cho dân làng, tá quốc an khang. Ngoài ra, đình làng cũng là một cơ sở văn hóa tín ngưỡng thể hiện sự tri ân của hậu bối đối với tiền nhân – những vị có công dựng làng, lập ấp, tạo chợ, xây cầu, khai khẩn đất hoang… Từ ý thức hồn thiêng sông núi, từ lâu người Việt đã biết thờ các vị thần núi, thần sông, thần đất, để giúp con người bảo vệ mùa màng, giữ vững giang sơn.
Thờ thần là việc vô cùng thiêng liêng, thể hiện ở đời sống tinh thần, đời sống tâm linh của người Nam bộ. Trong tín ngưỡng thờ thần của người Nam bộ còn có một khía cạnh thiêng liêng khác nhằm tôn vinh các vị thần, làm cho các vị thần trở nên thiêng liêng hơn – đó là việc phong sắc cho thần. Công việc này là do triều đình phong kiến thực thi, mà cụ thể là người đứng đầu nhà nước phong kiến là nhà vua – là thiên tử thay trời giáo hóa chúng sinh, dỗ an thiên hạ.
Do đó, sắc phong của triều đình cho vị thần nào cũng đồng nghĩa với việc xem vị thần đó là cơ sở pháp lý phụng mệnh nhà vua xuống làm thần quyền của làng xã. Khi vị thần nào có sắc phong của nhà vua cho một làng nào đó thì các vị thần đó mặc nhiên được gọi là Thành Hoàng của làng. Sắc phong được để ở nơi trang trọng nhất, đặt trên ngai thờ. Ở mỗi đình làng, gian chính điện là nơi thiêng liêng nhất, thường ghi những chữ Thánh thọ vô cương, Thánh cung vạn tuế, với ý nghĩa là quyền uy nhà vua ngự trị ở nơi thiêng liêng nhất của làng và đó cũng là nơi để sắc thần.
Đôi khi, thần Thành Hoàng không phải là các vị có công với nước, mà là những vị thần hữu danh vô thực, chỉ trong ý niệm của nhân dân. Trong thiết chế văn hóa của làng, đình là cơ sở tín ngưỡng có tính chất chính thống. Việc ông thần Thành Hoàng của làng được vua phong sắc là việc quan trọng vì sắc thần được coi là sự công nhận chính thức của nhà nước về sự hợp pháp của làng.
Về kiến trúc, đình thường được cất cao ráo, thoáng mát, nóc có tượng đôi rồng lượn tranh lấy quả châu, trên các thanh xà ngang trong đình là các hoành phi, câu đối với nội dung thể hiện sự ước vọng về cuộc sống bình an của con người, ca ngợi công đức của các bậc tiền nhân.
Đặc biệt, thiêng liêng hơn cả là lễ hội ở đình, thể hiện nét sinh hoạt văn hóa thiêng liêng, tín ngưỡng thờ thần, biết ơn thần, tạ ơn đất trời đã cho con người cuộc sống ấm no, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, tạo được sự cộng tác của cộng đồng làng xã. Cũng chính ở sự liên kết cộng đồng làng xã mà con người có ý thức đoàn kết, nhớ về cội nguồn, trao đổi kinh nghiệm trong sản xuất, ứng phó trước mọi chuyển biến của lịch sử.
Hàng năm, đình có hai kỳ lễ chính: lễ Kỳ Yên thượng điền và lễ Kỳ Yên hạ điền. Vào các ngày này, dân làng mở lễ hội đình để tưởng niệm công tích của các vị thần. Và dịp cúng đình cũng là ngày lễ hội của dân làng, người ta tổ chức các trò chơi ở làng, diễn hội làng, hát bội, hát cải lương với những tuồng tích xưa… Quy mô tổ chức lễ hội của đình tùy thuộc vào làng giàu hay nghèo, năm trúng mùa hay thất mùa.
Ngày đầu tiên gọi là lễ Túc Yết – ngày cúng các vị tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ, các vị có công với nước, có công xây dựng và bảo quản ngôi đình. Kế đến là lễ Chánh Tế, được tiến hành vào giữa đêm thứ hai, có đọc văn tế với nội dung ca ngợi trời đất và các thần linh, ca ngợi công lao của những bậc tiền hiền, hậu hiền, những người có công quy dân, lập ấp, phát triển sản xuất…
Thường thì, sau phần nghi thức lễ được tổ chức trang trọng là phần hội. Đây là phần sôi động và vui tươi nhất trong dịp cúng đình nên dân làng tham gia rất đông. Mọi người ăn mặc nghiêm trang, chỉnh tề đến tham gia, thưởng thức, diễn trò, từ diễn tuồng đến các trò chơi dân gian như chọi gà, thi bắt vịt, kéo co, thi đấu vật… thể hiện được một nét sinh hoạt văn hóa thiêng liêng và cao đẹp.
Những người đến dự lễ hội đình làng được tự do xem hát, tham gia các trò chơi, trao đổi tâm tình và cùng nhau ăn uống vui vẻ, nhưng ăn uống có văn hóa, vui chơi có mức độ. Ai cũng cố gắng giữ tư cách, không say sưa, càn quấy hay nói tục, bởi trong những ngày này, mọi khía cạnh đời thường đã được nâng lên đời thiêng. Không gian thiêng liêng của đình cả năm im lìm nay được tái hiện trở lại bởi con người. Đèn, nến sáng trưng, cờ ngũ sắc tung bay, chiêng trống nổi lên, lòng người khắp nơi náo nức, rộn rã hướng về không gian thiêng liêng đó.
Người đến lễ hội trước hết là để biểu thị lòng tôn kính và biết ơn các vị phúc thần và các bậc tiền nhân đã khuất, có nhiều công lao tạo dựng quê hương, xây nên cơ nghiệp để lại cho những thế hệ cháu con, sau, là dịp để biểu thị ý thức tôn trọng văn hóa truyền thống của dân tộc, hưởng thụ hình thái sinh hoạt tinh thần cộng đồng vốn có nhiều gắn bó với phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian mà mỗi năm chỉ diễn ra có một lần.
Lễ hội đình được diễn ra còn do tín ngưỡng thờ thần và vui được mùa, thắng trận của con người. Tất cả cũng nhằm nhớ về cội nguồn, chuyển giao văn hóa, liên kết cộng đồng. Bởi thế, lễ hội ở đình trở thành rất thiêng liêng, có sức cộng cảm và trở thành nét văn hóa đặc sắc trong cộng đồng dân tộc.
Lễ hội đình làng là cầu nối tâm linh giữa con người, giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa ở làng xã, bảo tồn những vốn quý của di sản văn hóa tinh thần của dân tộc. Khôi phục các lễ hội ở đình làng cũng là góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng được đời sống văn hóa cơ sở, tạo được sân chơi cho đông đảo dân làng mỗi kỳ lễ hội, đồng thời tạo được một điểm tham quan, vui chơi giải trí cho khách du lịch, nhất là du khách nước ngoài.
vùng đất hoang

Lễ Hội Cúng Đình ở Nam Bộ

Tùng Phạm  |  at  01:30

Trong quá trình Nam tiến, cư dân từ miền ngoài vào khai khẩn vùng đất hoang Nam bộ đã gặp không ít khó khăn do thiên tai địch họa gây ra, thú dữ hoành hành. Cuộc sống ngày càng ổn định, thiết chế văn hóa làng xã cũng bắt đầu hình thành.
Việc lập đình, xây miếu là một dạng thức tín ngưỡng bản địa được các lưu dân xác lập trên vùng đất mới.
Dù có một số khác biệt so với tín ngưỡng truyền thống, nhưng cơ bản nó đã đáp ứng được nhu cầu về tâm linh của con người, đó là cầu mong được bình an vô sự giữa chốn nước đỏ, rừng xanh này.
Đình làng lúc đầu chỉ có chức năng là ngôi nhà lớn, dùng làm nơi nghỉ ngơi, tá túc cho khách lỡ đường. Dần dà về sau, nhà nước phong kiến mới sắc phong cho các vị có công với nước là thần Thành Hoàng, những mong các vị thần Thành Hoàng này chăm lo, bảo trợ cho dân làng, tá quốc an khang. Ngoài ra, đình làng cũng là một cơ sở văn hóa tín ngưỡng thể hiện sự tri ân của hậu bối đối với tiền nhân – những vị có công dựng làng, lập ấp, tạo chợ, xây cầu, khai khẩn đất hoang… Từ ý thức hồn thiêng sông núi, từ lâu người Việt đã biết thờ các vị thần núi, thần sông, thần đất, để giúp con người bảo vệ mùa màng, giữ vững giang sơn.
Thờ thần là việc vô cùng thiêng liêng, thể hiện ở đời sống tinh thần, đời sống tâm linh của người Nam bộ. Trong tín ngưỡng thờ thần của người Nam bộ còn có một khía cạnh thiêng liêng khác nhằm tôn vinh các vị thần, làm cho các vị thần trở nên thiêng liêng hơn – đó là việc phong sắc cho thần. Công việc này là do triều đình phong kiến thực thi, mà cụ thể là người đứng đầu nhà nước phong kiến là nhà vua – là thiên tử thay trời giáo hóa chúng sinh, dỗ an thiên hạ.
Do đó, sắc phong của triều đình cho vị thần nào cũng đồng nghĩa với việc xem vị thần đó là cơ sở pháp lý phụng mệnh nhà vua xuống làm thần quyền của làng xã. Khi vị thần nào có sắc phong của nhà vua cho một làng nào đó thì các vị thần đó mặc nhiên được gọi là Thành Hoàng của làng. Sắc phong được để ở nơi trang trọng nhất, đặt trên ngai thờ. Ở mỗi đình làng, gian chính điện là nơi thiêng liêng nhất, thường ghi những chữ Thánh thọ vô cương, Thánh cung vạn tuế, với ý nghĩa là quyền uy nhà vua ngự trị ở nơi thiêng liêng nhất của làng và đó cũng là nơi để sắc thần.
Đôi khi, thần Thành Hoàng không phải là các vị có công với nước, mà là những vị thần hữu danh vô thực, chỉ trong ý niệm của nhân dân. Trong thiết chế văn hóa của làng, đình là cơ sở tín ngưỡng có tính chất chính thống. Việc ông thần Thành Hoàng của làng được vua phong sắc là việc quan trọng vì sắc thần được coi là sự công nhận chính thức của nhà nước về sự hợp pháp của làng.
Về kiến trúc, đình thường được cất cao ráo, thoáng mát, nóc có tượng đôi rồng lượn tranh lấy quả châu, trên các thanh xà ngang trong đình là các hoành phi, câu đối với nội dung thể hiện sự ước vọng về cuộc sống bình an của con người, ca ngợi công đức của các bậc tiền nhân.
Đặc biệt, thiêng liêng hơn cả là lễ hội ở đình, thể hiện nét sinh hoạt văn hóa thiêng liêng, tín ngưỡng thờ thần, biết ơn thần, tạ ơn đất trời đã cho con người cuộc sống ấm no, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, tạo được sự cộng tác của cộng đồng làng xã. Cũng chính ở sự liên kết cộng đồng làng xã mà con người có ý thức đoàn kết, nhớ về cội nguồn, trao đổi kinh nghiệm trong sản xuất, ứng phó trước mọi chuyển biến của lịch sử.
Hàng năm, đình có hai kỳ lễ chính: lễ Kỳ Yên thượng điền và lễ Kỳ Yên hạ điền. Vào các ngày này, dân làng mở lễ hội đình để tưởng niệm công tích của các vị thần. Và dịp cúng đình cũng là ngày lễ hội của dân làng, người ta tổ chức các trò chơi ở làng, diễn hội làng, hát bội, hát cải lương với những tuồng tích xưa… Quy mô tổ chức lễ hội của đình tùy thuộc vào làng giàu hay nghèo, năm trúng mùa hay thất mùa.
Ngày đầu tiên gọi là lễ Túc Yết – ngày cúng các vị tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ, các vị có công với nước, có công xây dựng và bảo quản ngôi đình. Kế đến là lễ Chánh Tế, được tiến hành vào giữa đêm thứ hai, có đọc văn tế với nội dung ca ngợi trời đất và các thần linh, ca ngợi công lao của những bậc tiền hiền, hậu hiền, những người có công quy dân, lập ấp, phát triển sản xuất…
Thường thì, sau phần nghi thức lễ được tổ chức trang trọng là phần hội. Đây là phần sôi động và vui tươi nhất trong dịp cúng đình nên dân làng tham gia rất đông. Mọi người ăn mặc nghiêm trang, chỉnh tề đến tham gia, thưởng thức, diễn trò, từ diễn tuồng đến các trò chơi dân gian như chọi gà, thi bắt vịt, kéo co, thi đấu vật… thể hiện được một nét sinh hoạt văn hóa thiêng liêng và cao đẹp.
Những người đến dự lễ hội đình làng được tự do xem hát, tham gia các trò chơi, trao đổi tâm tình và cùng nhau ăn uống vui vẻ, nhưng ăn uống có văn hóa, vui chơi có mức độ. Ai cũng cố gắng giữ tư cách, không say sưa, càn quấy hay nói tục, bởi trong những ngày này, mọi khía cạnh đời thường đã được nâng lên đời thiêng. Không gian thiêng liêng của đình cả năm im lìm nay được tái hiện trở lại bởi con người. Đèn, nến sáng trưng, cờ ngũ sắc tung bay, chiêng trống nổi lên, lòng người khắp nơi náo nức, rộn rã hướng về không gian thiêng liêng đó.
Người đến lễ hội trước hết là để biểu thị lòng tôn kính và biết ơn các vị phúc thần và các bậc tiền nhân đã khuất, có nhiều công lao tạo dựng quê hương, xây nên cơ nghiệp để lại cho những thế hệ cháu con, sau, là dịp để biểu thị ý thức tôn trọng văn hóa truyền thống của dân tộc, hưởng thụ hình thái sinh hoạt tinh thần cộng đồng vốn có nhiều gắn bó với phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian mà mỗi năm chỉ diễn ra có một lần.
Lễ hội đình được diễn ra còn do tín ngưỡng thờ thần và vui được mùa, thắng trận của con người. Tất cả cũng nhằm nhớ về cội nguồn, chuyển giao văn hóa, liên kết cộng đồng. Bởi thế, lễ hội ở đình trở thành rất thiêng liêng, có sức cộng cảm và trở thành nét văn hóa đặc sắc trong cộng đồng dân tộc.
Lễ hội đình làng là cầu nối tâm linh giữa con người, giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa ở làng xã, bảo tồn những vốn quý của di sản văn hóa tinh thần của dân tộc. Khôi phục các lễ hội ở đình làng cũng là góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng được đời sống văn hóa cơ sở, tạo được sân chơi cho đông đảo dân làng mỗi kỳ lễ hội, đồng thời tạo được một điểm tham quan, vui chơi giải trí cho khách du lịch, nhất là du khách nước ngoài.

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

Như nhiều dân tộc anh em khác, người Khmer ở Nam Bộ có nhiều tín ngưỡng rất đặc sắc. Một số đã bị mất theo thời gian, hoàn cảnh sống và theo đà phát triển của xã hội. Trong bài viết này, tác giả giới thiệu về tín ngưỡng Arak- một tín ngưỡng cổ xưa của bà con gần như đã mai một để độc giả hiểu thêm về một nét văn hóa độc đáo của người Khmer.
Arak được người Khmer Nam Bộ hiểu là vị thần giữ gìn, bảo vệ, cho nên tín ngưỡng Arak là tín ngưỡng về vị thần bảo vệ của mình. Đây là vị thần không có hình dáng xác định, được bà con người Khmer cho là có nguồn gốc là linh hồn người chết nhưng hiển linh được tôn làm thần để bảo vệ dòng họ, gia đình, nhà cửa.
“Những quyền năng vô hạn của linh hồn mà người xưa đã gắn cho nó chủ yếu xuất phát từ sự chiêm nghiệm các giấc mộng thấy người chết hiện về đã khiến họ có những ứng xử tâm lý hoàn toàn rất tự nhiên: phải làm sao cho các linh hồn không thù oán, tức giận mà gây ra những hành động phương hại cho cuộc sống của họ. Vì mọi sự kiện xảy ra trong đời sống đều phụ thuộc vào thái độ của người sống với linh hồn, nên để tránh mọi rủi ro, bất hạnh cho cuộc sống của mình, người dân cần phải tôn vinh các linh hồn, vỗ về tranh thủ các linh hồn để các linh hồn che chở, bảo hộ cho cuộc sống của họ. Và sự thờ cúng các linh hồn của người, tức thờ cúng người chết, là một phản ứng ứng xử tâm lý của người xưa nhằm thỏa mãn những nhu cầu lợi ích của chính họ đã dần trở thành một hành động không thể thiếu được trong đời sống tâm linh của con người ở rất nhiều nơi trên trái đất”.1
Đối với người Khmer Nam Bộ, mỗi dòng họ có thể có nhiều Arak: Arak chou -buô (Arak của dòng họ); ngoài ra còn có Arak bảo vệ khu đất (Arak phum); Arak giữ rừng (Arak preay); Arak bảo vệ nhà (Arak phteah); Arak bảo vệ gia đình (Arak Trâkâul)…
“Người ta cúng Arak mỗi khi gia đình có chuyện chẳng lành, có người ốm đau, làm ăn xui xẻo, hay gặp tai nạn bất ngờ. Có nhiều kiểu cúng Arak, và muốn cúng theo kiểu gì, chủ nhân đều phải hỏi thầy bói (Kruteay) mới biết tai nạn ấy thì cúng Arak nào, và bằng lễ vật gì. Tùy theo Arak quan hệ với việc cầu mà có bài tụng, vật cúng tương ứng, cùng với quy mô của lễ cúng khác nhau. Đối với cúng lớn hơn thì có mời thầy bói và người nhập Arak (Rup Arak) thì phải sắp lễ vật theo yêu cầu của các thầy (thầy cúng)”.2
Sau đó, thầy cúng sẽ làm động tác rót rượu mời thần, mong thần về nhập xác để chỉ bảo cách chữa bệnh cho người ốm, cũng như nhờ thần bảo hộ để được trực tiếp nghe sự chỉ đạo. Về nguồn gốc nhập thần, dân gian Nam Bộ truyền tụng rằng:
“Ngày xưa có một vị sư tên Lôkta srây. Ông đi vận động bà con Phật tử ở phum Sangke đóng góp xây dựng một ngôi chùa ở đây. Trong khuôn viên chùa ông trồng nhiều loại cây, có cả cây chuối. Nhưng ở một nơi trồng chuối, ông cho trồng đi trồng lại nhiều lần mà cây chuối vẫn chết. Quá ngạc nhiên, ông cho đào bới nơi ấy. Xuống sâu khoảng nửa thước, gặp hai phiến đá chồng lên nhau, ông cho lấy hai phiến đá lên, thấy ở dưới một bức tượng cũng bằng đá. Tin ấy đồn đi khắp nơi, bà con xúm nhau lại xem, rồi rủ nhau làm phước cho tượng đá ấy 3 ngày đêm. Xong mới đem tượng đá rửa sạch bùn, thấy hiện rõ đó là bức tượng của một phụ nữ, có búi tóc ở đỉnh đầu, bà con cho là tượng nữ thần.
Lúc đó ở gần chùa có một bà lão tên Deay Khmau, bị bệnh phù thủng hơn hai năm nay điều trị không hết. Khi nghe ở chùa có tượng nữ thần, bà cho đứa cháu gái đi xin nước thần, đem về thoa khắp thân mình. Lạ thay, bịnh tình của bà lão thuyên giảm dần, đến ngày thứ 7 thì dứt hẳn. Bà lão mới đến chùa và thắp nhang lạy tạ ơn cứu mạng của tượng nữ thần. Phút chốc bỗng bà lão gục gặc đầu, càng lúc càng nhanh, rồi đứng dậy múa hát quanh bức tượng và hỏi nhà sư rằng:
- Nhà sư không nhận ra tôi à?
Nhà sư trả lời:
- Thật tình tôi không biết Lôk Deay (bà lão). Lôk Deay từ đâu đến dây?
Bà lão trả lời:
- Ta là nữ thần bảo vệ con người. Thật là hữu duyên, các ngươi mới tìm gặp ta ở dưới lòng đất, nên các ngươi có quyền được hưởng mọi sự bảo hộ của ta.
Từ đó về sau, mọi người trong phum sóc có bịnh hoạn hoặc có điều gì không may thường đến xin cầu cúng Deay Khmau xin bà lão nhập thần để chỉ bảo”.3
Khi trong gia đình có người đau yếu, hoặc có chuyện cần cầu xin, “người Khmer thường tổ chức nhập đồng, ngoài các lễ vật phù hợp còn phải có 2 hoặc 4 người đánh trống (skor Arak), một người đàn gáo, một người thổi sáo và một người sử dụng chà pei. Khi người lên đồng đặt hai tay lên mâm lễ vật thì nhạc tấu lên điệu lên đồng (chol Arak) được ca lên. Người lên đồng lúc đó uốn éo, có nhiều hành động khác thường như uống nước liên tục, ngậm rượu phun vào người bệnh… và nói những câu đặc biệt để chữa bệnh hoặc nói với chủ nhà phải làm một số điều gì đó thì bệnh mới khỏi được”.4
Tóm lại, tín ngưỡng thờ Arak của người Khmer Nam Bộ là tín ngưỡng thờ thần bảo vệ. Vị thần này có phạm vi ảnh hưởng trong gia đình và dòng họ, nên hễ trong gia đình có người ốm đau bệnh hoạn người ta sẽ cúng Arak để cầu mong thần giúp đỡ mà trị khỏi bệnh. Đây là dạng tín ngưỡng dân gian đã có từ lâu đời của người Khmer Nam Bộ. Trong điều kiện lúc bấy giờ, mỗi khi gặp chuyện chẳng lành, “người ta luôn tìm chỗ dựa tinh thần vào tổ tiên của dòng họ, vào những vị thần bảo hộ xóm làng, để xin được cứu giúp trong những khi bị thiên tai, dịch bệnh, mất mùa, tai nạn… Nhưng dưới sự truyền bá sâu rộng của Phật giáo Nam Tông, các loại tín ngưỡng dân gian của người Khmer càng ngày càng bị biến đổi hình dạng. Đến nay do trình độ dân trí của người Khmer đã được nâng cao, nên một số tín ngưỡng về Arak cũng đang dần dần mai một”.
văn hóa

Tín Ngưỡng Arak Của Người Khmer Nam Bộ

Tùng Phạm  |  at  00:01

Như nhiều dân tộc anh em khác, người Khmer ở Nam Bộ có nhiều tín ngưỡng rất đặc sắc. Một số đã bị mất theo thời gian, hoàn cảnh sống và theo đà phát triển của xã hội. Trong bài viết này, tác giả giới thiệu về tín ngưỡng Arak- một tín ngưỡng cổ xưa của bà con gần như đã mai một để độc giả hiểu thêm về một nét văn hóa độc đáo của người Khmer.
Arak được người Khmer Nam Bộ hiểu là vị thần giữ gìn, bảo vệ, cho nên tín ngưỡng Arak là tín ngưỡng về vị thần bảo vệ của mình. Đây là vị thần không có hình dáng xác định, được bà con người Khmer cho là có nguồn gốc là linh hồn người chết nhưng hiển linh được tôn làm thần để bảo vệ dòng họ, gia đình, nhà cửa.
“Những quyền năng vô hạn của linh hồn mà người xưa đã gắn cho nó chủ yếu xuất phát từ sự chiêm nghiệm các giấc mộng thấy người chết hiện về đã khiến họ có những ứng xử tâm lý hoàn toàn rất tự nhiên: phải làm sao cho các linh hồn không thù oán, tức giận mà gây ra những hành động phương hại cho cuộc sống của họ. Vì mọi sự kiện xảy ra trong đời sống đều phụ thuộc vào thái độ của người sống với linh hồn, nên để tránh mọi rủi ro, bất hạnh cho cuộc sống của mình, người dân cần phải tôn vinh các linh hồn, vỗ về tranh thủ các linh hồn để các linh hồn che chở, bảo hộ cho cuộc sống của họ. Và sự thờ cúng các linh hồn của người, tức thờ cúng người chết, là một phản ứng ứng xử tâm lý của người xưa nhằm thỏa mãn những nhu cầu lợi ích của chính họ đã dần trở thành một hành động không thể thiếu được trong đời sống tâm linh của con người ở rất nhiều nơi trên trái đất”.1
Đối với người Khmer Nam Bộ, mỗi dòng họ có thể có nhiều Arak: Arak chou -buô (Arak của dòng họ); ngoài ra còn có Arak bảo vệ khu đất (Arak phum); Arak giữ rừng (Arak preay); Arak bảo vệ nhà (Arak phteah); Arak bảo vệ gia đình (Arak Trâkâul)…
“Người ta cúng Arak mỗi khi gia đình có chuyện chẳng lành, có người ốm đau, làm ăn xui xẻo, hay gặp tai nạn bất ngờ. Có nhiều kiểu cúng Arak, và muốn cúng theo kiểu gì, chủ nhân đều phải hỏi thầy bói (Kruteay) mới biết tai nạn ấy thì cúng Arak nào, và bằng lễ vật gì. Tùy theo Arak quan hệ với việc cầu mà có bài tụng, vật cúng tương ứng, cùng với quy mô của lễ cúng khác nhau. Đối với cúng lớn hơn thì có mời thầy bói và người nhập Arak (Rup Arak) thì phải sắp lễ vật theo yêu cầu của các thầy (thầy cúng)”.2
Sau đó, thầy cúng sẽ làm động tác rót rượu mời thần, mong thần về nhập xác để chỉ bảo cách chữa bệnh cho người ốm, cũng như nhờ thần bảo hộ để được trực tiếp nghe sự chỉ đạo. Về nguồn gốc nhập thần, dân gian Nam Bộ truyền tụng rằng:
“Ngày xưa có một vị sư tên Lôkta srây. Ông đi vận động bà con Phật tử ở phum Sangke đóng góp xây dựng một ngôi chùa ở đây. Trong khuôn viên chùa ông trồng nhiều loại cây, có cả cây chuối. Nhưng ở một nơi trồng chuối, ông cho trồng đi trồng lại nhiều lần mà cây chuối vẫn chết. Quá ngạc nhiên, ông cho đào bới nơi ấy. Xuống sâu khoảng nửa thước, gặp hai phiến đá chồng lên nhau, ông cho lấy hai phiến đá lên, thấy ở dưới một bức tượng cũng bằng đá. Tin ấy đồn đi khắp nơi, bà con xúm nhau lại xem, rồi rủ nhau làm phước cho tượng đá ấy 3 ngày đêm. Xong mới đem tượng đá rửa sạch bùn, thấy hiện rõ đó là bức tượng của một phụ nữ, có búi tóc ở đỉnh đầu, bà con cho là tượng nữ thần.
Lúc đó ở gần chùa có một bà lão tên Deay Khmau, bị bệnh phù thủng hơn hai năm nay điều trị không hết. Khi nghe ở chùa có tượng nữ thần, bà cho đứa cháu gái đi xin nước thần, đem về thoa khắp thân mình. Lạ thay, bịnh tình của bà lão thuyên giảm dần, đến ngày thứ 7 thì dứt hẳn. Bà lão mới đến chùa và thắp nhang lạy tạ ơn cứu mạng của tượng nữ thần. Phút chốc bỗng bà lão gục gặc đầu, càng lúc càng nhanh, rồi đứng dậy múa hát quanh bức tượng và hỏi nhà sư rằng:
- Nhà sư không nhận ra tôi à?
Nhà sư trả lời:
- Thật tình tôi không biết Lôk Deay (bà lão). Lôk Deay từ đâu đến dây?
Bà lão trả lời:
- Ta là nữ thần bảo vệ con người. Thật là hữu duyên, các ngươi mới tìm gặp ta ở dưới lòng đất, nên các ngươi có quyền được hưởng mọi sự bảo hộ của ta.
Từ đó về sau, mọi người trong phum sóc có bịnh hoạn hoặc có điều gì không may thường đến xin cầu cúng Deay Khmau xin bà lão nhập thần để chỉ bảo”.3
Khi trong gia đình có người đau yếu, hoặc có chuyện cần cầu xin, “người Khmer thường tổ chức nhập đồng, ngoài các lễ vật phù hợp còn phải có 2 hoặc 4 người đánh trống (skor Arak), một người đàn gáo, một người thổi sáo và một người sử dụng chà pei. Khi người lên đồng đặt hai tay lên mâm lễ vật thì nhạc tấu lên điệu lên đồng (chol Arak) được ca lên. Người lên đồng lúc đó uốn éo, có nhiều hành động khác thường như uống nước liên tục, ngậm rượu phun vào người bệnh… và nói những câu đặc biệt để chữa bệnh hoặc nói với chủ nhà phải làm một số điều gì đó thì bệnh mới khỏi được”.4
Tóm lại, tín ngưỡng thờ Arak của người Khmer Nam Bộ là tín ngưỡng thờ thần bảo vệ. Vị thần này có phạm vi ảnh hưởng trong gia đình và dòng họ, nên hễ trong gia đình có người ốm đau bệnh hoạn người ta sẽ cúng Arak để cầu mong thần giúp đỡ mà trị khỏi bệnh. Đây là dạng tín ngưỡng dân gian đã có từ lâu đời của người Khmer Nam Bộ. Trong điều kiện lúc bấy giờ, mỗi khi gặp chuyện chẳng lành, “người ta luôn tìm chỗ dựa tinh thần vào tổ tiên của dòng họ, vào những vị thần bảo hộ xóm làng, để xin được cứu giúp trong những khi bị thiên tai, dịch bệnh, mất mùa, tai nạn… Nhưng dưới sự truyền bá sâu rộng của Phật giáo Nam Tông, các loại tín ngưỡng dân gian của người Khmer càng ngày càng bị biến đổi hình dạng. Đến nay do trình độ dân trí của người Khmer đã được nâng cao, nên một số tín ngưỡng về Arak cũng đang dần dần mai một”.

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

1.Vẻ hoang vu của thiên nhiên- một dấu ấn trong những bài ca của thiên nhiên đất nước.
Vùng Nam Bộ giàu đẹp đáng tự hào ngày nay lại là vùng đất bỏ hoang hàng ngàn năm từ sau khi đế quốc Phù Nam tan rã vào thế kỷ thứ VI. Bao nhiêu thế kỷ trôi qua, mảnh đất màu mỡ này vẫn ngủ yên vì người bản địa vốn quá thưa thớt lại lạc hậu về kỹ thuật nông nghiệp. Cũng có thể một phần do thiên nhiên sẵn giàu có, ưu đãi nên họ không cần khai thác thêm. Những vùng đất cao đủ trồng tỉa, những con rạch thừa cá tôm, những cánh rừng thừa hương liệu, gỗ,.. đã đảm bảo cho đời sống. Mãi đến thế kỷ thứ XVII, những người Việt đầu tiên”đi mở cõi” đến vùng đất mới, nhận ra ngay vẻ hoang sơ của nó:
“Muỗi kêu như sáo thổi
Đỉa lội như bánh canh
Cỏ mọc thành tinh
Rắn đồng biết gáy”
Cảnh
Rừng thiêng nước độc thú bầy
Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội đầy như bánh canh
Nét hoang sơ của thiên nhiên Nam Bộ buổi đầu khai phá thể hiện ở môi trường khắc nghiệt “rừng thiêng nước độc”:
-“Tháp Mười nước mặn, đồng chua
Nửa mùa nắng cháy nửa mùa nước dâng
Sấu và Cọp là hai loại tượng trưngcho sức mạnh hoang dã luôn luôn đe doạ con người.
Tục ngữ “xuống sông hớt trứng sấu, lên bờ xỉa răng cọp” và thành ngử “hùm tha , sấu bắt” khá phổ biến trong lời ăn tiếng nói của nhân dânmãi cho đến ngày nay. Ca dao nói nhiều về hai loài này. Trên cạn có cọp, “cọp đua”, “cọp um”.
-U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường
Dưới sông sấu lội trên rừng cọp đua.
-Cà Mau khỉ khọt trên bưng
Dưới sông sấu lội trên rừng cọp um.
Cọp sống ở khắp nơi từ miền Đông Nam Bộ (đất giồng) xuống tận miền Tây sình lầy, nước mặn của rừng U Minh, Rạch Giá. Người dân là kính nể, gọi cọp bằng ông, thậm chí tôn lên làm hương cả, nhưng có lúc lại coi thường, giết cọp bằng nhiều cách. Cọp cũng là loài thú giữ quyết tâm bám giữ địa bànsinh sống cho dù phải chạm trán với con người. Đối lại, lúc mới khẩn hoang, dù cọp tới lui là mối nguy hiểm nhưng con người cũng phải bám đất để sinh cơ lập nghiệp. Nhiều giai thoại dân gian về chuyện đấu với cọp vẫn còn.
Nếu trên bờ có cọp thì dưới nước có sấu, “ sấu lội”, “Sấu cắn chưng” và “sấu vẫy vùng”.
“ Tháp mười sinh nghiệp phèn chua
Hổ mây, cá sấu thi đua vẫy vùng”.
Nét hoang dã của đất nước Nam Bộ còn thể hiện gián tiếp qua tâm trạng lo sợ của người đi khai hoang, cảnh vật lạ lùng khiến cho người ta sợ mọi thứ:
-Tới đây sứ sở lạ lùng
Chim kêu cũng sợ ,cá vùng cũng ghê
- Chèo ghe sợ sấu ăn chưng
Xuống bưng sợ đỉa , lên rừng sợ ma.
Song song với nét hoang vu nêu trên, thiên nhiên có phần ưu đãi cho người đi tìm cuộc sống mới. Tín ngưỡng dân gian Nam bộ vẫn tin rằng “ Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhơn”.
Sản vật”trời cho” thật là phong phú và dường như luôn sẵn có. Gạo thì Đồng Nai, gạo Cần Đước, gạo Cần Thơ… lúa thì có lúa “nàng co”, “nàng quốc”, “lúa trời”…
- Hết gạo thì có Đồng Nai
Hết củi thì có Tân Sài chở vô
-Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai
Ai về xin nhớ cho ai theo cùng.
– Cám ơn hạt lúa nàng co
Nợ nần trả hết, lại no tấm lòng
-Ai ơi về miệt Tháp Mười
Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn.
Nhóm từ “gạo thơm” và “gạo trắng nước trong” (hoặc “nước trong gạo trắng”) được lập lại như một điệp khúc của bài ca về sự giàu có:
-Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi
Gạo thơm Nàng Quốc em nuôi mẹ già
-Đồng Nai gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó thì không muốn về.
-Ai về Gia Định thì về
Nước trong gạo trắng dễ bề làm ăn.
Trong một chừng mực nào đó có thể gắn sự giàu có sản vật tự nhiên với nét hoang sơ của môi trường. Vì thiên nhiên hoang vu nên tất cả các loài vật đều có điều kiện để sinh sôi nảy nở. Ngược lại chính sự tồn tại của các loài trong tự nhiên một cách “tự do” với số lượng nhiều tạo nên chất hoang sơ, tính “sẵn có”:
Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá về đồng ăn cua
Bắt cua làm mắm cho chua
Gởi về quê nội khỏi mua tốn tiền
2. Hình ảnh người đi khai hoang.
Như đã trình bày ở trên, trước đây ba thế kỷ Nam Bộ là vùng đất hoang vu với “rừng thiêng nước độc”, rắn, cá sấu, cọp và voi… Sau mấy trăm năm vùng đất này đã trở thành nơi trù phú nhất nước.
-Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh.
– Biên hoà bưởi chẳng đắng the
Ăn vào ngọt lịm như chè đậu xanh.
Những người trồng tỉa ngày sau phải nhớ đến những “bậc tiền nhân”, “mở cõi”, đi khai hoang. Nhìn toàn cục đó là kết tinh của mồ hôi và xương máu của nhiều thế hệ kế tiếp nhauđầy cảnh hoang sơ lùi dần vào quá khứ. Bắt đầu là cuộc khai khẩn miền Đông với lời khích lệ những bậc mày râu:
-Làm trai cho đáng thân trai
Phú Xuân đã trải , Đồng Nai đã từng
Rồi người đi lập nghiệp đến miền Tây:
-Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai về xứ bạc thong dong cuộc đời.
– Muốn ăn bông súng cá kho
Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm
-Bạc Liêu nước chảy lờ đờ
Dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu.
Người Triều Châu nói riêng, Người Hoa nói chung, có mặt ở nam bộ gần như cùng lúc với người Việt, họ vừa là những trung thần của nhà Minh, âm mưu chống lại nhà Thanh, vừa là người đi khai hoang. Tinh thần phóng khoáng và lòng mến khách của người Việt Nam giúp họ gắn bó với mảnh đất này. Dương Ngạn Dịch, Mạc Cửu, Trần Thượng Xuyên… là người Hoa được nhắc nhở đến như những nhân vật lịch sử. Ở thị trấn Hà Tiên ngày nay, Lăng Mạc Cửu xâu trên một ngọn đồi có hàng chữ trang trọng :”Khai trấn công thần”.Người Việt nhìn nhận thực tại này bằng thái độ hoà hợp, đoàn kết. Người Hoa đã góp một phần công sức cùng với người Việt mở mang bờ cõi.Nếu ban đầu “Đất Cần Thơ nam thanh nữ tú, xứ Rạch Giá vượn hú chim kêu” thì sau đó xứ “Nam thanh nữ tú” lớn dần, xứ”vượn hú chim kêu” hẹp dần trước nỗ lực phi thường của những con người gan góc, kiên trì.
Vậy mà, khi mới đến vùng đất mới, những con người đó vẫn không tránh khỏi cảm giác:
Tới đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng ghê
Vẫn biết rằng những lưu dân từ miền trung đã quyết chí lập nghiệp, nhưng vẫn là con người giàu tình cảm thì làm sao họ không buồn cho được:
- U Minh, Rạch Giá thị quá Sơn Trường
Gió đưa bông sậy dạ buồn nhớ ai.
-Trời xanh kinh đỏ đất xanh
Đỉa bu, muỗi cắn làm anh nhớ nàng.
– Mênh mông trời nước một màu
Nhóc nhen kêu rộ bắt xàu ruột gan.
Tâm trạng buồn- nhớ là tâm trạng rất thực : buồn trước cảnh hiu quạnh, buồn vì xa xứ, nhớ thì nhớ quê, nhớ nhà, nhớ người thân yêu. Cái nhớ của người buộc phải lìa cố quán ra đi chấp nhận cực khổ, chết chóc vì rừng thiêng nước độc, thú dữ chứ không cam tâm chết vì bọn quan lại, địa chủ quê nhà. Trụ lại ở vùng đất mới,lưu dân bắt đầu cuộc sống mới :
Trai tứ chiếng, gái giang hồ
Gặp nhau ta nổi cơ đồ cũng nên.
Những con người của “tứ chiếng giang hồ” nghĩa là của mọi miền quê tụ về đây. Câu ca dao trên là một lời nhận định, một kết luận khái quát, xác lập với lịch sử khai phá vùng đất nam bộ.
Lịch sử đã chứng minh những con người tiên phong đi khai phá đất mới ở phương nam đã bám đất bằng tất cả sức mạnh của đôi bàn tay, của ý chí vươn tới, của năng kực tổ chức, của tình đoàn kết chung lưng đấu cật. Ca dao Nam bộ đã ghi lại những hình ảnh cụ thể:
-Chiều chiều ông Ngữ thả câu
Sấu lôi ông Ngữ cắm đầu xuống sông
(sưu tầm ở Phú Tân-An Giang)
-Chiều chiều ông Lữ đi câu
Sấu cắn ông Lữ biết đâu mà tìm
(Ca dao Đồng Tháp)
Ông Ngữ, Ông Lữ là những con người mang tính tượng trưng, họ là những nông dân Nam Bộ với những cực nhọc, vất vả và không ít khó khăn công việc “phá sơn lâm, đâm hà bá”. Câu tục ngữ “nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá” được truyền tụng khá phổ biến trong dân gian nam bộ, chỉ hai công việc: khai phá rừng hoang và đánh bắt thuỷ sản, hai việc mang lại cuộc sống no đủ cho những lưu dân thời kỳ đầu. Song, không phải lúc nào họ cũng gặt hái được kết quả mong muốn mà còn có lúc gặp thất bại, trả giá đắt. Riêng bài ca dao về ông Lữ đã từng có mặt ở vùng Nam Trung Bộ:
Chiều chiều ông Lữ đi câu
Bỏ ve, bỏ chén, bỏ bầu ai mang
-Chiều chiều ông Lữ đi cày
Trâu tha gãy ách khoanh tay ngồi bờ.
Rõ ràng “ông Lữ” người đi khai phá, từ trung bộ khẩn hoang dần đến Nam trung bộ rồi vào Nam bộ. Những bậc tiền hiền, hậu hiền(những thế hệ đầu tiên có công khai phá) được thờ cúng trong đình làng nam bộ và ngay trong mỗi gia đình. Mỗi khi có đám giỗ cúng ông bà người nam bộ thường bày thêm một mâm ở ngưỡng cửa hoặc ngoài sân gọi là mâm đất đai để tỏ lòng biết ơn những người đầu tiên khai phá đồng thời xin các vị này phù hộ. Bên cạnh đó, có lễ cúng chúa Ngung ma nương để xin “mướn đất” với người “khuất mặt”. Người ta thường gặp ở gò hoang hoặc gần bờ sông những bộ xương người. Chắc rằng đó là xương của những người tiên phong đi khai khẩn đã chết hoặc vì thú dữ hoặc vì bệnh tật…Trong vô số những người như vậy, ca dao Nam Bộ ghi lại vài tên tuổi cụ thể :
-Chiều chiều quạ nói với diều
Cù lao ông Chưởng có nhiều cá tôm.
Ông Chưởng tức là ông Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh, trên đường hành quân đã dừng lại một cù lao (huyện Chợ Mới hiện nay) của An Giang. Đoàn quân của ông đã phát hoang, canh tác trên cù lao này.
Không thể so sánh với ông Chưởng cơ- bậc khai quốc công thần của triều Nguyễn, ông Móm trong bài ca dao sau lại kém may mắn hơn:
Ruộng cò bay dặm dò truông cóc
Cháu con ông Móm lăn lóc cơ hàn
Ai xuôi khiến cảnh bẽ bàng
Mồ ông còn đó họ hàng chẳng thăm.
Vào đầu thế kỷ 17, ông Móm là người đầu tiên từ Quảng Ngãi vào khai phá vùng Truông Cóc (Đồn Sơn –Gò Công Tây –Tiền Giang) mở đầu cho những người lập nghiệp vùng này, nhưng buồn thay, ông lại bị họ hàng bỏ quên. Nhưng cũng có thể họ hàng của ông không còn ai nữa. Có một điều an ủi, nhân dân- tác giả bài ca dao vẫn còn ghi công ông “ruộng cò bay dặm dày…”.
Tóm tại, ca dao Nam bộ đã ghi lại được hình ảnh của người đi khai phá đất mới. Đôi khi họ như những người lính ra đi không trở lại vì “Rừng thiêng nước độc, thú bầy “. Nhưng nét nổi bật của họ không phải là nỗi buồn nhớ mang mác mà là ý chí vượt gian nan, dũng cảm, gan góc với biết bao nhiêu cực nhọc nguy hiểm để làm công việc “khai son phá thạch:, biến mảnh đất này từ hoang sơ trở thành nơi trù phú.
3. Ca dao Nam Bộ –ca dao vùng sông nước.
Nét nổi bật của địa lý Nam Bộ là mạng lưới sông rạch, kinh đào dày đặc, chằng chịt. Ngoài hai hệ thống sông lớn (hệ Cửu Long và hệ Đồng Nai), miền Tây Nam bộ còn có hệ thống sông nhỏ đổ ra vịnh Thái Lan và mạng lưới kênh tự nhiên cũng như kênh đào. Tổng chiều dài của mạng lưới này lên đến 4.900 km. Do vậy, đường thuỷ là hệ thống giao thông cực kỳ qua trọng đối với Nam Bộ trong mấy thế kỷ qua. “Còn về đất đai miền Đồng Nai- Gia Định thì có nhiều khe ngòi, nhiều đường thuỷ chằng chịt khắp nơi nên không tiện đi bộ. Những người đi buôn bán có chuyên chở bằng những thuyền lớn, cũng phải chở kèm những thuyền nhỏ để dễ đi thông vào các kênh”.(Lê Quí Đôn-Phù Biên tạp lục). Hệ thống đường thuỷ có tầm quan trọng như vậy nên sinh hoạt của người dân gắn với sông nước :”Ở Gia Định chỗ nào cũng có thuyền ghe hoặc dùng thuyền làm nhà ở, hoặc để đi chợ, đi thăm người thân thích hoặc chở gạo củi đi buôn bán, rất tiện lợi, mà ghe thuyền chật sông, ngày đêm qua lại…”(Trịnh Hoài Đức –Gia Định thành thông chí).
Do hệ thống sông rạch, ghe ngòi, kinh đa dạng nên người đi ghe xuồng cũng phải ứng biến theo từng địa hình :
Đường rừng có bốn cái vui
Lúc chống, lúc lạo, lúc bơi,lúc chèo”.
Với điều kiện sinh sống như vậy, cha ông chúng ta đã tạo ra các phương tiện giao thông đường thuỷ – thành tựu của văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên: Nhà ghe, ghe rối, ghe bầu…Ngoài ra, còn rất nhiều loại ghe xuồng, đặc biệt xuồng ba lá và chiếc ráng tắc. Xuồng ba lá đi kèm với cây sào nạng. Cây sào có nạng ở dưới gốc để có thể chống được chỗ có nhiều trấp, đất không chưng mà không bị kẹt. Chiếc xuồng ba lá cũng như tất cả các loại ghe khác được cải tiến dần để đến một lúc, chiếc vỏ lải ra đời. Chiếc vỏ lải đóng ở tắc ráng (tên con rạch ở Rạch giá) mô phỏng hình thể chiếc ghe lườn đạt mức độ hoàn thiện về nhiều mặt. Dần dần, người ta gọi vỏ lãi này là chiếc tắc ráng. Tóm lại, từ chiếc xuồng ba lá với sào nạng đến chiếc tắc ráng chạy bằng máy đuôi tôm ngày nay là một quá trình lâu dài, cha ông ta đã lao động sáng tạo trên sông nước.
Bên cạnh các phương tiện giao thông đường thủy là công cụ đánh bắt thuỷ sản. Bắt cá bằng câu thì có câu thượt, câu nhắp, câu rê, cầu dầm , câu cắm, câu giăng… Công cụ giữ cá băng hôm có lờ, trúm, lộp, đó, rọ, bung, xà di,… Lưới gồm các loại như xệp, te, đáy, càng chông, vó gặt, vó càng, lưới rùng, lưới chụp… những công cụ này đi vào ca dao và chúng đã trở thanh những biểu trưng diễn đạt những ý tình sâu lắng:
-Cá không ăn câu chê rằng con cá dại
Cá mắc câu rồi nói tại cá tham ăn
-Cá không ăn câu thật là con cá dại
Vác cần câu về nghĩ lại con cá khôn.
Một biểu hiện nữa của văn hoá sông nước là hệ thống từ ngữ gắn với đặc điểm địa lý (bưng, bào, đìa, láng, lung, lạch, con lươn…), gắn với công cụ sản xuất (như đã nêu trên). Đặc biệt các từ ngữ chỉ các trạng huống của nước (nước rong, nước ròng, nước đứng…) rất phong phú.
-Nước rong nước chảy tràn đồng
Tơ duyên sẵn có chỉ hồng chưa se
-Nước sông lững đững lờ đờ
Thương người nói vậy biết chờ hay không.
Hò chèo ghe là một biểu hiện khác của nền văn hoá dân gian gắn với sông nước. Ghe chở gạo, ghe chở cá, ghe bán buôn, ghe chở người đi làm trhuê… đều trở thành ghe hò. Hầu hết các địa phương của vùng đồng bằng sông Cửu Long đều có hò chèo ghe. Nó đặc biệt phát triển ở Minh Hải , Đồng Tháp, Long An Tiền Giang, Vĩnh Long. Hò chèo ghe có nhiều nàn điệu gồm: hò mái một, hò mái ba, hò mái đoán (cụt) và hò mái trường(dài).
Hình ảnh phổ biến trong lời của những điệu hò chèo ghe nói chung vẫn là cảnh trăng sao, mây nước, con thuyền, dòng sông, mái chèo,…
-Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê.
-Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi
Kẻo khúc sông này bờ bụi tối tăm.
-Sông bến tre nhiều hang cá ngát.
Đường kho bạc lắm cát dễ đi.
-Tây ninh có núi điện bà
Có sông Vàm Cỏ có toà Cao Sơn.
-Rạch gầm soài mút tăm tăm
Xê xuống chút nữa tới vàm Mỹ tho…
Trong 165 bài thuộc chủ đề tình yêu quê hương đất nước có 69 bài chứa đựng hình ảnh sông nước, thuyền, đò, cá… chiếm tỉ lệ hơn 41%. Bên cạnh những con sông cụ thể như Sài Gòn, Sông Tiền, Sông nhà Bè, sông Vàm Cỏ… còn có những con sông điển tích như “sông Ngân”,”sông Tương”, lại còn có sông tượng trưng”Sông Giang Hà”… Thế rồi”khúc sông” ,”sông dài” , “sông sâu”, “sông cạn” những biểu trưng nghệ thuật miêu tả những ngăn cách , hoàn cảnh éo le, sự thử thách của cuộc đời
-Sông sâu cá lội ngù ngờ
Biết em có đợi mà chờ uổng công
-Sông dài cá lội biệt tăm
Thấy anh người nghĩa mấy năm em cũng chờ.
-Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn
Núi lở non mòn,ngỡi bạn không quên.
Với tư cách biểu trưng, yếu tố “sông”, “nước” kết hợp với các yếu tố khác như “thuyền” (ghe,đò,xuồng) “cầu” tạo nên những cấu trúc đố xứng, diễn đạt một cách sâu sắc bài ca dao:
-Sông sâu biết bắc mấy cầu
Khi thương thì anh thương vội
Khi sầu anh để lại cho em
-Sông dài được mấy đò ngang
Ai nhiều nhơn ngãi chỉ mang oán thù.
-Bơ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi
Kẻo khúc sông này bờ bụi tối tăm
Trong khi đó yếu tố “sông” lại kết hợp với yếu tố “bờ”,”vực”, “sóng”, “cá”, tạo thành những cấu trúc song song : Sông- bờ, sông – vực, sông- sóng:
-Sông sâu vực thẳm hỡi chàng
Đâu đâu cũng vậy anh phụ phàng làm chi.
-Sông sâu sóng bủa láng cò
Thương em vì bởi câu hò có duyên.
Hệ quả là yếu tố sông nước là”cá”: cá sặc, cá rô, cá lý ngự,… cá lội, cá cất (nhảy lên) và đặc biệt là cá cắn câu. Có rất nhiều bài ca dao chứa đựng hình ảnh cá-câu (lờ –đăng –đó…) xoay quanh các mối quan hệ nam nữ:
-Con cá tróc vi hiềm vì cá nhảy
Cần câu gãy vì bụi gốc vướng rong.
Bởi vì mai mối không xong
Nên duyên đôi ta trắc trở chớ tấm lòng không quên.
– Con cá vô lờ đụng vỉ thối nan
Em chê anh nghèo khổ kiếm chỗ giàu sang mà nhờ.
Tóm lại, môi trường sông nước cộng với công trình xây dựng (cầu), công cụ sản xuất (câu ,lờ, thuyền), phương tiện giao thông (thuyền, đò, xuồng, ghe…)nghĩa là tổng thể những yếu tố củacuộc sống trên sông nước đã đi vào ca dao Nam Bộ. Môi trường sông nước một mặt là đối tượng để ca dao phản ánh, ca ngợi; mặt khác với tư cách biểu trưng – đó lại là phương tiện nghệ thuật để thể hiện nội dung. Điều này cho thấy ca dao Nam bộ gắn chặt với môi trường văn hoá- vùng sông nước đã sản sinh ra nó.
tuc ngu

Ca Dao Nam Bộ – Ca Dao Của Vùng Đất Mới

Tùng Phạm  |  at  09:33

1.Vẻ hoang vu của thiên nhiên- một dấu ấn trong những bài ca của thiên nhiên đất nước.
Vùng Nam Bộ giàu đẹp đáng tự hào ngày nay lại là vùng đất bỏ hoang hàng ngàn năm từ sau khi đế quốc Phù Nam tan rã vào thế kỷ thứ VI. Bao nhiêu thế kỷ trôi qua, mảnh đất màu mỡ này vẫn ngủ yên vì người bản địa vốn quá thưa thớt lại lạc hậu về kỹ thuật nông nghiệp. Cũng có thể một phần do thiên nhiên sẵn giàu có, ưu đãi nên họ không cần khai thác thêm. Những vùng đất cao đủ trồng tỉa, những con rạch thừa cá tôm, những cánh rừng thừa hương liệu, gỗ,.. đã đảm bảo cho đời sống. Mãi đến thế kỷ thứ XVII, những người Việt đầu tiên”đi mở cõi” đến vùng đất mới, nhận ra ngay vẻ hoang sơ của nó:
“Muỗi kêu như sáo thổi
Đỉa lội như bánh canh
Cỏ mọc thành tinh
Rắn đồng biết gáy”
Cảnh
Rừng thiêng nước độc thú bầy
Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội đầy như bánh canh
Nét hoang sơ của thiên nhiên Nam Bộ buổi đầu khai phá thể hiện ở môi trường khắc nghiệt “rừng thiêng nước độc”:
-“Tháp Mười nước mặn, đồng chua
Nửa mùa nắng cháy nửa mùa nước dâng
Sấu và Cọp là hai loại tượng trưngcho sức mạnh hoang dã luôn luôn đe doạ con người.
Tục ngữ “xuống sông hớt trứng sấu, lên bờ xỉa răng cọp” và thành ngử “hùm tha , sấu bắt” khá phổ biến trong lời ăn tiếng nói của nhân dânmãi cho đến ngày nay. Ca dao nói nhiều về hai loài này. Trên cạn có cọp, “cọp đua”, “cọp um”.
-U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường
Dưới sông sấu lội trên rừng cọp đua.
-Cà Mau khỉ khọt trên bưng
Dưới sông sấu lội trên rừng cọp um.
Cọp sống ở khắp nơi từ miền Đông Nam Bộ (đất giồng) xuống tận miền Tây sình lầy, nước mặn của rừng U Minh, Rạch Giá. Người dân là kính nể, gọi cọp bằng ông, thậm chí tôn lên làm hương cả, nhưng có lúc lại coi thường, giết cọp bằng nhiều cách. Cọp cũng là loài thú giữ quyết tâm bám giữ địa bànsinh sống cho dù phải chạm trán với con người. Đối lại, lúc mới khẩn hoang, dù cọp tới lui là mối nguy hiểm nhưng con người cũng phải bám đất để sinh cơ lập nghiệp. Nhiều giai thoại dân gian về chuyện đấu với cọp vẫn còn.
Nếu trên bờ có cọp thì dưới nước có sấu, “ sấu lội”, “Sấu cắn chưng” và “sấu vẫy vùng”.
“ Tháp mười sinh nghiệp phèn chua
Hổ mây, cá sấu thi đua vẫy vùng”.
Nét hoang dã của đất nước Nam Bộ còn thể hiện gián tiếp qua tâm trạng lo sợ của người đi khai hoang, cảnh vật lạ lùng khiến cho người ta sợ mọi thứ:
-Tới đây sứ sở lạ lùng
Chim kêu cũng sợ ,cá vùng cũng ghê
- Chèo ghe sợ sấu ăn chưng
Xuống bưng sợ đỉa , lên rừng sợ ma.
Song song với nét hoang vu nêu trên, thiên nhiên có phần ưu đãi cho người đi tìm cuộc sống mới. Tín ngưỡng dân gian Nam bộ vẫn tin rằng “ Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhơn”.
Sản vật”trời cho” thật là phong phú và dường như luôn sẵn có. Gạo thì Đồng Nai, gạo Cần Đước, gạo Cần Thơ… lúa thì có lúa “nàng co”, “nàng quốc”, “lúa trời”…
- Hết gạo thì có Đồng Nai
Hết củi thì có Tân Sài chở vô
-Gạo Cần Đước, nước Đồng Nai
Ai về xin nhớ cho ai theo cùng.
– Cám ơn hạt lúa nàng co
Nợ nần trả hết, lại no tấm lòng
-Ai ơi về miệt Tháp Mười
Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn.
Nhóm từ “gạo thơm” và “gạo trắng nước trong” (hoặc “nước trong gạo trắng”) được lập lại như một điệp khúc của bài ca về sự giàu có:
-Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi
Gạo thơm Nàng Quốc em nuôi mẹ già
-Đồng Nai gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó thì không muốn về.
-Ai về Gia Định thì về
Nước trong gạo trắng dễ bề làm ăn.
Trong một chừng mực nào đó có thể gắn sự giàu có sản vật tự nhiên với nét hoang sơ của môi trường. Vì thiên nhiên hoang vu nên tất cả các loài vật đều có điều kiện để sinh sôi nảy nở. Ngược lại chính sự tồn tại của các loài trong tự nhiên một cách “tự do” với số lượng nhiều tạo nên chất hoang sơ, tính “sẵn có”:
Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá về đồng ăn cua
Bắt cua làm mắm cho chua
Gởi về quê nội khỏi mua tốn tiền
2. Hình ảnh người đi khai hoang.
Như đã trình bày ở trên, trước đây ba thế kỷ Nam Bộ là vùng đất hoang vu với “rừng thiêng nước độc”, rắn, cá sấu, cọp và voi… Sau mấy trăm năm vùng đất này đã trở thành nơi trù phú nhất nước.
-Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh.
– Biên hoà bưởi chẳng đắng the
Ăn vào ngọt lịm như chè đậu xanh.
Những người trồng tỉa ngày sau phải nhớ đến những “bậc tiền nhân”, “mở cõi”, đi khai hoang. Nhìn toàn cục đó là kết tinh của mồ hôi và xương máu của nhiều thế hệ kế tiếp nhauđầy cảnh hoang sơ lùi dần vào quá khứ. Bắt đầu là cuộc khai khẩn miền Đông với lời khích lệ những bậc mày râu:
-Làm trai cho đáng thân trai
Phú Xuân đã trải , Đồng Nai đã từng
Rồi người đi lập nghiệp đến miền Tây:
-Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai về xứ bạc thong dong cuộc đời.
– Muốn ăn bông súng cá kho
Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm
-Bạc Liêu nước chảy lờ đờ
Dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu.
Người Triều Châu nói riêng, Người Hoa nói chung, có mặt ở nam bộ gần như cùng lúc với người Việt, họ vừa là những trung thần của nhà Minh, âm mưu chống lại nhà Thanh, vừa là người đi khai hoang. Tinh thần phóng khoáng và lòng mến khách của người Việt Nam giúp họ gắn bó với mảnh đất này. Dương Ngạn Dịch, Mạc Cửu, Trần Thượng Xuyên… là người Hoa được nhắc nhở đến như những nhân vật lịch sử. Ở thị trấn Hà Tiên ngày nay, Lăng Mạc Cửu xâu trên một ngọn đồi có hàng chữ trang trọng :”Khai trấn công thần”.Người Việt nhìn nhận thực tại này bằng thái độ hoà hợp, đoàn kết. Người Hoa đã góp một phần công sức cùng với người Việt mở mang bờ cõi.Nếu ban đầu “Đất Cần Thơ nam thanh nữ tú, xứ Rạch Giá vượn hú chim kêu” thì sau đó xứ “Nam thanh nữ tú” lớn dần, xứ”vượn hú chim kêu” hẹp dần trước nỗ lực phi thường của những con người gan góc, kiên trì.
Vậy mà, khi mới đến vùng đất mới, những con người đó vẫn không tránh khỏi cảm giác:
Tới đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng ghê
Vẫn biết rằng những lưu dân từ miền trung đã quyết chí lập nghiệp, nhưng vẫn là con người giàu tình cảm thì làm sao họ không buồn cho được:
- U Minh, Rạch Giá thị quá Sơn Trường
Gió đưa bông sậy dạ buồn nhớ ai.
-Trời xanh kinh đỏ đất xanh
Đỉa bu, muỗi cắn làm anh nhớ nàng.
– Mênh mông trời nước một màu
Nhóc nhen kêu rộ bắt xàu ruột gan.
Tâm trạng buồn- nhớ là tâm trạng rất thực : buồn trước cảnh hiu quạnh, buồn vì xa xứ, nhớ thì nhớ quê, nhớ nhà, nhớ người thân yêu. Cái nhớ của người buộc phải lìa cố quán ra đi chấp nhận cực khổ, chết chóc vì rừng thiêng nước độc, thú dữ chứ không cam tâm chết vì bọn quan lại, địa chủ quê nhà. Trụ lại ở vùng đất mới,lưu dân bắt đầu cuộc sống mới :
Trai tứ chiếng, gái giang hồ
Gặp nhau ta nổi cơ đồ cũng nên.
Những con người của “tứ chiếng giang hồ” nghĩa là của mọi miền quê tụ về đây. Câu ca dao trên là một lời nhận định, một kết luận khái quát, xác lập với lịch sử khai phá vùng đất nam bộ.
Lịch sử đã chứng minh những con người tiên phong đi khai phá đất mới ở phương nam đã bám đất bằng tất cả sức mạnh của đôi bàn tay, của ý chí vươn tới, của năng kực tổ chức, của tình đoàn kết chung lưng đấu cật. Ca dao Nam bộ đã ghi lại những hình ảnh cụ thể:
-Chiều chiều ông Ngữ thả câu
Sấu lôi ông Ngữ cắm đầu xuống sông
(sưu tầm ở Phú Tân-An Giang)
-Chiều chiều ông Lữ đi câu
Sấu cắn ông Lữ biết đâu mà tìm
(Ca dao Đồng Tháp)
Ông Ngữ, Ông Lữ là những con người mang tính tượng trưng, họ là những nông dân Nam Bộ với những cực nhọc, vất vả và không ít khó khăn công việc “phá sơn lâm, đâm hà bá”. Câu tục ngữ “nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá” được truyền tụng khá phổ biến trong dân gian nam bộ, chỉ hai công việc: khai phá rừng hoang và đánh bắt thuỷ sản, hai việc mang lại cuộc sống no đủ cho những lưu dân thời kỳ đầu. Song, không phải lúc nào họ cũng gặt hái được kết quả mong muốn mà còn có lúc gặp thất bại, trả giá đắt. Riêng bài ca dao về ông Lữ đã từng có mặt ở vùng Nam Trung Bộ:
Chiều chiều ông Lữ đi câu
Bỏ ve, bỏ chén, bỏ bầu ai mang
-Chiều chiều ông Lữ đi cày
Trâu tha gãy ách khoanh tay ngồi bờ.
Rõ ràng “ông Lữ” người đi khai phá, từ trung bộ khẩn hoang dần đến Nam trung bộ rồi vào Nam bộ. Những bậc tiền hiền, hậu hiền(những thế hệ đầu tiên có công khai phá) được thờ cúng trong đình làng nam bộ và ngay trong mỗi gia đình. Mỗi khi có đám giỗ cúng ông bà người nam bộ thường bày thêm một mâm ở ngưỡng cửa hoặc ngoài sân gọi là mâm đất đai để tỏ lòng biết ơn những người đầu tiên khai phá đồng thời xin các vị này phù hộ. Bên cạnh đó, có lễ cúng chúa Ngung ma nương để xin “mướn đất” với người “khuất mặt”. Người ta thường gặp ở gò hoang hoặc gần bờ sông những bộ xương người. Chắc rằng đó là xương của những người tiên phong đi khai khẩn đã chết hoặc vì thú dữ hoặc vì bệnh tật…Trong vô số những người như vậy, ca dao Nam Bộ ghi lại vài tên tuổi cụ thể :
-Chiều chiều quạ nói với diều
Cù lao ông Chưởng có nhiều cá tôm.
Ông Chưởng tức là ông Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh, trên đường hành quân đã dừng lại một cù lao (huyện Chợ Mới hiện nay) của An Giang. Đoàn quân của ông đã phát hoang, canh tác trên cù lao này.
Không thể so sánh với ông Chưởng cơ- bậc khai quốc công thần của triều Nguyễn, ông Móm trong bài ca dao sau lại kém may mắn hơn:
Ruộng cò bay dặm dò truông cóc
Cháu con ông Móm lăn lóc cơ hàn
Ai xuôi khiến cảnh bẽ bàng
Mồ ông còn đó họ hàng chẳng thăm.
Vào đầu thế kỷ 17, ông Móm là người đầu tiên từ Quảng Ngãi vào khai phá vùng Truông Cóc (Đồn Sơn –Gò Công Tây –Tiền Giang) mở đầu cho những người lập nghiệp vùng này, nhưng buồn thay, ông lại bị họ hàng bỏ quên. Nhưng cũng có thể họ hàng của ông không còn ai nữa. Có một điều an ủi, nhân dân- tác giả bài ca dao vẫn còn ghi công ông “ruộng cò bay dặm dày…”.
Tóm tại, ca dao Nam bộ đã ghi lại được hình ảnh của người đi khai phá đất mới. Đôi khi họ như những người lính ra đi không trở lại vì “Rừng thiêng nước độc, thú bầy “. Nhưng nét nổi bật của họ không phải là nỗi buồn nhớ mang mác mà là ý chí vượt gian nan, dũng cảm, gan góc với biết bao nhiêu cực nhọc nguy hiểm để làm công việc “khai son phá thạch:, biến mảnh đất này từ hoang sơ trở thành nơi trù phú.
3. Ca dao Nam Bộ –ca dao vùng sông nước.
Nét nổi bật của địa lý Nam Bộ là mạng lưới sông rạch, kinh đào dày đặc, chằng chịt. Ngoài hai hệ thống sông lớn (hệ Cửu Long và hệ Đồng Nai), miền Tây Nam bộ còn có hệ thống sông nhỏ đổ ra vịnh Thái Lan và mạng lưới kênh tự nhiên cũng như kênh đào. Tổng chiều dài của mạng lưới này lên đến 4.900 km. Do vậy, đường thuỷ là hệ thống giao thông cực kỳ qua trọng đối với Nam Bộ trong mấy thế kỷ qua. “Còn về đất đai miền Đồng Nai- Gia Định thì có nhiều khe ngòi, nhiều đường thuỷ chằng chịt khắp nơi nên không tiện đi bộ. Những người đi buôn bán có chuyên chở bằng những thuyền lớn, cũng phải chở kèm những thuyền nhỏ để dễ đi thông vào các kênh”.(Lê Quí Đôn-Phù Biên tạp lục). Hệ thống đường thuỷ có tầm quan trọng như vậy nên sinh hoạt của người dân gắn với sông nước :”Ở Gia Định chỗ nào cũng có thuyền ghe hoặc dùng thuyền làm nhà ở, hoặc để đi chợ, đi thăm người thân thích hoặc chở gạo củi đi buôn bán, rất tiện lợi, mà ghe thuyền chật sông, ngày đêm qua lại…”(Trịnh Hoài Đức –Gia Định thành thông chí).
Do hệ thống sông rạch, ghe ngòi, kinh đa dạng nên người đi ghe xuồng cũng phải ứng biến theo từng địa hình :
Đường rừng có bốn cái vui
Lúc chống, lúc lạo, lúc bơi,lúc chèo”.
Với điều kiện sinh sống như vậy, cha ông chúng ta đã tạo ra các phương tiện giao thông đường thuỷ – thành tựu của văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên: Nhà ghe, ghe rối, ghe bầu…Ngoài ra, còn rất nhiều loại ghe xuồng, đặc biệt xuồng ba lá và chiếc ráng tắc. Xuồng ba lá đi kèm với cây sào nạng. Cây sào có nạng ở dưới gốc để có thể chống được chỗ có nhiều trấp, đất không chưng mà không bị kẹt. Chiếc xuồng ba lá cũng như tất cả các loại ghe khác được cải tiến dần để đến một lúc, chiếc vỏ lải ra đời. Chiếc vỏ lải đóng ở tắc ráng (tên con rạch ở Rạch giá) mô phỏng hình thể chiếc ghe lườn đạt mức độ hoàn thiện về nhiều mặt. Dần dần, người ta gọi vỏ lãi này là chiếc tắc ráng. Tóm lại, từ chiếc xuồng ba lá với sào nạng đến chiếc tắc ráng chạy bằng máy đuôi tôm ngày nay là một quá trình lâu dài, cha ông ta đã lao động sáng tạo trên sông nước.
Bên cạnh các phương tiện giao thông đường thủy là công cụ đánh bắt thuỷ sản. Bắt cá bằng câu thì có câu thượt, câu nhắp, câu rê, cầu dầm , câu cắm, câu giăng… Công cụ giữ cá băng hôm có lờ, trúm, lộp, đó, rọ, bung, xà di,… Lưới gồm các loại như xệp, te, đáy, càng chông, vó gặt, vó càng, lưới rùng, lưới chụp… những công cụ này đi vào ca dao và chúng đã trở thanh những biểu trưng diễn đạt những ý tình sâu lắng:
-Cá không ăn câu chê rằng con cá dại
Cá mắc câu rồi nói tại cá tham ăn
-Cá không ăn câu thật là con cá dại
Vác cần câu về nghĩ lại con cá khôn.
Một biểu hiện nữa của văn hoá sông nước là hệ thống từ ngữ gắn với đặc điểm địa lý (bưng, bào, đìa, láng, lung, lạch, con lươn…), gắn với công cụ sản xuất (như đã nêu trên). Đặc biệt các từ ngữ chỉ các trạng huống của nước (nước rong, nước ròng, nước đứng…) rất phong phú.
-Nước rong nước chảy tràn đồng
Tơ duyên sẵn có chỉ hồng chưa se
-Nước sông lững đững lờ đờ
Thương người nói vậy biết chờ hay không.
Hò chèo ghe là một biểu hiện khác của nền văn hoá dân gian gắn với sông nước. Ghe chở gạo, ghe chở cá, ghe bán buôn, ghe chở người đi làm trhuê… đều trở thành ghe hò. Hầu hết các địa phương của vùng đồng bằng sông Cửu Long đều có hò chèo ghe. Nó đặc biệt phát triển ở Minh Hải , Đồng Tháp, Long An Tiền Giang, Vĩnh Long. Hò chèo ghe có nhiều nàn điệu gồm: hò mái một, hò mái ba, hò mái đoán (cụt) và hò mái trường(dài).
Hình ảnh phổ biến trong lời của những điệu hò chèo ghe nói chung vẫn là cảnh trăng sao, mây nước, con thuyền, dòng sông, mái chèo,…
-Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê.
-Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi
Kẻo khúc sông này bờ bụi tối tăm.
-Sông bến tre nhiều hang cá ngát.
Đường kho bạc lắm cát dễ đi.
-Tây ninh có núi điện bà
Có sông Vàm Cỏ có toà Cao Sơn.
-Rạch gầm soài mút tăm tăm
Xê xuống chút nữa tới vàm Mỹ tho…
Trong 165 bài thuộc chủ đề tình yêu quê hương đất nước có 69 bài chứa đựng hình ảnh sông nước, thuyền, đò, cá… chiếm tỉ lệ hơn 41%. Bên cạnh những con sông cụ thể như Sài Gòn, Sông Tiền, Sông nhà Bè, sông Vàm Cỏ… còn có những con sông điển tích như “sông Ngân”,”sông Tương”, lại còn có sông tượng trưng”Sông Giang Hà”… Thế rồi”khúc sông” ,”sông dài” , “sông sâu”, “sông cạn” những biểu trưng nghệ thuật miêu tả những ngăn cách , hoàn cảnh éo le, sự thử thách của cuộc đời
-Sông sâu cá lội ngù ngờ
Biết em có đợi mà chờ uổng công
-Sông dài cá lội biệt tăm
Thấy anh người nghĩa mấy năm em cũng chờ.
-Biển cạn, sông cạn, lòng qua không cạn
Núi lở non mòn,ngỡi bạn không quên.
Với tư cách biểu trưng, yếu tố “sông”, “nước” kết hợp với các yếu tố khác như “thuyền” (ghe,đò,xuồng) “cầu” tạo nên những cấu trúc đố xứng, diễn đạt một cách sâu sắc bài ca dao:
-Sông sâu biết bắc mấy cầu
Khi thương thì anh thương vội
Khi sầu anh để lại cho em
-Sông dài được mấy đò ngang
Ai nhiều nhơn ngãi chỉ mang oán thù.
-Bơ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi
Kẻo khúc sông này bờ bụi tối tăm
Trong khi đó yếu tố “sông” lại kết hợp với yếu tố “bờ”,”vực”, “sóng”, “cá”, tạo thành những cấu trúc song song : Sông- bờ, sông – vực, sông- sóng:
-Sông sâu vực thẳm hỡi chàng
Đâu đâu cũng vậy anh phụ phàng làm chi.
-Sông sâu sóng bủa láng cò
Thương em vì bởi câu hò có duyên.
Hệ quả là yếu tố sông nước là”cá”: cá sặc, cá rô, cá lý ngự,… cá lội, cá cất (nhảy lên) và đặc biệt là cá cắn câu. Có rất nhiều bài ca dao chứa đựng hình ảnh cá-câu (lờ –đăng –đó…) xoay quanh các mối quan hệ nam nữ:
-Con cá tróc vi hiềm vì cá nhảy
Cần câu gãy vì bụi gốc vướng rong.
Bởi vì mai mối không xong
Nên duyên đôi ta trắc trở chớ tấm lòng không quên.
– Con cá vô lờ đụng vỉ thối nan
Em chê anh nghèo khổ kiếm chỗ giàu sang mà nhờ.
Tóm lại, môi trường sông nước cộng với công trình xây dựng (cầu), công cụ sản xuất (câu ,lờ, thuyền), phương tiện giao thông (thuyền, đò, xuồng, ghe…)nghĩa là tổng thể những yếu tố củacuộc sống trên sông nước đã đi vào ca dao Nam Bộ. Môi trường sông nước một mặt là đối tượng để ca dao phản ánh, ca ngợi; mặt khác với tư cách biểu trưng – đó lại là phương tiện nghệ thuật để thể hiện nội dung. Điều này cho thấy ca dao Nam bộ gắn chặt với môi trường văn hoá- vùng sông nước đã sản sinh ra nó.

Nói đến Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Tuân, Anh Đức, Nguyễn Đình Chiểu… ai cũng thừa nhận rằng các tác giả đã vận dụng một cách khéo léo và thành công từ địa phương trong các sáng tác của mình. Tuy nhiên, không những giới văn đàn mới làm được điều đó mà ngay cả các tác giả sáng tác nhạc tuồng cải lương, bài ca vọng cổ – nghệ sĩ ưu tú, soạn giả Viễn Châu – cũng rất thành công ở lĩnh vực này.
Có thể nói, đặc trưng ngôn ngữ văn hoá – từ địa phương – trong những bài ca vọng cổ của soạn giả Viễn Châu đã tạo nên một giai điệu mượt mà, sâu lắng nhuần nhuyễn, nhịp nhàng. Qua đó đã phản ánh lên một bức tranh quê đằm thắm, yên bình, nghĩa tình sâu nặng giữa người với người, một triết lý nhân sinh giản đơn mà sâu sắc, hay đó chỉ là một nét tính cách thôn dã, mộc mạc của người dân NamBộ. Những câu hát lời ca ấy không đượm chút hoa mỹ, bóng bẩy mà giàu tính bình dân, gần gũi với lối sống hằng ngày với mọi người. Chẳng hạn trong cách xưng hô của người Nam Bộ, ta cảm nhận một điều gì đó rất gần gũi, mật thiết đầy tình nghĩa :
“Tao thấy mầy về tao nhớ nó nhiều thêm.” (Giây phút ngậm ngùi)
Khi nói về vợ hay chồng mình với người khác, người Nam Bộ cũng thường sử dụng nhiều cách gọi thân mật như : ông xã, má sắp nhỏ, ba thằng X …
Trong bài “Tôi đi hớt tóc” do Văn Hường ca có đoạn :
“Mỗi khi nghe má thằng Nhái cằn nhằn cửi nhửi
Nó nói đời bây giờ mà còn để củ tỏi Hạ Châu
Tía nó ôi, nghe lời tôi đi hớt tóc, gội đầu
Cho được gọn ghẽ bảnh bao cùng thiên hạ”
Tình cảm của người Nam Bộ đối với phía bên mẹ thường nặng hơn nên tương tự cách gọi “ngoại Năm”, “ngoại Chín”, trong nhiều gia đình các cháu cũng thường hay gọi dì của mình (chị hoặc em của mẹ) bằng má kèm theo thứ : má Hai, má Sáu,… Cũng với ý muốn làm tăng tình cảm thân mật và giảm bớt tính cách trịnh trọng, người Nam bộ thường gọi ông chú, bác, cô, dì của mình theo thứ vị đó : ông Năm, bà Bảy, bác Hai …
“Bác Sáu giăng câu cho xuồng cập bến ngước mắt nhìn tôi thay tiếng hỏi câu chào” (Bông ô môi)
Trường hợp người lớn tuổi nói với người nhỏ tuổi, nếu thân mật thì gọi bằng con, ít thân mật thì gọi bằng cháu, cũng có thể gọi bằng “thằng + thứ” hay “con +thứ”. Chẳng hạn :
” Cháu ở xa xôi về tự hồi nào, cháu ơi con Tư nó đã lấy chồng từ năm về trước nhưng số phần bạc phước vô duyên” (Bông ô môi)
Nhìn chung, các từ xưng hô trong tiếng Việt rất phong phú và đa dạng. Những khác biệt nhỏ trong cách xưng hô làm nên sắc thái riêng của các phương ngữ. Chẳng hạn, khuynh hướng dùng tên riêng kèm ngôi thứ, trong quan hệ xóm giềng người ta thường gọi theo thứ trong gia đình : bác Sáu, cậu Ba,… cách xưng gọi của người dân Nam bộ mang tính bình dân, không theo tôn ty, trật tự bắt buộc.
Có thể khẳng định rằng, soạn giả Viễn Châu là một trong số các tác giả sử dụng rất điêu luyện và thành công vốn từ địa phương Nam bộ trong các sáng tác của mình. 2Nam bộ là vùng sông nước với nhiều kênh rạch chằng chịt, là mạch giao thông chủ yếu không những của đời sống kinh tế, xã hội mà cả đời sống văn hoá, tinh thần của người dân miền đất này. Chính vì điều kiện tự nhiên như thế cho nên cuộc sống của người dân bản xứ luôn gắn với sông nước. Do đó, số từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng có liên quan đến lĩnh vực này cũng rất phong phú- nhất là trong phương ngữ Nam bộ. Cũng do xuất thân từ miền quê sông nước Nam bộ nên các tác phẩm của soạn giả Viễn Châu cũng phản ánh một số nét đặc thù của vùng sông nước Nam bộ – nhất là trong các bài ca vọng cổ.
“Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kênh ngã Bảy sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra chào …”
“Nhớ năm ngoái khi ghe vừa tới vàm sông ngã Bảy” (Tình anh bán chiếu)
” Trên con thuyền cũ kỷ ai muốn sang bến sông này lão đưa rước dùm cho” (Ông lão chèo đò)
Với hệ thống kênh rạch như thế, phương tiện vận chuyển chủ yếu của người dân địa phương vẫn là các loại ghe, xuồng. Ở đây, anh bán chiếu đã sử dụng phương tiện đặc trưng của vùng đất Nam bộ để sinh sống hằng ngày, đó là chiếc ghe. Khi vận chuyển hành khách cũng như hàng hoá qua sông, người Nam bộ thường dùng đò hay thuyền để đưa rước khách. Nhưng đối với họ, phương tiện dichuyển tiện dụng hơn cả là chiếc xuồng. Xuồng ở nơi này được xem như xe làm chân của người dân thành phố. Có nhiều nơi học sinh đi học cũng bằng xuồng, đưa rước nhau cũng bằng xuồng :
“Em bơi xuồng ba lá tiễn đưa tôi đến tận đầu làng”
“Trên chiếc xuồng có một ông lão quen quen” (Bông ô môi)
Gắn liền với các phương tiện vận chuyển nêu trên người Nam bộ cũng đã có những từ ngữ chỉ sự vận động của họ trên vùng sông nước. Chẳng hạn như từ “chèo”:
“Mặc dù tuổi đã già nua, vẫn còn chèo nổi con đò sang sông” (Ông lão chèo đò)
Thông thường, ghe phải có mái chèo dài khoảng 3m – 3,5m. Ghe tam bản cũng dùng mái chèo dài từ 2m – 2,5m. Một đặc điểm nữa của vùng sông nước Nam bộ đó là sự lên xuống của dòng nước (diễn biến theo chu kỳ)
“Khuya đêm nay ngồi chờ nước lớn nỗi buồn đau cứ canh cánh bên lòng” (Tình anh bán chiếu)
Nước lớn hay còn gọi là nước lên con nước chuyển từ mực thấp sang cao. Để chỉ nước lên người dân nơi đây nói là nước lớn. Còn có một từ rất đặc biệt là : “rong” (rông) chỉ con nước cao vượt mức bình thường. Trong một tháng hai lần (tháng 9, tháng 10 âm lịch), trước sau ngày rằm và ngày sóc thì nước lớn tối đa.
Ngoài ra, người dân Nam bộ cũng thường vận động trên các phương tiện với nét đặc thù của sông nước : cắm, nhổ,… cũng như các hoạt động đặc trưng tiêu biểu ở Nam bộ : vác, gánh,quảy,…
” Tôi nhổ sào cho ghe chiếu trôi xuôi” …”Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh ngã Bảy”
“Tôi vác đôi chiếu bông mà cõi lòng tan nát, bước chân đi như thể xác không hồn”. (Tình anh bán chiếu )
“Trầu nặng gánh hay nặng tình em thương nhớ” (Lá trầu xanh)
Khi muốn bộc lộ tâm tư tình cảm hay bày tỏ với ai đó một điều gì, người dân địa phương Nam bộ thường sử dụng những từ ngữ hết sức mộc mạc, giản dị và chân thành mang đậm tính cách của người bản xứ.
“Địch Lang ôi! Khá dừng cương để thiếp đây tỏ bày hơn thiệt” (Thoại Ba công chúa)
” Mỗi khi nghe má thằng Nhái cằn nhằn, cửi nhửi” (Tôi đi hớt tóc)
“Nhìn cánh thiệp hồng nằm trơ trên gác vắng nghe tâm tư chết lặng mối thương sầu” (Được tin em lấy chồng)
“Võ Lang, Võ Lang, trời ơi, thiếp đã gào lên mấy lượt sao chàng vẫn im lìm trong cổ áo quan” ( Bạch Thu Hà)
” Em bỗng bâng khuâng đôi má hồng chín ửng” (Cô gái bán sầu riêng)
Có thể nói, soạn giả Viễn Châu đã khắc hoạ một cách chân thật và đa dạng những cảm xúc tình cảm của con người Nam bộ : “sự tỏ bày hơn thiệt”, “cằn nhằn, cửi nhửi”, “gào lên”… mà chúng ta ít gặp trong phương ngữ Bắc Bộ. Qua đó, ta lại càng hiểu thêm về tình cảm, tính cách rất đổi chơn chất, thật thà của người Nam bộ. Một trong những nét đặc trưng ngôn ngữ văn hoá Nam bộ trong bài ca vọng cổ của soạn giả Viễn Châu đó là ngữ khí từ, hư từ có liên quan mật thiết đến lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân miền sông nước. Cách nói dân dã và mộc mạc đó đã góp phần làm phong phú hơn vốn từ vựng tiếng Việt của chúng ta. Tiêu biểu có các từ : ôi, sao, ơi, mà,…
“Ôi sương trắng phủ màu tang trên nấm mộ”
” Hỡi ơi chiếc lá vàng bay vật vờ trong gió lạnh” (Lắng tiếng chuông ngân)
“Chớ cô bác nghĩ coi từ làng trên xóm dưới ai ai lại chẳng biết tên thầy Tư làm pháp sư đã bốn năm trời”(Pháp sư giải nghệ)
” Trời ơi! Ta làm vua mà không nghe lời can gián thì bảo sao đám thần dân không hận oán căm thù …”(Trụ Vương thiêu mình)
Nhìn chung, ngữ khí từ và hư từ trong tiếng Việt đã được soạn giả Viễn Châu sử dụng một cách nhuần nhuyễn và rất phong phú. Qua đó, giúp ta phát triển thêm vốn từ vựng mà chúng ta sử dụng hằng ngày trong cuộc sống.
Tóm lại, Ca cổ cải lương vốn là âm nhạc cổ truyền của dân tộc, là món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Nam bộ nói riêng và cả nước nói chung. Ca cổ là môn nghệ thuật chính yếu của dân tộc : có những bài ca rất trữ tình, sâu lắng, ca ngợi quê hương, đất nước; ca ngợi nét đẹp trong tâm hồn của mỗi con người làng quê sông nước Nam bộ cùng tình yêu đôi lứa son sắt, thuỷ chung. Qua đó, giúp ta cảm nhận một cách đầy đủ và sâu sắc miền quê sông nước Nam Bộ, gần gũi và gắn bó mật thiết hơn trong sự niềm nở tiếp đón của người dân bản xứ. Tính cách và tấm lòng chơn chất, thật thà ấy của họ sẽ mãi mãi được ghi khắc không chỉ trong lời ca điệu hát của soạn giả – Nghệ sĩ ưu tú Viễn Châu mà sẽ khắc sâu trong trái tim của mỗi con người – nhất là người dân Nam bộ.
vọng cổ

Ngôn Ngữ Nam Bộ trong Bài Vọng Cổ Của Soạn Giả Viễn Châu

Tùng Phạm  |  at  07:39

Nói đến Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Tuân, Anh Đức, Nguyễn Đình Chiểu… ai cũng thừa nhận rằng các tác giả đã vận dụng một cách khéo léo và thành công từ địa phương trong các sáng tác của mình. Tuy nhiên, không những giới văn đàn mới làm được điều đó mà ngay cả các tác giả sáng tác nhạc tuồng cải lương, bài ca vọng cổ – nghệ sĩ ưu tú, soạn giả Viễn Châu – cũng rất thành công ở lĩnh vực này.
Có thể nói, đặc trưng ngôn ngữ văn hoá – từ địa phương – trong những bài ca vọng cổ của soạn giả Viễn Châu đã tạo nên một giai điệu mượt mà, sâu lắng nhuần nhuyễn, nhịp nhàng. Qua đó đã phản ánh lên một bức tranh quê đằm thắm, yên bình, nghĩa tình sâu nặng giữa người với người, một triết lý nhân sinh giản đơn mà sâu sắc, hay đó chỉ là một nét tính cách thôn dã, mộc mạc của người dân NamBộ. Những câu hát lời ca ấy không đượm chút hoa mỹ, bóng bẩy mà giàu tính bình dân, gần gũi với lối sống hằng ngày với mọi người. Chẳng hạn trong cách xưng hô của người Nam Bộ, ta cảm nhận một điều gì đó rất gần gũi, mật thiết đầy tình nghĩa :
“Tao thấy mầy về tao nhớ nó nhiều thêm.” (Giây phút ngậm ngùi)
Khi nói về vợ hay chồng mình với người khác, người Nam Bộ cũng thường sử dụng nhiều cách gọi thân mật như : ông xã, má sắp nhỏ, ba thằng X …
Trong bài “Tôi đi hớt tóc” do Văn Hường ca có đoạn :
“Mỗi khi nghe má thằng Nhái cằn nhằn cửi nhửi
Nó nói đời bây giờ mà còn để củ tỏi Hạ Châu
Tía nó ôi, nghe lời tôi đi hớt tóc, gội đầu
Cho được gọn ghẽ bảnh bao cùng thiên hạ”
Tình cảm của người Nam Bộ đối với phía bên mẹ thường nặng hơn nên tương tự cách gọi “ngoại Năm”, “ngoại Chín”, trong nhiều gia đình các cháu cũng thường hay gọi dì của mình (chị hoặc em của mẹ) bằng má kèm theo thứ : má Hai, má Sáu,… Cũng với ý muốn làm tăng tình cảm thân mật và giảm bớt tính cách trịnh trọng, người Nam bộ thường gọi ông chú, bác, cô, dì của mình theo thứ vị đó : ông Năm, bà Bảy, bác Hai …
“Bác Sáu giăng câu cho xuồng cập bến ngước mắt nhìn tôi thay tiếng hỏi câu chào” (Bông ô môi)
Trường hợp người lớn tuổi nói với người nhỏ tuổi, nếu thân mật thì gọi bằng con, ít thân mật thì gọi bằng cháu, cũng có thể gọi bằng “thằng + thứ” hay “con +thứ”. Chẳng hạn :
” Cháu ở xa xôi về tự hồi nào, cháu ơi con Tư nó đã lấy chồng từ năm về trước nhưng số phần bạc phước vô duyên” (Bông ô môi)
Nhìn chung, các từ xưng hô trong tiếng Việt rất phong phú và đa dạng. Những khác biệt nhỏ trong cách xưng hô làm nên sắc thái riêng của các phương ngữ. Chẳng hạn, khuynh hướng dùng tên riêng kèm ngôi thứ, trong quan hệ xóm giềng người ta thường gọi theo thứ trong gia đình : bác Sáu, cậu Ba,… cách xưng gọi của người dân Nam bộ mang tính bình dân, không theo tôn ty, trật tự bắt buộc.
Có thể khẳng định rằng, soạn giả Viễn Châu là một trong số các tác giả sử dụng rất điêu luyện và thành công vốn từ địa phương Nam bộ trong các sáng tác của mình. 2Nam bộ là vùng sông nước với nhiều kênh rạch chằng chịt, là mạch giao thông chủ yếu không những của đời sống kinh tế, xã hội mà cả đời sống văn hoá, tinh thần của người dân miền đất này. Chính vì điều kiện tự nhiên như thế cho nên cuộc sống của người dân bản xứ luôn gắn với sông nước. Do đó, số từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng có liên quan đến lĩnh vực này cũng rất phong phú- nhất là trong phương ngữ Nam bộ. Cũng do xuất thân từ miền quê sông nước Nam bộ nên các tác phẩm của soạn giả Viễn Châu cũng phản ánh một số nét đặc thù của vùng sông nước Nam bộ – nhất là trong các bài ca vọng cổ.
“Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kênh ngã Bảy sao cô gái năm xưa chẳng thấy ra chào …”
“Nhớ năm ngoái khi ghe vừa tới vàm sông ngã Bảy” (Tình anh bán chiếu)
” Trên con thuyền cũ kỷ ai muốn sang bến sông này lão đưa rước dùm cho” (Ông lão chèo đò)
Với hệ thống kênh rạch như thế, phương tiện vận chuyển chủ yếu của người dân địa phương vẫn là các loại ghe, xuồng. Ở đây, anh bán chiếu đã sử dụng phương tiện đặc trưng của vùng đất Nam bộ để sinh sống hằng ngày, đó là chiếc ghe. Khi vận chuyển hành khách cũng như hàng hoá qua sông, người Nam bộ thường dùng đò hay thuyền để đưa rước khách. Nhưng đối với họ, phương tiện dichuyển tiện dụng hơn cả là chiếc xuồng. Xuồng ở nơi này được xem như xe làm chân của người dân thành phố. Có nhiều nơi học sinh đi học cũng bằng xuồng, đưa rước nhau cũng bằng xuồng :
“Em bơi xuồng ba lá tiễn đưa tôi đến tận đầu làng”
“Trên chiếc xuồng có một ông lão quen quen” (Bông ô môi)
Gắn liền với các phương tiện vận chuyển nêu trên người Nam bộ cũng đã có những từ ngữ chỉ sự vận động của họ trên vùng sông nước. Chẳng hạn như từ “chèo”:
“Mặc dù tuổi đã già nua, vẫn còn chèo nổi con đò sang sông” (Ông lão chèo đò)
Thông thường, ghe phải có mái chèo dài khoảng 3m – 3,5m. Ghe tam bản cũng dùng mái chèo dài từ 2m – 2,5m. Một đặc điểm nữa của vùng sông nước Nam bộ đó là sự lên xuống của dòng nước (diễn biến theo chu kỳ)
“Khuya đêm nay ngồi chờ nước lớn nỗi buồn đau cứ canh cánh bên lòng” (Tình anh bán chiếu)
Nước lớn hay còn gọi là nước lên con nước chuyển từ mực thấp sang cao. Để chỉ nước lên người dân nơi đây nói là nước lớn. Còn có một từ rất đặc biệt là : “rong” (rông) chỉ con nước cao vượt mức bình thường. Trong một tháng hai lần (tháng 9, tháng 10 âm lịch), trước sau ngày rằm và ngày sóc thì nước lớn tối đa.
Ngoài ra, người dân Nam bộ cũng thường vận động trên các phương tiện với nét đặc thù của sông nước : cắm, nhổ,… cũng như các hoạt động đặc trưng tiêu biểu ở Nam bộ : vác, gánh,quảy,…
” Tôi nhổ sào cho ghe chiếu trôi xuôi” …”Ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên bờ kinh ngã Bảy”
“Tôi vác đôi chiếu bông mà cõi lòng tan nát, bước chân đi như thể xác không hồn”. (Tình anh bán chiếu )
“Trầu nặng gánh hay nặng tình em thương nhớ” (Lá trầu xanh)
Khi muốn bộc lộ tâm tư tình cảm hay bày tỏ với ai đó một điều gì, người dân địa phương Nam bộ thường sử dụng những từ ngữ hết sức mộc mạc, giản dị và chân thành mang đậm tính cách của người bản xứ.
“Địch Lang ôi! Khá dừng cương để thiếp đây tỏ bày hơn thiệt” (Thoại Ba công chúa)
” Mỗi khi nghe má thằng Nhái cằn nhằn, cửi nhửi” (Tôi đi hớt tóc)
“Nhìn cánh thiệp hồng nằm trơ trên gác vắng nghe tâm tư chết lặng mối thương sầu” (Được tin em lấy chồng)
“Võ Lang, Võ Lang, trời ơi, thiếp đã gào lên mấy lượt sao chàng vẫn im lìm trong cổ áo quan” ( Bạch Thu Hà)
” Em bỗng bâng khuâng đôi má hồng chín ửng” (Cô gái bán sầu riêng)
Có thể nói, soạn giả Viễn Châu đã khắc hoạ một cách chân thật và đa dạng những cảm xúc tình cảm của con người Nam bộ : “sự tỏ bày hơn thiệt”, “cằn nhằn, cửi nhửi”, “gào lên”… mà chúng ta ít gặp trong phương ngữ Bắc Bộ. Qua đó, ta lại càng hiểu thêm về tình cảm, tính cách rất đổi chơn chất, thật thà của người Nam bộ. Một trong những nét đặc trưng ngôn ngữ văn hoá Nam bộ trong bài ca vọng cổ của soạn giả Viễn Châu đó là ngữ khí từ, hư từ có liên quan mật thiết đến lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân miền sông nước. Cách nói dân dã và mộc mạc đó đã góp phần làm phong phú hơn vốn từ vựng tiếng Việt của chúng ta. Tiêu biểu có các từ : ôi, sao, ơi, mà,…
“Ôi sương trắng phủ màu tang trên nấm mộ”
” Hỡi ơi chiếc lá vàng bay vật vờ trong gió lạnh” (Lắng tiếng chuông ngân)
“Chớ cô bác nghĩ coi từ làng trên xóm dưới ai ai lại chẳng biết tên thầy Tư làm pháp sư đã bốn năm trời”(Pháp sư giải nghệ)
” Trời ơi! Ta làm vua mà không nghe lời can gián thì bảo sao đám thần dân không hận oán căm thù …”(Trụ Vương thiêu mình)
Nhìn chung, ngữ khí từ và hư từ trong tiếng Việt đã được soạn giả Viễn Châu sử dụng một cách nhuần nhuyễn và rất phong phú. Qua đó, giúp ta phát triển thêm vốn từ vựng mà chúng ta sử dụng hằng ngày trong cuộc sống.
Tóm lại, Ca cổ cải lương vốn là âm nhạc cổ truyền của dân tộc, là món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Nam bộ nói riêng và cả nước nói chung. Ca cổ là môn nghệ thuật chính yếu của dân tộc : có những bài ca rất trữ tình, sâu lắng, ca ngợi quê hương, đất nước; ca ngợi nét đẹp trong tâm hồn của mỗi con người làng quê sông nước Nam bộ cùng tình yêu đôi lứa son sắt, thuỷ chung. Qua đó, giúp ta cảm nhận một cách đầy đủ và sâu sắc miền quê sông nước Nam Bộ, gần gũi và gắn bó mật thiết hơn trong sự niềm nở tiếp đón của người dân bản xứ. Tính cách và tấm lòng chơn chất, thật thà ấy của họ sẽ mãi mãi được ghi khắc không chỉ trong lời ca điệu hát của soạn giả – Nghệ sĩ ưu tú Viễn Châu mà sẽ khắc sâu trong trái tim của mỗi con người – nhất là người dân Nam bộ.

Bài Viết Cùng Chủ Đề

© 2015 Hai Lúa Miền Tây | Design by Tùng Phạm
| Design by Tùng Phạm.