Bài Viết Mới

Hiển thị các bài đăng có nhãn ẩm thực miền tây. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ẩm thực miền tây. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2015

Tuy chỉ là một loại cỏ nhưng cỏ nến hay còn gọi là cây bồn bồn đã khẳng định được ví trí của mình trong đời sống và kinh tế của người dân Cà Mau, đặc biệt ĐBSCL.
Bồn bồn hiện được trồng nhiều ở Cà Mau
Bồn bồn là loại thực vật sống vùng đất ngập nước, phát triển trong ao hồ hoặc mé sông, nơi có dòng chảy chậm, có khả năng chịu phèn mặn, có khả năng chịu ngập sâu đến 1 m.Được xem là cây dại mọc hoang nhưng những năm gần đây người dân Hậu Giang, Sóc Trăng, Cà Mau và Bạc Liêu đã trồng bồn bồn trong ao nuôi tôm, cá nước ngọt.

Trước đây, ở Cái Nước, Cà Mau, cây bồn bồn khá hiếm vì toàn diện tích được trồng lúa hai vụ. Từ sau năm 2000, khi chuyển dịch sang nuôi tôm, loài cây này mới được trồng lại. Trong 6 tháng nước lợ, trên những vuông tôm là bạt ngàn bồn bồn. Cây bồn bồn chỉ hấp thụ dưỡng chất từ trong đất, không cần bón phân thuốc hoá học.
Loại cây này đã góp phần làm tăng thêm thu nhập cho nhiều hộ nông dân
Bắt đầu từ tháng 5, khi mùa mưa ở miền Tây bắt đầu thì bồn bồn tươi tốt. Từ thời điểm này đến hết mùa mưa, nông dân miền Tây chăm bón cho ruộng bồn bồn để thường xuyên thu hoạch cọng non.
Bồn bồn nổi tiếng với nhiều món ăn như dưa bồn bồn, bồn bồn nhúng lẩu, canh chua, bồn bồn xào tôm, làm gỏi, thậm chí có thể ăn sống.
Món ăn từ cây bồn bồn đã có mặt trong thực đơn nhà hàng, như một đặc sản Miền Tây
Bồn bồn nhổ từ ao đầm mang về chặt bỏ phần lá dài, giữ lại từ gốc lên khoảng 30-35cm rồi sau đó tách ra lấy lõi non bên trong. Ngâm nước vo gạo với ít muối, sau 1 tuần là ăn được. .
Dưa bồn bồn là loại đặc trưng đã làm nên thương hiệu của vùng đất Cà Mau, không lẫn vào các loại dưa khác.
Dưa bồn bồn là một món ăn có vị chua giòn, khá đưa cơm
Nếu bạn có dịp về Cà Mau, theo Quốc lộ 1, đoạn xã Tân Hưng Ðông, huyện Cái Nước sẽ thấy hai bên đường có những mái chòi bằng lá. Ðó là những căn chòi được người dân dựng lên để bán bồn bồn.
 Dưa bồn bồn ăn ngon khi kèm với mắm ruốc Cà Mau hay ăn cùng cá kho tộ hay thịt heo kho tàu, vị bồn bồn chua nhẹ, ngon giòn. Món ăn này hiện không thể thiếu trong các nhà hàng miền Tây vì được xem là đặc sản của vùng đất Nam Bộ.
hương vị miền tây

Cây bồn bồn – Đặc sản đất Cà Mau

Tùng Phạm  |  at  18:48

Tuy chỉ là một loại cỏ nhưng cỏ nến hay còn gọi là cây bồn bồn đã khẳng định được ví trí của mình trong đời sống và kinh tế của người dân Cà Mau, đặc biệt ĐBSCL.
Bồn bồn hiện được trồng nhiều ở Cà Mau
Bồn bồn là loại thực vật sống vùng đất ngập nước, phát triển trong ao hồ hoặc mé sông, nơi có dòng chảy chậm, có khả năng chịu phèn mặn, có khả năng chịu ngập sâu đến 1 m.Được xem là cây dại mọc hoang nhưng những năm gần đây người dân Hậu Giang, Sóc Trăng, Cà Mau và Bạc Liêu đã trồng bồn bồn trong ao nuôi tôm, cá nước ngọt.

Trước đây, ở Cái Nước, Cà Mau, cây bồn bồn khá hiếm vì toàn diện tích được trồng lúa hai vụ. Từ sau năm 2000, khi chuyển dịch sang nuôi tôm, loài cây này mới được trồng lại. Trong 6 tháng nước lợ, trên những vuông tôm là bạt ngàn bồn bồn. Cây bồn bồn chỉ hấp thụ dưỡng chất từ trong đất, không cần bón phân thuốc hoá học.
Loại cây này đã góp phần làm tăng thêm thu nhập cho nhiều hộ nông dân
Bắt đầu từ tháng 5, khi mùa mưa ở miền Tây bắt đầu thì bồn bồn tươi tốt. Từ thời điểm này đến hết mùa mưa, nông dân miền Tây chăm bón cho ruộng bồn bồn để thường xuyên thu hoạch cọng non.
Bồn bồn nổi tiếng với nhiều món ăn như dưa bồn bồn, bồn bồn nhúng lẩu, canh chua, bồn bồn xào tôm, làm gỏi, thậm chí có thể ăn sống.
Món ăn từ cây bồn bồn đã có mặt trong thực đơn nhà hàng, như một đặc sản Miền Tây
Bồn bồn nhổ từ ao đầm mang về chặt bỏ phần lá dài, giữ lại từ gốc lên khoảng 30-35cm rồi sau đó tách ra lấy lõi non bên trong. Ngâm nước vo gạo với ít muối, sau 1 tuần là ăn được. .
Dưa bồn bồn là loại đặc trưng đã làm nên thương hiệu của vùng đất Cà Mau, không lẫn vào các loại dưa khác.
Dưa bồn bồn là một món ăn có vị chua giòn, khá đưa cơm
Nếu bạn có dịp về Cà Mau, theo Quốc lộ 1, đoạn xã Tân Hưng Ðông, huyện Cái Nước sẽ thấy hai bên đường có những mái chòi bằng lá. Ðó là những căn chòi được người dân dựng lên để bán bồn bồn.
 Dưa bồn bồn ăn ngon khi kèm với mắm ruốc Cà Mau hay ăn cùng cá kho tộ hay thịt heo kho tàu, vị bồn bồn chua nhẹ, ngon giòn. Món ăn này hiện không thể thiếu trong các nhà hàng miền Tây vì được xem là đặc sản của vùng đất Nam Bộ.

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2015

 Kẹo chuối là loại kẹo thường dùng trong dịp tết, đối với một số gia đình ở nông thôn, loại kẹo này còn dùng đãi khách trong lễ giỗ hay đám cưới..
Kẹo chuối là loại đẹo được dùng khá nhiều ở nông thôn vào dịp tết
Trời cuối năm se lạnh làm những đứa con xa quê như tôi càng cảm thấy nhớ nhà một cách da diết, nhớ nồi bánh tét mẹ nấu, nhớ món kẹo mà mẹ làm vào dịp cuối năm để đãi khách và để anh em chúng tôi nhâm nhi trong những ngày tết về.
Đó là kẹo chuối, kẹo chuối được làm từ chuối xiêm chín, do ba tôi trồng, đây là một loại kẹo dân dã dẻo dẻo, dai dai, có hương vị đặc biệt của chuối khô, vị béo của dừa, bùi của đậu phộng, mè rang…  có nhiều cách để làm loại kẹo này, ngày nay nhiều người dùng chuối xiêm chín quết hoặc xay thật nhuyễn cùng một số nguyên liệu khác rồi khuấy trên bếp. Cách này sẽ tiết kiệm thời gian và công sức hơn nhiều.
 Dù mất khá nhiều thời gian cho công đoạn phơi chuối nhưng mẹ tôi thì vẫn làm theo cách truyền thống là dùng chuối phơi khô, chắc có lẽ vì làm cách này không những anh em chúng tôi được ăn kẹo mà còn được ăn cả chuối phơi khô
Chuối xiêm chín mẹ tôi đem ép mỏng rồi phơi nắng, phải chọn hôm nào nắng thật ngon mới ép chuối, nếu không chuối sẽ bị hư, phơi liên tục hai ba hôm để chuối thật khô, miếng chuối vàng ươm trong thật ngon lành.
Miếng chuối ép phơi khô vàng ươm
Nguyên liệu để thực hiệm món này gồm
1kg chuối xiêm chín đã phơi khô cắt thành từng sợi nhuyễn
Tùy vào sở thích ăn ngọt của mỗi người mà gia giảm lượng đường thích hợp, nhưng thường 1kg tương đương 1,2kg đường mía
1 trái dừa khô
Mè, gừng tươi cắt sợi, đậu phộng, một trái khóm (cũng có thể là nước cốt me chín, chanh)
Chế biến món này cần một chiếc chảo to, diện tích chảo rộng sẽ hấp thu nhiệt điều hơn và cũng dễ khèo chuối hơn.
Khèo chuối với lửa nhỏ
Đặt chảo lên bếp, cho đường nước cốt dừa vào chảo, chỉ vắt ít nước cốt dừa thôi vì nhiều nước sẽ mất độ béo. Sau khi đường tan và sôi vài bận thì cho khóm đã cắt nhuyễn, gừng và chuối  vào chung. Lý do để khóm vào vì chất chua của khóm sẽ giúp không làm lợi đường, xào liên tục và đều tay trên bếp và cho nhỏ lửa để tránh bị khét.
Tùy vào sở thích của từng người mà xào lâu hay mau, thích ăn kẹo hơi mềm thì xào đến khi nào cảm thấy nặng tay chuối có độ dẻo, dính lại là được, còn muốn ăn kẹo chuối dẻo hơn, thì xào lâu một chút và chuối chuyển sang màu nâu đen. Càng xào lâu thì kẹo càng dẻo.
Xào đến khi cảm thấy ưng ý thì cho chảo ra khỏi bếp, tiếp đó cho vani, đậu phộng rang sẳn làm sạch, và mè đã rang vàng vào.
Nguyên liệu làm kẹo là chuối xiêm
Dùng nilon trải ra mâm có thoa dầu để chuối không bi dính, sau đó cho chuối vào, cho vani, đậu, mè rang sẳn rắc lên mặt chuối để tạo độ béo và thơm, thêm một lớp nilon cũng có thoa dầu ở trên, tùy vào ý thích của mỗi người mà cán ra dày hay mỏng. Phải đợi chuối thật nguội rồi dùng dao cắt ra từng miếng vừa ăn.
Sau khi cắt kẹo ra từng miếng nên dùng giấy kiếng hay túi nilon loại gói kẹo cắt ra từng miếng  để gói từng viên kẹo. Cách làm này sẽ mất khá nhiều công phu nhưng đổi lại kẹo sẽ được giữ lâu hơn, trong đẹp mắt và vệ sinh hơn nhiều. Đây là giai đoạn mà tôi thích nhất vì đây là lúc tôi phụ mẹ nhiều nhất.
Chiều tối, hai mẹ con loay hoay gói từng viên kẹo một bên ngọn đèn dầu, gói kẹo thoạt nhìn công việc nhàm chán nhưng với tui lại rất thích thú vì sau mỗi lần gói viên kẹo lại trông đẹp hơn.
Công việc gói kẹo chuối cũng khá thú vị đấy
Nếu người Bắc có thói quen nấu nồi bánh Trưng vào dịp tết thì nhà tôi có thói quen làm kẹo chuối vào dịp cuối năm. Đây là một loại kẹo không những mang hương vị đặt trưng và quen thuộc với người Nam Bộ mà còn đặc biệt hơn là do chính tay mẹ làm.
Ngày tết sum họp gia đình, chuyện trò vui vẻ, ăn một miếng kẹo chuối rồi uống một tách trà nóng, tinh thần thật sản khoái, thú vị và ấm lòng biết bao.

món ngon ngày tết

Kẹo chuối – Kẹo của ngày tết sum vầy

Tùng Phạm  |  at  02:44

 Kẹo chuối là loại kẹo thường dùng trong dịp tết, đối với một số gia đình ở nông thôn, loại kẹo này còn dùng đãi khách trong lễ giỗ hay đám cưới..
Kẹo chuối là loại đẹo được dùng khá nhiều ở nông thôn vào dịp tết
Trời cuối năm se lạnh làm những đứa con xa quê như tôi càng cảm thấy nhớ nhà một cách da diết, nhớ nồi bánh tét mẹ nấu, nhớ món kẹo mà mẹ làm vào dịp cuối năm để đãi khách và để anh em chúng tôi nhâm nhi trong những ngày tết về.
Đó là kẹo chuối, kẹo chuối được làm từ chuối xiêm chín, do ba tôi trồng, đây là một loại kẹo dân dã dẻo dẻo, dai dai, có hương vị đặc biệt của chuối khô, vị béo của dừa, bùi của đậu phộng, mè rang…  có nhiều cách để làm loại kẹo này, ngày nay nhiều người dùng chuối xiêm chín quết hoặc xay thật nhuyễn cùng một số nguyên liệu khác rồi khuấy trên bếp. Cách này sẽ tiết kiệm thời gian và công sức hơn nhiều.
 Dù mất khá nhiều thời gian cho công đoạn phơi chuối nhưng mẹ tôi thì vẫn làm theo cách truyền thống là dùng chuối phơi khô, chắc có lẽ vì làm cách này không những anh em chúng tôi được ăn kẹo mà còn được ăn cả chuối phơi khô
Chuối xiêm chín mẹ tôi đem ép mỏng rồi phơi nắng, phải chọn hôm nào nắng thật ngon mới ép chuối, nếu không chuối sẽ bị hư, phơi liên tục hai ba hôm để chuối thật khô, miếng chuối vàng ươm trong thật ngon lành.
Miếng chuối ép phơi khô vàng ươm
Nguyên liệu để thực hiệm món này gồm
1kg chuối xiêm chín đã phơi khô cắt thành từng sợi nhuyễn
Tùy vào sở thích ăn ngọt của mỗi người mà gia giảm lượng đường thích hợp, nhưng thường 1kg tương đương 1,2kg đường mía
1 trái dừa khô
Mè, gừng tươi cắt sợi, đậu phộng, một trái khóm (cũng có thể là nước cốt me chín, chanh)
Chế biến món này cần một chiếc chảo to, diện tích chảo rộng sẽ hấp thu nhiệt điều hơn và cũng dễ khèo chuối hơn.
Khèo chuối với lửa nhỏ
Đặt chảo lên bếp, cho đường nước cốt dừa vào chảo, chỉ vắt ít nước cốt dừa thôi vì nhiều nước sẽ mất độ béo. Sau khi đường tan và sôi vài bận thì cho khóm đã cắt nhuyễn, gừng và chuối  vào chung. Lý do để khóm vào vì chất chua của khóm sẽ giúp không làm lợi đường, xào liên tục và đều tay trên bếp và cho nhỏ lửa để tránh bị khét.
Tùy vào sở thích của từng người mà xào lâu hay mau, thích ăn kẹo hơi mềm thì xào đến khi nào cảm thấy nặng tay chuối có độ dẻo, dính lại là được, còn muốn ăn kẹo chuối dẻo hơn, thì xào lâu một chút và chuối chuyển sang màu nâu đen. Càng xào lâu thì kẹo càng dẻo.
Xào đến khi cảm thấy ưng ý thì cho chảo ra khỏi bếp, tiếp đó cho vani, đậu phộng rang sẳn làm sạch, và mè đã rang vàng vào.
Nguyên liệu làm kẹo là chuối xiêm
Dùng nilon trải ra mâm có thoa dầu để chuối không bi dính, sau đó cho chuối vào, cho vani, đậu, mè rang sẳn rắc lên mặt chuối để tạo độ béo và thơm, thêm một lớp nilon cũng có thoa dầu ở trên, tùy vào ý thích của mỗi người mà cán ra dày hay mỏng. Phải đợi chuối thật nguội rồi dùng dao cắt ra từng miếng vừa ăn.
Sau khi cắt kẹo ra từng miếng nên dùng giấy kiếng hay túi nilon loại gói kẹo cắt ra từng miếng  để gói từng viên kẹo. Cách làm này sẽ mất khá nhiều công phu nhưng đổi lại kẹo sẽ được giữ lâu hơn, trong đẹp mắt và vệ sinh hơn nhiều. Đây là giai đoạn mà tôi thích nhất vì đây là lúc tôi phụ mẹ nhiều nhất.
Chiều tối, hai mẹ con loay hoay gói từng viên kẹo một bên ngọn đèn dầu, gói kẹo thoạt nhìn công việc nhàm chán nhưng với tui lại rất thích thú vì sau mỗi lần gói viên kẹo lại trông đẹp hơn.
Công việc gói kẹo chuối cũng khá thú vị đấy
Nếu người Bắc có thói quen nấu nồi bánh Trưng vào dịp tết thì nhà tôi có thói quen làm kẹo chuối vào dịp cuối năm. Đây là một loại kẹo không những mang hương vị đặt trưng và quen thuộc với người Nam Bộ mà còn đặc biệt hơn là do chính tay mẹ làm.
Ngày tết sum họp gia đình, chuyện trò vui vẻ, ăn một miếng kẹo chuối rồi uống một tách trà nóng, tinh thần thật sản khoái, thú vị và ấm lòng biết bao.

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

Các món ăn từ lươn đã trở nên khá quen thuộc với những người con của vùng Nam Bộ, tuy nhiên canh chua lươn nấu trứng kiến còn lạ lẫm với nhiều người.
Canh chua lươn nấu trứng kiến
Tạm bỏ qua cách nấu lươn quen thuộc, người dân vùng Đồng Tháp Mười đã đem lươn nấu với trứng kiến tạo nên một món ngon lạ, mang đến cảm giác thú vị cho người thưởng thức.
Lươn đồng vào mùa con nào cũng mập tròn, da căng bóng mẩy. Người đồng bằng chế biến lươn với đủ cách và đã đem lại tiếng tăm cho món um, lươn xào lăn, dồi lươn, lươn nướng nồi đất, lẩu lươn… Món nào cũng làm tốn cơm của mấy bà nội trợ, hao rượu của dân chai lọ. Thế nhưng, ở vùng Đồng Tháp Mười, còn một món lạ đó là canh chua lươn trứng kiến.
Nói về món ăn này, người ta thêu dệt rằng trước đây, cứ vào mùa lũ, lươn cá đầy đồng, chất đạm không thiếu nhưng rau cỏ ngày càng hiếm. Nấu canh chua lươn có vài cọng rau muống đã quý rồi, tìm được ít lá me non dằn cho nồi canh chua ra nét nhưng vẫn còn thiếu. Trong khi loay hoay tìm thêm chất chua bổ sung thì mấy tổ kiến vàng trên mấy cây xoài, gốc mận trong vườn bày ra trước mắt gợi ý cho một món ăn mới ra đời.
Tìm tổ kiến để nấu canh chua phải chú ý, tổ kiến sau khi kết xong sẽ có lớp màng trắng liên kết các lá với nhau, khi nào lớp màng trắng phủ đều ngoài lá thì bên trong tổ kiến chúa đã đẻ được khá nhiều trứng rồi. Lá cây làm tổ còn tươi mới xanh đậm, lúc này trứng kiến còn mới mọng sữa căng tròn, như vậy trứng mới ngon không lẫn nhiều kiến con đã nở.
 Mỗi nồi canh chua lươn bốn người ăn dùng hai tổ kiến vàng là dư dả. Tổ trứng kiến vừa thọc mang về để chỗ nắng, kiến không ưa nắng nên trong chốc lát chạy biến chỉ còn để lại đám trứng nhỏ như hạt gạo trắng ngà.
Lươn lựa con cỡ nửa cườm tay làm sạch. Đợi nước sôi cho nguyên con vào nồi nấu vài dạo, trút rau muống vào, thêm lá me non, nêm mắm muối cho vừa ăn, bắc nồi khỏi bếp. Lựa đám trứng kiến bị giập, bóp nát cho ra sữa rồi cho vào nồi cùng lúc với đám trứng nguyên. Gặp nóng, từng cái trứng se mặt rồi căng phồng lên, nước canh hơi đục màu trắng của sữa từ trứng kiến được bóp nát cũng bắt đầu dậy mùi.
 Múc muỗng canh nóng hổi có nhúm trứng kiến húp từ từ, những cái trứng nhỏ xíu như hạt gạo lạo xạo trong lưỡi thật thú vị. Trứng vỡ lụp bụp mùi thơm, vị béo bùi, vị chua hăng của trứng kiến hoà với vị chua của lá me non, vị ngọt thịt lươn làm thành một hương vị độc đáo, hoang sơ dân dã, mà vẫn thanh nhã nhẹ nhàng.
Ăn canh chua lươn trứng kiến phải thong dong thì mới thấy hết hương vị của món ăn, mới thấy sự tài tình khéo léo của người xưa biết tận dụng những gì mà thiên nhiên ban tặng.
Nếu có dịp về đất Đồng Tháp Mười hãy thưởng thức canh chua lươn nấu trứng kiến nổi tiếng này với vị béo ngậy, chua chua và giàu chất bổ dưỡng.

món ăn từ trứng kiến

Lạ miệng với canh chua lươn nấu trứng kiến

Tùng Phạm  |  at  23:37

Các món ăn từ lươn đã trở nên khá quen thuộc với những người con của vùng Nam Bộ, tuy nhiên canh chua lươn nấu trứng kiến còn lạ lẫm với nhiều người.
Canh chua lươn nấu trứng kiến
Tạm bỏ qua cách nấu lươn quen thuộc, người dân vùng Đồng Tháp Mười đã đem lươn nấu với trứng kiến tạo nên một món ngon lạ, mang đến cảm giác thú vị cho người thưởng thức.
Lươn đồng vào mùa con nào cũng mập tròn, da căng bóng mẩy. Người đồng bằng chế biến lươn với đủ cách và đã đem lại tiếng tăm cho món um, lươn xào lăn, dồi lươn, lươn nướng nồi đất, lẩu lươn… Món nào cũng làm tốn cơm của mấy bà nội trợ, hao rượu của dân chai lọ. Thế nhưng, ở vùng Đồng Tháp Mười, còn một món lạ đó là canh chua lươn trứng kiến.
Nói về món ăn này, người ta thêu dệt rằng trước đây, cứ vào mùa lũ, lươn cá đầy đồng, chất đạm không thiếu nhưng rau cỏ ngày càng hiếm. Nấu canh chua lươn có vài cọng rau muống đã quý rồi, tìm được ít lá me non dằn cho nồi canh chua ra nét nhưng vẫn còn thiếu. Trong khi loay hoay tìm thêm chất chua bổ sung thì mấy tổ kiến vàng trên mấy cây xoài, gốc mận trong vườn bày ra trước mắt gợi ý cho một món ăn mới ra đời.
Tìm tổ kiến để nấu canh chua phải chú ý, tổ kiến sau khi kết xong sẽ có lớp màng trắng liên kết các lá với nhau, khi nào lớp màng trắng phủ đều ngoài lá thì bên trong tổ kiến chúa đã đẻ được khá nhiều trứng rồi. Lá cây làm tổ còn tươi mới xanh đậm, lúc này trứng kiến còn mới mọng sữa căng tròn, như vậy trứng mới ngon không lẫn nhiều kiến con đã nở.
 Mỗi nồi canh chua lươn bốn người ăn dùng hai tổ kiến vàng là dư dả. Tổ trứng kiến vừa thọc mang về để chỗ nắng, kiến không ưa nắng nên trong chốc lát chạy biến chỉ còn để lại đám trứng nhỏ như hạt gạo trắng ngà.
Lươn lựa con cỡ nửa cườm tay làm sạch. Đợi nước sôi cho nguyên con vào nồi nấu vài dạo, trút rau muống vào, thêm lá me non, nêm mắm muối cho vừa ăn, bắc nồi khỏi bếp. Lựa đám trứng kiến bị giập, bóp nát cho ra sữa rồi cho vào nồi cùng lúc với đám trứng nguyên. Gặp nóng, từng cái trứng se mặt rồi căng phồng lên, nước canh hơi đục màu trắng của sữa từ trứng kiến được bóp nát cũng bắt đầu dậy mùi.
 Múc muỗng canh nóng hổi có nhúm trứng kiến húp từ từ, những cái trứng nhỏ xíu như hạt gạo lạo xạo trong lưỡi thật thú vị. Trứng vỡ lụp bụp mùi thơm, vị béo bùi, vị chua hăng của trứng kiến hoà với vị chua của lá me non, vị ngọt thịt lươn làm thành một hương vị độc đáo, hoang sơ dân dã, mà vẫn thanh nhã nhẹ nhàng.
Ăn canh chua lươn trứng kiến phải thong dong thì mới thấy hết hương vị của món ăn, mới thấy sự tài tình khéo léo của người xưa biết tận dụng những gì mà thiên nhiên ban tặng.
Nếu có dịp về đất Đồng Tháp Mười hãy thưởng thức canh chua lươn nấu trứng kiến nổi tiếng này với vị béo ngậy, chua chua và giàu chất bổ dưỡng.

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Cá lưỡi trâu sầu ai méo miệng. 
Cá trèn bầu nhiều chuyện trớt môi
Chắc tại cá trèn là giống thích ngao du, có loại hàm dưới dài hơn hàm trên nên bị vu oan là thứ… nhiều chuyện. Song cá trèn có công hùn vốn cho những bữa ăn bình dân đến tiệc sang trọng thêm thăng hoa.
Cá trèn là một trong những loại cá ngon ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Hàng năm, cứ theo mùa nước lũ, cá trèn ở Biển hồ Campuchia lại xuôi dòng Mê Kông về hạ nguồn Đồng Bằng Sông Cửu Long sinh sôi phát triển. Tùy theo hình dáng,  kích cỡ và trọng lượng, cá trèn có những tên gọi khác nhau: cá trèn lá, trèn mỡ, trèn kết (cá kết), trèn bầu… nhưng ngon nhất lại là trèn bầu (gọi là cá trèn bầu vì cá có một cái bầu phía trước bụng.), bởi cá thịt nhiều, ngon ngọt, ít xương. Ngoài 2 cục thịt nạc gù trên sống lưng, còn phải kể đến phần bụng béo ngậy của cá.
Cá trèn có thể chế biến nhiều món ngon. Nếu là cá trèn lá (nhỏ con, mình dẹp, ít thịt) thì làm mắm hay lăn bột chiên, giầm nước mắm tỏi ớt; những con lớn hơn như trèn kết, trèn bầu thì làm khô hay kho mắm (kho lạt), kho nghệ, kho tiêu…
Cá trèn lớn hoặc cá trèn bầu đem kho thì rất tuyệt. Có thể kho với rau răm như kho cá kèo hay kho với tóp mỡ để có vị béo thơm, cũng có người chỉ kho với nước mắm, sang thì cho chút thịt bằm… Cá trèn bầu ngon nhất chính là cái bầu (cái nọng) của nó, thịt nhiều, béo ngậy. Người ta còn có cá kho tộ rắc thêm nhiều hành, tiêu lên trên. Món này ăn với cơm gạo nàng hương chợ Đào thì ngon hết ý.
hương vị miền tây

Cá Trèn Bầu Kho

Tùng Phạm  |  at  19:55

Cá lưỡi trâu sầu ai méo miệng. 
Cá trèn bầu nhiều chuyện trớt môi
Chắc tại cá trèn là giống thích ngao du, có loại hàm dưới dài hơn hàm trên nên bị vu oan là thứ… nhiều chuyện. Song cá trèn có công hùn vốn cho những bữa ăn bình dân đến tiệc sang trọng thêm thăng hoa.
Cá trèn là một trong những loại cá ngon ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Hàng năm, cứ theo mùa nước lũ, cá trèn ở Biển hồ Campuchia lại xuôi dòng Mê Kông về hạ nguồn Đồng Bằng Sông Cửu Long sinh sôi phát triển. Tùy theo hình dáng,  kích cỡ và trọng lượng, cá trèn có những tên gọi khác nhau: cá trèn lá, trèn mỡ, trèn kết (cá kết), trèn bầu… nhưng ngon nhất lại là trèn bầu (gọi là cá trèn bầu vì cá có một cái bầu phía trước bụng.), bởi cá thịt nhiều, ngon ngọt, ít xương. Ngoài 2 cục thịt nạc gù trên sống lưng, còn phải kể đến phần bụng béo ngậy của cá.
Cá trèn có thể chế biến nhiều món ngon. Nếu là cá trèn lá (nhỏ con, mình dẹp, ít thịt) thì làm mắm hay lăn bột chiên, giầm nước mắm tỏi ớt; những con lớn hơn như trèn kết, trèn bầu thì làm khô hay kho mắm (kho lạt), kho nghệ, kho tiêu…
Cá trèn lớn hoặc cá trèn bầu đem kho thì rất tuyệt. Có thể kho với rau răm như kho cá kèo hay kho với tóp mỡ để có vị béo thơm, cũng có người chỉ kho với nước mắm, sang thì cho chút thịt bằm… Cá trèn bầu ngon nhất chính là cái bầu (cái nọng) của nó, thịt nhiều, béo ngậy. Người ta còn có cá kho tộ rắc thêm nhiều hành, tiêu lên trên. Món này ăn với cơm gạo nàng hương chợ Đào thì ngon hết ý.

Người dân quê Miền Tây không ai lạ gì câu hát ru em ngọt ngào mà sâu lắng: “Anh cầm câu, anh giựt năm bảy con cá lòng tong/ Thương em nát gan, nát ruột, lại nát tấm lòng/ Thấy em ở bạc trong lòng anh hết thương“.
Cá lòng tong là loại cá nước ngọt, sống ở sông và những con mương nhỏ. Cá rất háu ăn nên nhà nào có sàn nước thông ra mương là y như rằng, cá tụ ở đó để đớp mồi.
Mặt nước cứ xao động vì cá lên ăn móng. Bọn trẻ chặt tre làm cần câu, vùi mình vào thú vui thôn dã. Thẩy lưỡi câu vừa chạm mặt nước, giật lên con cá cỡ ngón tay út , thuôn dẹp, vảy bạc lấp lánh giãy giụa trong nắng trời. Thẩy câu, giật câu, bắt cá lia lịa.
Cá lòng tong có thể chế biến nhiều món, nhưng ngon nhất và nổi tiếng nhất là cá lòng tong kho tiêu trong ơ đất với tóp mỡ.
-Cá lòng tong được lựa sạch, dùng dao nhỏ làm sạch vảy, cắt bỏ đầu và đuôi, moi ruột xát muối rồi xả nước vài lần, để ráo.
-Ướp cá với bột ngọt, đường, tiêu, nước màu dừa và một ít nước mắm loại ngon, ít tóp mỡ heo đã thắng, tiêu xay nhuyễn cho đủ độ cay. Xốc nhẹ cho các trộn đều gia vị rồi để từ 30 phút đến 1 tiếng cho cá ngấm hoàn toàn gia vị.
-Bắt nồi cá (nồi đất) lên bếp than kho. Với sức nóng trầm từ than hồng. Nồi cá kho sôi lên, nêm lại cho vừa miệng rồi tiếp tục kho cho đến khi nước gần cạn.
-Tắt bếp, rắc một ít hạt tiêu vào cá, dọn ra mâm.
Mặt trời ló đọt cây, người ta xúc lon gạo mới nấu cơm. Cơm sôi lại chắc (chắt) nước làm canh. Cả nhà quây quần bên bữa cơm đạm bạc. Cá lòng tong kho tiêu, cơm chan nước cơm chắc vừa dễ ăn, hợp khẩu vị nhiều người.
Không biết có phải vì người ta coi đây là “món ăn của nhà nghèo” hay không, mà dân gian có cách nói ngược đầy ẩn ý thú vị, khi họ đem con cá lòng tong và con tép bạc để so sánh:
Buổi chợ đương đông con cá lòng tong chê lạt.
Buổi chợ tan rồi con tép bạc lại khen ngon.
Lòng tong, cái tên nghe sao quá bọt bèo nhưng khó thể nhạt nhòa đối với nhiều người, nhất là những đứa trẻ lớn lên ở miệt sông nước. Nó gợi nhớ lại những ký ức buồn vui lẫn lộn về những giai đoạn khó khăn trong cuộc sống. Những mái tranh nghèo, buổi cơm chiều bên ơ đất cá lòng tong kho tiêu và đĩa rau tập tàng hái sau vườn nhà, không chỉ là bữa cơm ấm cúng của một gia đình, mà còn thấp thoáng hình bóng đảm đang và khéo léo của người phụ nữ, sự thủy chung hết mình vì chồng con.
lòng tong

Cá Lòng Tong Kho Tiêu

Tùng Phạm  |  at  19:50

Người dân quê Miền Tây không ai lạ gì câu hát ru em ngọt ngào mà sâu lắng: “Anh cầm câu, anh giựt năm bảy con cá lòng tong/ Thương em nát gan, nát ruột, lại nát tấm lòng/ Thấy em ở bạc trong lòng anh hết thương“.
Cá lòng tong là loại cá nước ngọt, sống ở sông và những con mương nhỏ. Cá rất háu ăn nên nhà nào có sàn nước thông ra mương là y như rằng, cá tụ ở đó để đớp mồi.
Mặt nước cứ xao động vì cá lên ăn móng. Bọn trẻ chặt tre làm cần câu, vùi mình vào thú vui thôn dã. Thẩy lưỡi câu vừa chạm mặt nước, giật lên con cá cỡ ngón tay út , thuôn dẹp, vảy bạc lấp lánh giãy giụa trong nắng trời. Thẩy câu, giật câu, bắt cá lia lịa.
Cá lòng tong có thể chế biến nhiều món, nhưng ngon nhất và nổi tiếng nhất là cá lòng tong kho tiêu trong ơ đất với tóp mỡ.
-Cá lòng tong được lựa sạch, dùng dao nhỏ làm sạch vảy, cắt bỏ đầu và đuôi, moi ruột xát muối rồi xả nước vài lần, để ráo.
-Ướp cá với bột ngọt, đường, tiêu, nước màu dừa và một ít nước mắm loại ngon, ít tóp mỡ heo đã thắng, tiêu xay nhuyễn cho đủ độ cay. Xốc nhẹ cho các trộn đều gia vị rồi để từ 30 phút đến 1 tiếng cho cá ngấm hoàn toàn gia vị.
-Bắt nồi cá (nồi đất) lên bếp than kho. Với sức nóng trầm từ than hồng. Nồi cá kho sôi lên, nêm lại cho vừa miệng rồi tiếp tục kho cho đến khi nước gần cạn.
-Tắt bếp, rắc một ít hạt tiêu vào cá, dọn ra mâm.
Mặt trời ló đọt cây, người ta xúc lon gạo mới nấu cơm. Cơm sôi lại chắc (chắt) nước làm canh. Cả nhà quây quần bên bữa cơm đạm bạc. Cá lòng tong kho tiêu, cơm chan nước cơm chắc vừa dễ ăn, hợp khẩu vị nhiều người.
Không biết có phải vì người ta coi đây là “món ăn của nhà nghèo” hay không, mà dân gian có cách nói ngược đầy ẩn ý thú vị, khi họ đem con cá lòng tong và con tép bạc để so sánh:
Buổi chợ đương đông con cá lòng tong chê lạt.
Buổi chợ tan rồi con tép bạc lại khen ngon.
Lòng tong, cái tên nghe sao quá bọt bèo nhưng khó thể nhạt nhòa đối với nhiều người, nhất là những đứa trẻ lớn lên ở miệt sông nước. Nó gợi nhớ lại những ký ức buồn vui lẫn lộn về những giai đoạn khó khăn trong cuộc sống. Những mái tranh nghèo, buổi cơm chiều bên ơ đất cá lòng tong kho tiêu và đĩa rau tập tàng hái sau vườn nhà, không chỉ là bữa cơm ấm cúng của một gia đình, mà còn thấp thoáng hình bóng đảm đang và khéo léo của người phụ nữ, sự thủy chung hết mình vì chồng con.

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

Cá lóc là một loài cá nước ngọt rất phổ biến ở ĐBSCL, được người dân nơi đây chế biến thành nhiều món, như: nấu cháo, kho lạt, kho tiêu, canh chua, muối chiên, chiên tươi, luộc mẻ, hấp hèm…

Món nào cũng khiến thực khách thỏa lòng. Nhưng, với dân sành ăn, món cá lóc hấp bầu mới thật sự hết sẩy!
Trước đây ở miền tây người ta dùng cá lóc hấp với đọt bầu, ăn vừa thơm mùi lá bầu vừa ngọt thịt cá. Sau đó, nhiều người thử hấp với trái bầu xắt miếng, ăn còn tuyệt hơn. Chất ngọt từ thịt cá ngấm vào thịt bầu, cắn miếng nào sướng cái thần khẩu miếng đó. Món này thỏa mãn vị giác người ăn nhưng chưa làm hài lòng thị giác người thưởng thức. Vậy là người ta chế cá lóc hấp bầu thành một món “hoa lá cành” bằng cách hấp cá cùng cả trái bầu được tạo dáng thành “con cá xanh”, rất hoa mỹ.
Cá làm sạch, ướp gia vị rồi cho vào trái bầu một đầu cắt thành đầu cá có điểm mắt hẳn hoi, một đầu khắc thành đuôi cá. Thân bầu khắc vảy, phía trên khoét một lõm để đút nguyên con cá lóc vào rồi đậy miếng bầu khoét ấy lại làm nắp. Đặt nguyên trái bầu lên dĩa hột xoài, cho vào nồi hấp cách thủy. Chẳng bao lâu, cá chín, dọn ra bàn. Dùng đũa dở nắp bầu, lưng cá lóc xuất hiện một cách gọi mời với mùi thơm đặc trưng của gia vị. Vẫn dùng đũa xẻ lưng cá, lớp thịt cá trắng ngần kích thích dịch vị.
Cứ vậy, gắp từng miếng thịt cá chấm nước mắm trong dằm trái ớt hiểm xanh, cho vào miệng. Vị ngọt thịt cá, vị ngọt nước bầu, mùi thơm gia vị cùng vị mặn nước mắm ớt cay xè như lan tỏa khắp người. Thú vị hơn là khi cắn miếng bầu xanh mềm mụp, chất ngọt thịt cá và chất ngọt của bầu lập tức lan khắp mặt lưỡi, sau đó múc một muỗng nước húp vào. Tổng hợp mùi vị ấy như trôi tuột từ đầu lưỡi xuống tận tâm can. Càng ăn, càng nhai, càng húp, như càng đi sâu vào sự mê đắm của ẩm thực Nam bộ. Nhấp thêm chút rượu cay, thực khách sẽ “nhớ đời” món ăn dân dã này.
nấu món ngon

Cá Lóc Hấp Bầu

Tùng Phạm  |  at  23:10

Cá lóc là một loài cá nước ngọt rất phổ biến ở ĐBSCL, được người dân nơi đây chế biến thành nhiều món, như: nấu cháo, kho lạt, kho tiêu, canh chua, muối chiên, chiên tươi, luộc mẻ, hấp hèm…

Món nào cũng khiến thực khách thỏa lòng. Nhưng, với dân sành ăn, món cá lóc hấp bầu mới thật sự hết sẩy!
Trước đây ở miền tây người ta dùng cá lóc hấp với đọt bầu, ăn vừa thơm mùi lá bầu vừa ngọt thịt cá. Sau đó, nhiều người thử hấp với trái bầu xắt miếng, ăn còn tuyệt hơn. Chất ngọt từ thịt cá ngấm vào thịt bầu, cắn miếng nào sướng cái thần khẩu miếng đó. Món này thỏa mãn vị giác người ăn nhưng chưa làm hài lòng thị giác người thưởng thức. Vậy là người ta chế cá lóc hấp bầu thành một món “hoa lá cành” bằng cách hấp cá cùng cả trái bầu được tạo dáng thành “con cá xanh”, rất hoa mỹ.
Cá làm sạch, ướp gia vị rồi cho vào trái bầu một đầu cắt thành đầu cá có điểm mắt hẳn hoi, một đầu khắc thành đuôi cá. Thân bầu khắc vảy, phía trên khoét một lõm để đút nguyên con cá lóc vào rồi đậy miếng bầu khoét ấy lại làm nắp. Đặt nguyên trái bầu lên dĩa hột xoài, cho vào nồi hấp cách thủy. Chẳng bao lâu, cá chín, dọn ra bàn. Dùng đũa dở nắp bầu, lưng cá lóc xuất hiện một cách gọi mời với mùi thơm đặc trưng của gia vị. Vẫn dùng đũa xẻ lưng cá, lớp thịt cá trắng ngần kích thích dịch vị.
Cứ vậy, gắp từng miếng thịt cá chấm nước mắm trong dằm trái ớt hiểm xanh, cho vào miệng. Vị ngọt thịt cá, vị ngọt nước bầu, mùi thơm gia vị cùng vị mặn nước mắm ớt cay xè như lan tỏa khắp người. Thú vị hơn là khi cắn miếng bầu xanh mềm mụp, chất ngọt thịt cá và chất ngọt của bầu lập tức lan khắp mặt lưỡi, sau đó múc một muỗng nước húp vào. Tổng hợp mùi vị ấy như trôi tuột từ đầu lưỡi xuống tận tâm can. Càng ăn, càng nhai, càng húp, như càng đi sâu vào sự mê đắm của ẩm thực Nam bộ. Nhấp thêm chút rượu cay, thực khách sẽ “nhớ đời” món ăn dân dã này.

Bài Viết Cùng Chủ Đề

© 2015 Hai Lúa Miền Tây | Design by Tùng Phạm
| Design by Tùng Phạm.